Tóm tắt: Phương pháp, tác phong công tác giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người cán bộ, đảng viên tuy có tri thức, năng lực, nhiệt tình nhưng nếu thiếu phương pháp, tác phong công tác tốt cũng khó có thể hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao. Thậm chí, do phương pháp, tác phong công tác thiếu khoa học, thiếu dân chủ, xa rời thực tế, quan liêu… mà cán bộ có thể gây ra tổn thất cho Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phương pháp, tác phong công tác của cán bộ vận dụng vào đổi mới phương pháp tác phong công tác của đội ngũ cán bộ quân đội hiện này có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết.
Từ khóa: Phương pháp, tác phong công tác; đổi mới phương pháp, tác phong công tác; phương pháp, tác phong công tác của Hồ Chí Minh.
Summary: Working methods and styles play an important role in the process of performing tasks. Although cadres and party members have knowledge, capacity and enthusiasm, if they lack good working methods and styles, it is difficult to complete their tasks with high quality. Even due to unscientific, undemocratic, unrealistic and bureaucratic working methods and styles, cadres can cause losses to the Party and the State. Therefore, studying the thoughts, ethics and style of President Ho Chi Minh on the working methods and styles of cadres and applying them to the innovation of working methods and styles of the current army cadre team is of important and urgent significance.
Keywords: Working methods and styles; innovation in working methods and styles; Ho Chi Minh's working methods and styles.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên không chỉ là tổng hợp những lề lối, cách thức, biện pháp xử lý công việc, ứng xử xã hội và sử dụng để thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình, mà còn là sự thể hiện quan điểm, lập trường chính trị, tư cách đạo đức, lối sống, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ trong thực tiễn.
Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những di huấn sâu sắc về phương pháp, tác phong công tác của người cán bộ, đảng viên; có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với việc giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của người cán bộ, đảng viên của Đảng trong các giai đoạn cách mạng. Nghiên cứu tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bài viết, bài nói chuyện tiêu biểu của Người, có thể nhận thấy phương pháp, tác phong công tác của người cán bộ, đảng viên được thể hiện trên các nội dung cụ thể như sau:
Một là, nêu cao tính đảng, tính nguyên tắc trong thực hành nhiệm vụ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất hàng đầu của người cán bộ, đảng viên là lòng trung thành với Tổ quốc, với lý tưởng cách mạng của Đảng, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Người chỉ rõ: Làm bất cứ công việc gì, trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên cũng phải luôn xuất phát từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng. “Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết”1; “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và và phải làm đến nơi đến chốn”2; “lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”3. Kiên quyết bảo vệ, ủng hộ cái mới, cái đúng, đấu tranh phê phán cái sai, cái lạc hậu, tiêu cực trong đơn vị. Phương pháp, tác phong công tác này hoàn toàn đối lập với lối làm việc chỉ nhằm phục vụ lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm, quan liêu, xa rời thực tiễn.
Hai là, thực hiện tự phê bình và phê bình. Đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự phê bình và phê bình, nói cách khác là nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Theo Người, phê bình chính là cách “để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”, là để “sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”, đạt tới sự “đoàn kết và thống nhất nội bộ”.
Tư tưởng cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phê bình là “phê bình việc chứ không phải phê bình người”, đồng thời tự phê bình bao giờ cũng gắn với phê bình. Người đã chỉ rõ “Để chữa những bệnh tật kia, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Người đòi hỏi “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”, tức là đưa việc tự phê bình, tự kiểm điểm thành nhu cầu cần thiết thường xuyên, như hành vi tự chăm sóc bản thân của mỗi người.
Ba là, gần gũi, tin tưởng quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt yêu cầu rất cao về tác phong quần chúng, từ việc phải học hỏi quần chúng, lắng nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng... Người căn dặn: “Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được xa rời dân chúng”4. Nếu không cụ thể, sâu sát quần chúng thì đảng viên không thể thấy được, hiểu được nguyện vọng, tâm tư, tình cảm của quần chúng, không thể thuyết phục, thu phục được quần chúng. Do đó, đối với người lãnh đạo phải biết học hỏi quần chúng, biết tập trung tài năng, trí tuệ của quần chúng thành sức mạnh chung, tìm ra được lực lượng, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ; phải biết khơi dậy, phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của quần chúng trong mọi nhiệm vụ được giao.
Bốn là, sâu sát, nắm tình hình thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, người cán bộ, đảng viên phải luôn đi sâu, đi sát thực tiễn, nắm tình hình một cách toàn diện; phải nắm người, nắm việc, nắm các vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân, liên quan đến nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương… một cách cụ thể, chính xác. Theo Người, chỉ có tăng cường quan điểm thực tiễn, khéo đi sâu điều tra nghiên cứu, phân tích và giải quyết đúng mâu thuẫn trong đời sống thực tiễn thì sự lãnh đạo, công tác mới có nội dung, đạt chất lượng, hiệu quả cao. Người luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên “trong lúc học lý luận, phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế”5, có như vậy, lý luận mới có sức mạnh, mới thiết thực.
Năm là, thực hành dân chủ thực sự và rộng rãi. Với việc đưa ra phương pháp, tác phong dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện một sự phủ định tác phong quan liêu, độc đoán, gia trưởng, và dân chủ mới là thước đo phong cách làm việc của cán bộ. Theo Người, có dân chủ thì mới “Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”6. Về tình trạng mất dân chủ nghiêm trọng trong các cơ quan nhà nước, Người chỉ rõ có những cán bộ cấp dưới, những nhân viên, “dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”7. Nguyên nhân của tình trạng mất dân chủ đó là do “cách lãnh đạo của ta không được dân chủ”. Vì vậy, Người đòi hỏi cán bộ lãnh đạo các cấp phải thường xuyên “trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới”8, và “không nên tự tôn, tự đại, mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới”9, tức là phải thực hành dân chủ với tính cách là một chế độ làm việc, một phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên.
Sáu là, nói đi đôi với làm. Vận động, giáo dục, thuyết phục là phương pháp cơ bản, chủ yếu trong công tác vận động quần chúng của Đảng, của người cán bộ. Để thực hiện tốt việc vận động, giáo dục, thuyết phục quần chúng, người cán bộ phải biết dùng chân lý, lẽ phải, bằng hành động gương mẫu của mình để giáo dục, thuyết phục quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”10. Để thực hiện “nói đi đôi với làm”, Người nhấn mạnh cán bộ, đảng viên phải có tính quyết đoán trong công tác, cẩn trọng trong xử lý các tình huống, sáng suốt, công tâm, biết kết hợp ý kiến chỉ đạo của cấp trên với ý kiến tham mưu đề xuất của các bộ phận cùng cấp và cấp dưới, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân. Phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên phải mẫu mực, chính kiến rõ ràng, cụ thể, thái độ chân thành cởi mở, hành động gương mẫu, cương quyết, dứt khoát; kiên quyết chống mọi biểu hiện chủ quan nóng vội, định kiến cá nhân, thể hiện mình là bề trên, là “ông quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Cán bộ, đảng viên phải thực sự là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân.
2. Đổi mới phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ trong Quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp, tác phong công tác của người cán bộ có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn. Vì vậy, đổi mới phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên, vừa là vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay. Đổi mới phương pháp, tác phong công tác của cán bộ là nhằm phát huy tinh thần làm chủ, ý thức trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của mọi người, từ đó nâng cao chất lượng thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội luôn coi trọng đổi mới phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ. Hiện nay, đa số cán bộ luôn đề cao trách nhiệm trong công tác, chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác, gương mẫu chấp hành kỷ luật của Quân đội, quy định đơn vị; có tác phong dân chủ, sâu sát cơ sở, nắm và giải quyết kịp thời những vướng mắc nảy sinh trong thực tế.
Quá trình đổi mới phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, bên cạnh ưu điểm là cơ bản, cũng còn một số hạn chế, khuyết điểm, đó là việc triển khai thực hiện kế hoạch công tác của đơn vị ở một số cán bộ có mặt còn hạn chế, chất lượng thực hiện nhiệm vụ của cán bộ có lúc còn chưa cao. Nhận thức về tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp, tác phong công tác của một số cán bộ chưa đầy đủ nên chưa tạo được chuyển biến mạnh, vững chắc trong thực hiện và chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự giác của cán bộ, đảng viên và tinh thần làm chủ của quần chúng; thiếu sâu sát, nhạy bén trong việc nắm và dự báo tình hình đơn vị, còn biểu hiện thụ động, bất ngờ với các biểu hiện tiêu cực phát sinh dẫn đến các vụ việc vi phạm kỷ luật, hoặc mất an toàn… Vận dụng các quy định, quy chế và đổi mới phương pháp, tác phong công tác của cán bộ có đơn vị chuyển biến chậm; tự phê bình và phê bình ở một số đơn vị chưa thường xuyên, có lúc, có nơi sự đoàn kết, thống nhất chưa cao,... tính chủ động, sáng tạo của một số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ chủ trì còn hạn chế.
Tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, phức tạp đặt ra cho Quân đội ta những khó khăn, thách thức mới, với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng nặng nề. Quán triệt và thực hiện chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong tình hình mới. Muốn vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ theo hướng khoa học, thiết thực, hiệu quả.
Quán triệt, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để đổi mới phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ quân đội trong tình hình hiện nay, cần tập trung vào một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ về phương pháp, tác phong công tác nhằm thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng vị trí, vai trò, nội dung của phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; có thái độ trách nhiệm trong củng cố, nâng cao phương pháp, tác phong công tác và chất lượng, hiệu quả trên các mặt công tác đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn xây dựng đơn vị.
Trên cơ sở phương pháp, tác phong làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với thực tiễn công tác, các cấp ủy đảng thường xuyên có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách sâu sát, khoa học, luôn bám sát các hoạt động nghiệp vụ, chuyên môn của họ. Đồng thời, lấy đó làm cơ sở, căn cứ trong xem xét, đánh giá năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Đa dạng hóa các hình thức, biện pháp bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong quá trình bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt những hình thức, biện pháp cơ bản như: Thông qua hoạt động thực tiễn, các lớp tập huấn, hội thao, hội thi công tác nghiệp vụ, hoạt động của các tổ chức; cấp trên bồi dưỡng cấp dưới; học tập đồng chí, đồng đội; thông qua công tác nhận xét, đánh giá cán bộ; bản thân nghiêm túc, tự giác tu dưỡng, rèn luyện; phải tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi… Đây là những hình thức, biện pháp quan trọng, thiết thực, trực tiếp góp phần đổi mới phương pháp, tác phong công tác khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.
Thứ hai, trang bị hệ thống tri thức tổng hợp, phương pháp tư duy khoa học và năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ. Hệ thống tri thức tổng hợp cần trang bị cho cán bộ bao gồm những tri thức lý luận và tri thức thực tiễn; là sự thống nhất, cân đối giữa kiến thức cơ bản, cơ sở và chuyên ngành. Yêu cầu trang bị hệ thống tri thức cho cán bộ phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, chuyên sâu, thiết thực và cập nhật. Trang bị hệ thống tri thức cho đội ngũ cán bộ phải đặt lên hàng đầu là tri thức khoa học về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành trong họ thế giới quan và phương pháp luận khoa học, có năng lực phân tích, đánh giá đúng tình hình, tổng kết thực tiễn, định ra được những quyết sách, quyết định, giải pháp cho các vấn đề đặt ra trong lĩnh vực công tác của mình một cách phù hợp. Muốn vậy, các đơn vị trong quân đội cần phải tăng cường việc giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; các tri thức khoa học và chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, chỉ huy quản lý cho cán bộ.
Trình độ tổ chức thực tiễn và kết quả công tác là thước đo bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, chỉ huy quản lý. Do đó, cán bộ phải phát huy tiềm năng trí tuệ của mình vào việc tổ chức hoạt động thực tiễn, vào công việc cụ thể. Năng lực tổ chức thực tiễn là khả năng biết thu thập, xử lý thông tin, đánh giá đúng tình hình thực tế, phát hiện kịp thời những vấn đề cần giải quyết; từ đó đề ra được quyết sách kịp thời, có hiệu quả. Năng lực tổ chức thực tiễn còn là sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, sự nhạy cảm, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm trong công tác.
Thứ ba, tiếp tục nâng cao tính đảng, tính nguyên tắc trong đổi mới phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ. Là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết ở đơn vị, cán bộ các cấp khi đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện đều phải đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng lên trên hết; phải luôn bám sát tình hình thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ của Quân đội, của đơn vị để có chủ trương, biện pháp sát đúng, hiệu quả. Đặc biệt, phải luôn đứng trên lập trường giai cấp của Đảng để xem xét, giải quyết các vấn đề trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ, kiên quyết đấu tranh bảo vệ tính nguyên tắc, cái đúng, cái tiến bộ; phê phán, loại bỏ cái sai trái, lạc hậu, những biểu hiện của tư tưởng làm việc cầm chừng, tác phong làm việc hời hợt, thiếu sâu sát và cụ thể; phải thường xuyên rút kinh nghiệm để phát huy những kết quả, ưu điểm đã đạt được và kịp thời khắc phục những khuyết điểm, hạn chế.
Thứ tư, tiếp tục rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cụ thể, sâu sát, có kiểm tra, đôn đốc của đội ngũ cán bộ. Làm việc cụ thể, sâu sát cấp dưới chính là biểu hiện của phương pháp, tác phong công tác khoa học, sát thực tế. Sâu sát đơn vị để nắm vững tình hình, nắm chắc nguyện vọng, khả năng hoạt động của quần chúng, phát hiện những vấn đề cần chỉ đạo, nhằm hoàn thành mọi nhiệm vụ. Người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy không những biết ra mệnh lệnh, chỉ thị đúng đắn, mà còn phải giỏi hướng dẫn biện pháp cho cấp dưới để hoàn thành nhiệm vụ. Bố trí công tác, giao việc cho dưới phải cụ thể rõ ràng, nhưng không làm mất tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới. Sâu sát là phải đến từng đơn vị để tìm hiểu tình hình và qua thực tế để đề xuất chủ trương, biện pháp thực hiện, tìm ra những kinh nghiệm, sáng kiến tốt nhằm bồi dưỡng, bổ sung những chủ trương, biện pháp chưa phù hợp. Cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì cần rèn luyện tác phong cụ thể, nói đi đôi với làm, phải trực tiếp “mắt thấy, tai nghe, chân đi, tay sờ, miệng nói”, hiểu thấu những khó khăn của cấp dưới khi giao nhiệm vụ, luôn luôn quan tâm giúp đỡ cấp dưới giải quyết khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ. Sâu sát không có nghĩa là lúc nào cũng phải có ở cơ sở, lúc nào cũng phải chạy đi mọi nơi, mà vấn đề chủ yếu là khi xuống cơ sở, xuống đơn vị phải có mục đích rõ ràng, nhằm nắm vững tình hình, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội; sâu sát để giúp đỡ quần chúng tiến bộ, tìm mọi cách bồi dưỡng, tạo điều kiện cho quần chúng hành động, định ra chủ trương, kế hoạch cho sát để quần chúng thực hiện, hoàn thành.
Thứ năm, coi trọng nói đi đôi với làm, sự gương mẫu của cán bộ chủ trì các cấp. Trên cơ sở đường lối của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và của cấp mình, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp vừa biết dùng lý lẽ, vừa bằng thực tiễn của đất nước, của Quân đội, của chính đơn vị và bằng hành động nêu gương của bản thân để giáo dục, thuyết phục, động viên bộ đội vượt lên khó khăn, thách thức, giải quyết kịp thời và thành công những vướng mắc, trở ngại nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Phải tránh lối nói suông, “đánh trống, bỏ dùi”, “đầu voi, đuôi chuột”. Phải thực hiện nói đi đôi với làm, nói và làm thống nhất giữ vững các chuẩn mực trong công tác, sinh hoạt để quần chúng tin cậy. Sự nêu gương của cấp ủy và cán bộ chủ trì trong mỗi cơ quan, đơn vị sẽ là tấm gương soi, là mệnh lệnh không lời, nhưng thuyết phục để cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị học tập, noi theo.
Quán triệt tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đổi mới phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải không ngừng học tập, rèn luyện, thường xuyên đổi mới phương pháp, tác phong công tác; vận dụng linh hoạt sáng tạo lý luận gắn với thực tiễn, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng đơn vị trong tình hình mới./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, 2, 3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 307.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr. 278.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr. 311 - 312.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr. 319.
7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr. 283.
8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr. 284.
9. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr. 231.
10. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr. 234.
Lê Thị Thanh Xuân, TS Đoàn Thanh Thủy
Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả