Trong bối cảnh đổi mới cơ chế quản lý tài chính công, việc thu thập thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời từ các đơn vị sự nghiệp công lập trở thành yêu cầu cấp thiết, phục vụ công tác thống kê, hoạch định chính sách cũng như giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động.
![]() |
|
Phiếu thu thập thông tin về đơn vị sự nghiệp năm 2025 (Phiếu 2B.SN/ĐTHCSN). |
Bộ Nội vụ đã ban hành phiếu thu thập thông tin đơn vị sự nghiệp (Phiếu 2B.SN/ĐTHCSN) nhằm thu thập chi tiết về tổ chức, nhân lực, tài sản, tài chính, hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai thường phát sinh nhiều vướng mắc, đòi hỏi cán bộ thực hiện và lãnh đạo đơn vị phải nắm chắc hướng dẫn cũng như lưu ý những điểm then chốt để tránh sai sót.
Khâu chuẩn bị có ý nghĩa quyết định đến chất lượng thông tin. Các đơn vị cần rà soát nhân sự phụ trách, lựa chọn cán bộ có kinh nghiệm và hiểu biết về nghiệp vụ tài chính – nhân sự – thống kê. Việc chuẩn bị dữ liệu gốc, từ báo cáo tài chính, danh sách lao động, hồ sơ tài sản đến quyết toán chi ngân sách, giúp đảm bảo tính chính xác khi kê khai, tránh tình trạng nhập liệu theo ước lượng. Đồng thời, cần lưu ý sự hợp lý giữa loại hình đơn vị, chức năng hoạt động và trình độ chuyên môn của người đứng đầu. Chẳng hạn, một đơn vị giáo dục - đào tạo thì không thể có người đứng đầu với trình độ chỉ “chưa qua đào tạo” hoặc “đào tạo dưới 3 tháng”.
Trong quá trình triển khai, nhiều trường hợp dễ dẫn đến sai lệch cần được lưu ý. Với lĩnh vực giáo dục, việc kê khai số học sinh, sinh viên phải đồng bộ với số phòng học thực tế. Các trường liên cấp cần phân bổ chi phí theo từng cấp học, dựa vào cơ cấu lao động hoặc số lượng học sinh để tách bạch sản phẩm dịch vụ giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Trong lĩnh vực y tế, một đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên nhưng lại không có lao động biên chế là bất hợp lý. Quy định về lượt khám bệnh cũng cần được hiểu đúng: chỉ tính khi có bác sĩ trực tiếp khám, không tính khi bệnh nhân chỉ đến thực hiện kỹ thuật theo chỉ định.
Đối với lao động, số liệu kê khai phải gắn với chi phí tiền lương. Một đơn vị có lao động nhưng chi phí tiền lương bằng 0 rõ ràng là bất hợp lý. Người đứng đầu đơn vị kiêm nhiệm, hưởng phụ cấp nhưng không nhận lương chỉ kê khai ở mục thông tin về người đứng đầu, không tính vào tổng số lao động. Lao động nghỉ thai sản, ốm đau hoặc đi làm nơi khác theo hợp đồng phụ nhưng vẫn nhận lương từ đơn vị cũng phải được tính.
Về tài sản, nhiều đơn vị có tổng giá trị lớn nhưng lại không kê khai giá trị hao mòn lũy kế, dẫn tới số liệu thiếu chính xác. Trong trường hợp tài sản dùng chung, cần tính cho đơn vị trực tiếp quản lý và hạch toán; nếu khó bóc tách hao mòn thì thực hiện phân bổ theo cơ cấu chi phí. Đối với doanh thu, đơn vị do ngân sách bảo đảm chi thường xuyên nhưng kê khai doanh thu từ ngân sách nhà nước bằng 0 là sai lệch. Các trường công lập phải tính đầy đủ học phí và nguồn thu từ dịch vụ phụ trợ, như các lớp bồi dưỡng thêm. Một điểm đáng lưu ý khác là nhiều đơn vị sự nghiệp công lập vẫn kê khai “không sử dụng internet” hoặc “không có cổng thông tin điện tử riêng”, trong khi yêu cầu chuyển đổi số trong khu vực công đã được đặt ra rõ ràng.
Thực tiễn cũng đặt ra nhiều tình huống cụ thể. Một cơ sở II của trường đại học nếu hạch toán phụ thuộc vào cơ sở chính thì không lập phiếu riêng, mà gộp chung vào cơ sở chính. Nhà xuất bản thuộc một trường đại học, nếu nằm trong khuôn viên chính thì không tính là địa điểm trực thuộc bên ngoài. Số lao động tại thời điểm 01/01 và số lao động được trả lương trong tháng 01 có thể khác nhau, bởi biến động nhân sự trong năm là bình thường. Một đơn vị có nhiều sản phẩm cùng mã ngành cấp 5 vẫn phải kê khai riêng từng sản phẩm. Trường hợp đơn vị có nhiều cơ sở trực thuộc ngoài trụ sở chính thì phải kê khai thông tin sản phẩm theo từng cơ sở, thay vì gộp chung.
Việc tuân thủ đầy đủ các lưu ý trong kê khai không chỉ đảm bảo tính chính xác, minh bạch của thông tin mà còn đem lại nhiều lợi ích. Đối với Nhà nước, đây là cơ sở dữ liệu tin cậy phục vụ hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực hợp lý và đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, quá trình rà soát giúp minh bạch tài chính, hỗ trợ xây dựng kế hoạch phát triển. Đối với xã hội, dữ liệu chuẩn xác góp phần thúc đẩy công khai, tăng cường trách nhiệm giải trình, thúc đẩy cải cách hành chính.
Có thể khẳng định, việc triển khai Phiếu 2B.SN/ĐTHCSN không đơn thuần là thao tác kỹ thuật, mà là yêu cầu bắt buộc để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập. Mỗi cán bộ thống kê, mỗi đơn vị cần nhận thức rõ trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ và tuân thủ đúng quy định. Đây cũng là một bước quan trọng trong tiến trình tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng dịch vụ công, hướng tới nền hành chính hiện đại, minh bạch và hiệu quả./.
Tùng Anh
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả