Tóm tắt: Trong bối cảnh kỷ nguyên số hiện nay, chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Do đó, sinh viên - nguồn nhân lực tương lai không chỉ cần trang bị kiến thức chuyên môn mà còn phải sở hữu kỹ năng nghề nghiệp toàn diện, đặc biệt là kỹ năng số để thích ứng với môi trường lao động liên tục biến đổi, đa dạng, toàn cầu hóa và số hóa. Vì vậy, nâng cao kỹ năng số cho sinh viên trong thời kỳ đẩy mạnh chuyển đổi số hiện nay không còn là yếu tố phụ trợ mà đã trở thành một năng lực cốt lõi, góp phần hình thành năng lực làm việc hiệu quả, học tập suốt đời, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Chuyển đổi số; kỹ năng số; nâng cao; sinh viên.
Abstract: In the context of today’s digital era, digital transformation is having a profound impact on all aspects of social life, including education and training. As a result, students, the future workforce, must not only be equipped with professional knowledge but also possess comprehensive career skills, especially digital skills, to adapt to a constantly changing, diverse, globalized, and digitalized working environment. Therefore, enhancing digital skills for students in the current period of accelerated digital transformation is no longer a supplementary factor but has become a core competency, contributing to the development of effective working capacity, lifelong learning, innovation, and international integration.
Keywords: Digital transformation; digital skills; enhancement; students.
Trong bối cảnh hiện nay, kỹ năng số trở thành một nền tảng bắt buộc để sinh viên học tập hiệu quả, thích nghi với môi trường số hóa và hội nhập thị trường lao động toàn cầu. Tuy nhiên, năng lực số của sinh viên Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, biểu hiện ở mức độ sử dụng công nghệ đơn lẻ, thiếu tư duy số, kỹ năng phân tích và làm việc số chuyên sâu. Do đó, việc nâng cao kỹ năng số cho sinh viên - lực lượng trẻ, năng động và nắm giữ tương lai của đất nước là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
1. Thực trạng kỹ năng số của sinh viên và một số vấn đề đặt ra
Thực tế cho thấy, hiện nay sinh viên Việt Nam có mức độ tiếp cận công nghệ thông tin từ rất sớm và với tần suất tương đối cao, tuy nhiên, phần đông sinh viên vẫn còn gặp nhiều hạn chế trong sử dụng kỹ năng số, luôn có sự phân tầng và thiếu hụt rõ rệt giữa khả năng sử dụng công nghệ cơ bản với năng lực làm chủ tư duy số và sáng tạo trong môi trường số. Trong đó, nổi bật là một số vấn đề như:
Thứ nhất, kỹ năng sử dụng công nghệ cơ bản của sinh viên hiện nay tương đối cơ bản nhưng lại thiếu sự chuyên sâu. Sinh viên sử dụng thành thạo Microsoft Word, PowerPoint, Excel, Zoom, Google Meet, các công cụ học trực tuyến phổ thông (Google Classroom, LMS của trường); biết tạo tài khoản, nộp bài tập online, thực hiện các thao tác nộp - nhận tài liệu qua email, Google Drieve… nhưng tất cả những kỹ năng đó chỉ dừng lại ở mức hành chính - tiêu dùng, không phát triển tư duy số hay có những ứng dụng mang tính chất chuyên nghiệp. Sinh viên chưa thể tận dụng Excel để xử lý dữ liệu chuyên sâu (hàm, bảng pivot, biểu đồ động...), thiếu năng lực hệ thống hóa, quản lý thông tin học thuật hoặc lập kế hoạch học tập bằng phần mềm quản trị cá nhân.
Thứ hai, kỹ năng tìm kiếm, đánh giá và xử lý thông tin số, tư duy phản biện số của sinh viên còn nhiều lỗ hổng. Hiện nay, hầu hết sinh viên có thể tìm kiếm thông tin trên Google, Wikipedia, YouTube, mạng xã hội; biết sử dụng Google Scholar hoặc thư viện số khi được hướng dẫn nhưng lại chưa có khả năng đánh giá độ tin cậy của nguồn thông tin, dễ bị dẫn dắt bởi tin giả, tin sai lệch; lười trích dẫn học thuật, không nhận thức rõ về đạo văn (plagiarism), thiếu kỹ năng tóm tắt - phân tích thông tin từ nhiều nguồn…
Thứ ba, kỹ năng giao tiếp và làm việc số của sinh viên hiện nay cho thấy có sự thiếu tổ chức, ngại phối hợp từ xa. Sinh viên có thể sử dụng tốt mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin, có kỹ năng tương tác cơ bản qua email, messenger, zalo; có kinh nghiệm tham gia lớp học trực tuyến, nhóm học tập online nhưng quá trình làm việc nhóm qua mạng thiếu hiệu quả, thường thiếu quy trình tổ chức, phân công, quản lý tiến độ; không biết cách sử dụng các công cụ quản lý dự án số như Trello, Asana, Notion và đặc biệt việc giao tiếp qua email hoặc diễn đàn học thuật còn yếu, thiếu kỹ năng viết email chuyên nghiệp, không hiểu quy tắc văn hóa số.
Thứ tư, với kỹ năng sáng tạo nội dung số, sinh viên còn nhiều hạn chế về tư duy thiết kế, kỹ thuật trình bày. Nhiều sinh viên biết sử dụng Canva, CapCut, TikTok để tạo video đơn giản, bài đăng truyền thông, biết làm slide thuyết trình sinh động nhưng những nội dung số còn mang tính cảm tính, bắt chước, không có chiều sâu về nội dung và bố cục, không biết cách kể chuyện bằng số liệu, hình ảnh hóa thông tin học thuật (infographic, sơ đồ) và dễ dàng nhận thấy sự thiếu hiểu biết về Luật Sở hữu trí tuệ trong môi trường số, dễ vi phạm bản quyền khi sử dụng hình ảnh, âm thanh từ internet.
Thứ năm, mức độ nhận thức về bảo mật và an toàn số của sinh viên hiện nay còn ở mức độ rất thấp. Sinh viên có ý thức đặt mật khẩu cho tài khoản cá nhân, nhưng thường đặt đơn giản, dễ đoán, chỉ một số ít sinh viên sử dụng xác thực 2 lớp (2FA), hoặc quản lý danh tính số cá nhân. Điều này cho thấy, phần đông sinh viên không nhận diện được các mối nguy số học đường: phần mềm độc hại, email giả mạo, lộ dữ liệu cá nhân, chưa hiểu tầm quan trọng của việc không biết về “dấu vết số” và hậu quả của hành vi ứng xử thiếu đạo đức trên mạng xã hội.
Có thể thấy rằng, kỹ năng học tập, phát triển nghề nghiệp trong môi trường số của sinh viện hiện đang thiếu định hướng rõ ràng. Nhiều sinh viên biết đến một số nền tảng học tập mở như Coursera, Udemy, nhưng ít sinh viên hoàn thành trọn khóa học, một số có LinkedIn, nhưng hồ sơ nghèo nàn và không biết phát triển thương hiệu cá nhân số. Sinh viên chưa biết xây dựng danh mục kỹ năng số phù hợp với nghề nghiệp tương lai, thiếu kế hoạch học tập suốt đời qua nền tảng số và không tận dụng được môi trường số như một không gian phát triển bản thân - nghề nghiệp bền vững.
2. Định hướng và giải pháp trong thời gian tới
Một là, xác định việc tích hợp kỹ năng số vào chương trình đào tạo một cách có hệ thống là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, trong đó không dạy kỹ năng số như một học phần riêng lẻ mà tích hợp đa chiều, liên ngành và xuyên suốt. Thiết kế các học phần kỹ năng số từ cơ bản đến kỹ năng số nâng cao như: “Kỹ năng làm việc trong môi trường số”, “Kỹ năng học tập và sáng tạo nội dung số”, “Kỹ năng nghiên cứu, phản biện và truyền thông số”… cùng với đó là việc áp dụng mô hình học tập trải nghiệm: “project-based learning” (học tập kết hợp), “blended learning” (lớp học đảo ngược), “flipped classroom” (học qua dự án)… để rèn kỹ năng qua dự án số hóa thực tế.
Hai là, chú trọng xây dựng khung năng lực số theo chuẩn đầu ra ngành nghề với mục tiêu chuyển đổi kỹ năng số từ “phụ trợ” sang “năng lực cốt lõi” trong chương trình đào tạo. Trong đó, xác định rõ chuẩn đầu ra kỹ năng số cho từng học phần và việc gắn khung kỹ năng số với chuẩn đầu ra nghề nghiệp sẽ là căn cứ để thiết kế học phần, đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo.
Ba là, với mục tiêu hình thành năng lực số bền vững dựa trên đạo đức, nhận thức và hành vi đúng đắn, các cơ sở giáo dục cần có những định hướng cụ thể trong việc phát triển tư duy công dân số và đạo đức số cho sinh viên, với những hành động triển khai cụ thể như: tổ chức các học phần, chuyên đề, tọa đàm về an toàn thông tin cá nhân, trách nhiệm pháp lý trên môi trường mạng hoặc đạo đức học thuật và hành vi số… Từ đó, phát triển kỹ năng nhận diện tin giả, thao túng thông tin, văn hóa ứng xử văn minh trực tuyến, tạo các tình huống mô phỏng, tình huống tranh biện để sinh viên rèn luyện phản xạ đạo đức số.
Bốn là, tập trung nguồn lực để có thể tạo ra môi trường học tập số mở, cá nhân hóa và sáng tạo với việc triển khai hệ thống học liệu số mở (MOOCs, OER, thư viện học liệu số chuyên ngành), tạo điều kiện cho sinh viên xây dựng hồ sơ học tập cá nhân (e-portfolio) thể hiện quá trình học tập số hóa, sản phẩm sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp. Định hướng sinh viên ứng dụng công cụ số (Notion, Miro, Trello, Canva, ChatGPT...) trong quản lý thời gian, tổ chức công việc, thiết kế học liệu cá nhân, thúc đẩy hoạt động sáng tạo nội dung học tập trong môi trường học tập số mở.
Năm là, tăng cường hợp tác ba bên: nhà trường - doanh nghiệp - sinh viên với mục tiêu: đào tạo kỹ năng số gắn với nhu cầu thị trường lao động và thực tiễn nghề nghiệp. Trong đó, xác định rõ, các doanh nghiệp đồng hành cùng nhà trường trong thiết kế khung năng lực, thực tập, cố vấn kỹ năng số, tổ chức các cuộc thi sáng tạo nội dung số, thiết kế ứng dụng học tập... có sự tài trợ, cố vấn từ doanh nghiệp. Chủ động kết nối chuyên gia công nghệ, các nhà tuyển dụng để tổ chức workshop, mô phỏng phỏng vấn kỹ năng số…
Sáu là, hình thành tư duy học tập suốt đời trong môi trường số cho sinh viên, xây dựng năng lực học liên tục, thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Các cơ sở đào tạo cần hướng sinh viên đến việc phát triển kỹ năng lựa chọn - theo dõi - hoàn thành khóa học trực tuyến chất lượng. Hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch kỹ năng số cá nhân và đánh giá kỹ năng số theo định kỳ (06 tháng hoặc mỗi học kỳ) để có thể đưa ra phản hồi, điều chỉnh lộ trình học tập cho phù hợp, hiệu quả. Có thể thấy rằng phát triển kỹ năng số cho sinh viên không phải là việc “truyền công cụ”, mà là “huấn luyện tư duy và hành vi số”. Do đó, việc chuyển từ mô hình đào tạo tập trung vào “kiến thức chuyên môn” sang mô hình “năng lực tổng hợp” - trong đó kỹ năng số là trục xuyên suốt, liên ngành và phát triển bền vững là vô cùng cần thiết. Vì vậy, cần thực hiện những giải pháp mang tính đồng bộ và thiết thực sau:
Về phía các cơ sở giáo dục đại học
Nhà trường và các cơ sở giáo dục đại học cần có nhận thức đúng đắn về việc phát triển kỹ năng số cho sinh viên trong thời đại hiện nay. Chủ động tích hợp kỹ năng số vào chương trình chính khóa và kỹ năng bổ trợ theo ngành học, đặc biệt trong các môn học liên quan đến công nghệ, truyền thông, quản trị... Xây dựng bộ tiêu chuẩn, khung năng lực số chuẩn đầu ra đối với sinh viên, đồng thời tổ chức thường xuyên các khóa đào tạo, workshop thực hành kỹ năng số như thao tác phần mềm, bảo mật thông tin, ứng dụng AI... tạo môi trường học tập thân thiện với công nghệ số, khuyến khích sinh viên sử dụng các nền tảng quản lý học tập, cộng tác trực tuyến… từ đó nâng cao nhận thức và trình độ phát triển kỹ năng số cho sinh viên trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên số hiện nay.
Về phía giảng viên và đội ngũ đào tạo
Đây là một trong những nhân tố then chốt quyết định việc nâng cao kỹ năng số cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay. Do đó, việc bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên: chuyển từ “dạy qua công nghệ” sang “dạy học trên nền tảng số” là vô cùng cần thiết. Đội ngũ giảng viên cần linh hoạt, tiên phong trong việc ứng dụng các mô hình “blended learning” (học tập kết hợp), “flipped classroom” (lớp học đảo ngược), “project-based learning” (học qua dự án); tích hợp các công cụ số thực hành như: Google Workspace, Canva, Padlet, Miro, Trello, ChatGPT… nhằm phát huy hết năng lực của sinh viên, tạo nên môi trường học tập sinh động, thiết thực và là tiền đề để sinh viên có thể phát triển cá nhân trong những không gian hiện đại, phù hợp với thực tế.
Về phía sinh viên
Với mục đích tạo không gian cá nhân giúp sinh viên hệ thống, trình bày và phát triển kỹ năng số thông qua các sản phẩm học tập và hoạt động sáng tạo thì việc xây dựng hồ sơ năng lực số cá nhân (Digital Portfolio) cho sinh viên là một hoạt động không thể thiếu trong việc đào tạo nâng cao kỹ năng số cho sinh viên trong thời kỳ chuyển đổi số. Việc làm này giúp sinh viên thu thập và trình bày các sản phẩm số cá nhân: slide thuyết trình, video, báo cáo số, làm việc nhóm... từ đó ghi chép lại quá trình phát triển kỹ năng số theo từng giai đoạn học tập: mô tả kỹ năng, công cụ đã dùng, kết quả đạt được, hình thành nên mục tiêu kỹ năng số cá nhân theo từng học kỳ hoặc năm học, giúp sinh viên thể hiện năng lực thực tế thay vì chỉ nói suông trong hồ sơ (CV) xin việc sau này. Đây chính là công cụ hữu ích để tạo ấn tượng với nhà tuyển dụng hoặc khi xin học bổng, thực tập, thúc đẩy sinh viên tự học, tự phản chiếu và liên tục cải tiến kỹ năng số.
Bên cạnh đó, việc tích cực học qua môi trường số như: học trên YouTube học thuật, podcast, ebook. Tham gia vào các cuộc thi sáng tạo nội dung số, hackathon, khởi nghiệp công nghệ, học kỹ năng bảo mật, đạo đức số, ứng xử văn minh trên môi trường mạng còn giúp cho sinh viên học tập linh hoạt, không bị giới hạn bởi chương trình giảng dạy truyền thống; tăng khả năng kết nối doanh nghiệp, mở rộng cơ hội thực tập, việc làm; rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề bằng tư duy sáng tạo số, đây là yếu tố rất quan trọng trong thị trường lao động hiện đại, tạo nền tảng đạo đức số - điều kiện để trở thành công dân số chuẩn mực.
Về các cơ sở pháp lý và quản lý nhà nước
Cần thiết lập một bộ khung năng lực số thống nhất, toàn diện và cập nhật, làm căn cứ để hướng dẫn các cơ sở giáo dục triển khai đào tạo, đánh giá và kiểm định kỹ năng số cho người học, đặc biệt là sinh viên. Trong đó, việc xây dựng khung năng lực số quốc gia cho người học bao gồm các nhóm kỹ năng: sử dụng công nghệ cơ bản, tư duy số và xử lý thông tin, truyền thông và cộng tác số, sáng tạo và sản xuất nội dung số, bảo mật, an toàn và đạo đức số, học tập và phát triển nghề nghiệp trong môi trường số… được áp dụng theo các bậc trình độ THPT - cao đẳng - đại học - sau đại học; có thể gắn với khung trình độ quốc gia (VQF) hoặc kết hợp đánh giá kỹ năng số bằng công cụ chuẩn hóa cấp quốc gia (dạng như bài kiểm tra năng lực số).
Việc tận dụng các chính sách số hóa quy mô lớn trong giáo dục - hành chính để tạo động lực thực chất cho việc hình thành kỹ năng số cho người học và nhà trường là một trong những giải pháp không thể thiếu trong việc phát triển kỹ năng số cho sinh viên. Tiêu biểu như việc triển khai Đề án 06 (về phát triển Chính phủ số - dịch vụ công số) với sự thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong tuyển sinh, học bạ điện tử, quản lý văn bằng, xác minh dữ liệu sinh viên. Theo đó, bắt buộc sinh viên làm quen và sử dụng thành thạo các nền tảng số hành chính công như: Cổng Dịch vụ công quốc gia; Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư - giáo dục; VNeID, CSDL nghề nghiệp và chiến lược chuyển đổi số ngành giáo dục (Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022) đã góp phần phát triển nền tảng học tập số quốc gia (MOET LMS, ngân hàng câu hỏi số, thư viện và học liệu số), đẩy mạnh công nghệ AI, dữ liệu lớn trong dạy - học - kiểm tra - đánh giá, tập trung nâng cao năng lực số cho giáo viên - cán bộ quản lý - sinh viên, gắn với chuẩn nghề nghiệp.
Kỹ năng số không chỉ là một tập hợp công cụ kỹ thuật, mà là nền tảng của công dân số, người học suốt đời và lao động toàn cầu hóa; là nền móng của tri thức, nhân cách và nghề nghiệp trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang tái định nghĩa năng lực nghề nghiệp, việc phát triển kỹ năng số cần được coi là một sứ mệnh chiến lược của giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Giáo dục đại học Việt Nam cần đưa phát triển kỹ năng số thành sứ mệnh quốc gia - không phải theo phong trào, mà bằng những hành động hệ thống, thực chất và có chiều sâu. Theo đó, sinh viên cần được chuẩn bị đầy đủ về năng lực số - từ tư duy, công cụ, đến đạo đức và hành vi số. Đây không chỉ là trách nhiệm của cá nhân người học, mà còn là trách nhiệm phối hợp của cả hệ thống giáo dục, doanh nghiệp và Nhà nước./.
Tài liệu tham khảo:
1. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
2. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt “Đề án: Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”.
3. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt “Đề án: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030”.
4. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
5. Đặng Thành Hưng, Vai trò của kỹ năng trong sự phát triển con người, Tạp chí Khoa học dạy nghề, số 31, tháng 4/2019.
6. Hà Nam Khánh Giao, Yêu cầu kỹ năng của lao động trong thời kỳ hội nhập (Business Skills Requirement for Labor in the Integrity Period), 2017.
7. Huỳnh Văn Sơn, Rèn luyện kỹ năng sống và kỹ năng mềm cho sinh viên, Nxb Giáo dục Việt Nam, H.2019.
ThS Hoàng Hồng Nhung
Khoa Hành chính và Quản trị
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả