1. Bối cảnh lịch sử, mối quan hệ giữa Phật giáo và Đảng Cộng sản Việt Nam
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, nhanh chóng hòa nhập với văn hóa bản địa và trở thành một nền tư tưởng văn hóa dân tộc, một phần không thể tách rời của đời sống tinh thần người Việt. Phật giáo Việt Nam mang bản lĩnh độc lập tự cường kết hợp với tính uyển chuyển, linh hoạt của cư dân lúa nước phương Nam, tạo nên tinh thần "hộ quốc, an dân" từ khi du nhập. Suốt hơn 2000 năm lịch sử, Phật giáo luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của dân tộc, trong công cuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi, đánh bại âm mưu xâm lăng và nô dịch về văn hóa của các thế lực ngoại bang. Dưới các triều đại Lý, Trần, các thiền sư như Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông không chỉ là nhà tu hành mà còn là những nhà chính trị, quân sự, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vai trò của tôn giáo trong đoàn kết dân tộc, trong đó có Phật giáo. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, nhiều tăng ni, phật tử đã tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp, góp phần vào chiến thắng của dân tộc. Với mục đích thống nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo tại Việt Nam dưới một tổ chức duy nhất, cuộc vận động thống nhất Phật giáo được tiến hành. Năm 1980, Ban vận động thống nhất Phật giáo ra đời, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Trưởng ban. Năm 1981, Đại hội các tổ chức Phật giáo được tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Một tổ chức mới ra đời, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” thể hiện sự gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Ngày nay, Phật giáo tiếp tục đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là bảo vệ nền tảng tư tưởng trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.
2. Giá trị tư tưởng của Phật giáo trong việc củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong khi giáo lý Phật giáo nhấn mạnh từ bi, bình đẳng và giải thoát. Sự giao thoa giữa hai hệ tư tưởng này tạo điều kiện để Phật giáo hỗ trợ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.
2.1. Tinh thần từ bi và đoàn kết
Nhắc đến đạo Phật người ta thường sẽ nghĩ ngay đến đức tính từ bi. Đạo Phật và hai chữ từ bi như hình với bóng, trở thành sự mặc định vốn có trong tư tưởng của mỗi chúng ta. Từ bi là một cách sống đẹp, cao thượng và luôn được tôn kính. Giáo lý Phật giáo đề cao “Tứ vô lượng tâm”, đó là: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm, khuyến khích con người sống hòa hợp, vị tha.
Từ bi trong Phật giáo là tình thương chân thật, Phật đã dạy nếu có người hỏi gì là căn bản của pháp lành thì đó chính là tâm Từ. Bởi tâm Từ là đạo vô thượng, là cảnh giới vô song, là cội gốc của đạo đức con người. Từ tấm lòng sẽ được nảy sinh trong mỗi người, bởi lẽ, Từ bi là tâm địa không toan tính, tĩnh lặng mà hành đạo. Phật giáo nhấn mạnh vào Từ bi, bởi đó là đạo đức, trí tuệ. Tâm từ bi hay tâm nhân ái trong các tư tưởng khác đều mang nét đặc trưng là biểu hiện cái tâm của con người nằm trong mối quan hệ biện chứng với xã hội, ảnh hưởng lớn đến cá nhân và xã hội. Từ bi là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ, là phương thuốc xoa dịu nỗi đau của người khác, là lòng tôn trọng, chan hòa, yêu thương mọi người, tôn trọng quyền sống của mọi người.
Tinh thần của Từ bi thể hiện tình yêu thương bao la, rộng lớn, thể hiện sự bình đẳng, khoan dung đối với muôn loài. Từ bi không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một hiện tượng tâm lý xã hội. Từ bi chính là mong muốn đem lại hạnh phúc cho mọi người, mọi loài, là mong muốn được giúp đỡ, cứu khổ, giải thoát muôn loài, đặc biệt là con người, ra khỏi bất hạnh, khổ đau. Dù ở bất cứ địa vị xã hội nào, mỗi người đều có những số phận khác nhau, nhưng ai cũng muốn được vui vẻ, hạnh phúc. Đó là nhu cầu cơ bản của mỗi con người trong xã hội, là quyền bình đẳng về mưu cầu hạnh phúc. Khi nhận ra rằng ai cũng có thể đạt được hạnh phúc, lòng Từ bi trong mỗi người sẽ phát triển và thôi thúc mỗi cá nhân có hành động giúp đỡ, để tất cả mọi người sống an lành vui vẻ. Từ bi trong Phật giáo mang ý nghĩa giáo dục tinh thần “vô ngã, vị tha”, “uống nước nhớ nguồn,” phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trước các luận điệu xuyên tạc nhằm chia rẽ nội bộ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vận động tăng ni, phật tử giữ vững tinh thần đoàn kết, tham gia các hoạt động từ thiện như hỗ trợ người nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào chính sách nhân văn của Đảng. Theo kết quả Hội nghị tổng kết công tác năm 2023 của Ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tính riêng năm 2023, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã triển khai trên 2.106 tỷ đồng và hơn 7.000 tỷ đồng trong 05 năm qua cho hoạt động từ thiện xã hội. Trong đó, Giáo hội dành nhiều nguồn lực cho các hoạt động cứu trợ; tặng nhà tình thương, tình nghĩa, nhà đại đoàn kết; tặng xe đạp, xe lăn; xây cầu, đào giếng, làm đường; dạy nghề, hỗ trợ phẫu thuật tim, mắt; ủng hộ gia đình chính sách, chiến sĩ biên phòng; nuôi dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, trẻ mồ côi; duy trì hoạt động của các nhà dưỡng lão, bếp ăn từ thiện… Những hoạt động này không chỉ củng cố đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà còn phản bác luận điệu “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch.
![]()
2.2. Tư tưởng bình đẳng và công bằng
Khi đề cập đến bình đẳng, Phật giáo khẳng định: tất cả chúng sinh đều bình đẳng, dù ở địa vị giai cấp nào mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về tất cả những hành vi của mình đã tạo qua thân, khẩu, ý. Cho dù người đó ở địa vị nào trong xã hội cũng không thể tránh được quy luật sinh tử của cuộc đời, chỉ có tiếng nói đạo đức bên trong dưới sự điều khiển của luật nhân quả mới có năng lực ấy mà thôi. Con người sống trên cuộc đời với muôn hình muôn vẻ, người giàu sang kẻ nghèo hèn, đẹp xấu, thông minh, khờ khạo… khi chết đi chỉ hai bàn tay trắng cùng nghiệp thức duy nhất theo mình để kiến tạo một đời sống kế tiếp. Đặc biệt, đạo Phật lấy sự tu đạo làm thước đo chuẩn mực cao nhất của sự bình đẳng: “Sự sang, hèn của con người là do nhân cách chứ không phải do dòng họ mà có; đối với việc tu đạo, dòng dõi tuyệt đối không có một ý nghĩa nào cả, mà chỉ khác nhau ở chỗ có hăng hái hay không trong việc tiến tu mà thôi: đó là chủ trương cốt tủy của Phật và các đệ tử”(1). Đức Phật cũng dạy: mọi dòng sông khi đổ về biển cả có chung vị mặn cũng như giáo pháp của Ngài chỉ có một vị giải thoát mà thôi. Điều này cũng hoàn toàn tương đồng với mục tiêu xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, thời gian qua, thực hiện âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động luôn triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền, coi đây là một trong những đòn “đột phá khẩu” với luận điệu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, tự do tôn giáo, phân biệt đối xử; bắt và giam giữ nhiều “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm”… để tấn công hòng phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Để đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã làm sáng tỏ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua các hoạt động thực tiễn cho các tín đồ Phật giáo cả trong nước và quốc tế như: Tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp quốc Vesak 2019 tại chùa Tam Chúc thu hút 1.650 đại biểu quốc tế từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, thu hút hàng vạn phật tử trong và ngoài nước; Lễ Phật Đản (rằm tháng 4 âm lịch) và Lễ Vu Lan (rằm tháng 7 âm lịch) được tổ chức trên toàn quốc, những hoạt động này không chỉ giới hạn trong cộng đồng Phật tử mà còn trở thành một nét văn hóa phổ biến trong xã hội Việt Nam, thu hút sự tham gia của rất nhiều người không theo đạo Phật. Và gần đây nhất là Đại lễ Phật Đản Liên Hợp quốc Vesak 2025, được tổ chức từ ngày 06 đến ngày 08/5/2025 tại Học viện Phật giáo Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh dấu một sự kiện văn hóa và tôn giáo mang tầm vóc quốc tế, khẳng định vị thế của Phật giáo Việt Nam trong cộng đồng toàn cầu. Với chủ đề “Đoàn kết và bao dung vì nhân phẩm con người: Tuệ giác Phật giáo vì hòa bình thế giới và phát triển bền vững”, Vesak 2025 đã thu hút sự tham gia của hơn 2.700 đại biểu, trong đó có khoảng 1.300 đại biểu quốc tế đến từ 85 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Sự kiện có sự hiện diện của các lãnh đạo cấp cao, hơn 10.000 phật tử trong và ngoài nước đã tham gia các hoạt động của đại lễ, khẳng định quy mô rộng lớn và sức lan tỏa mạnh mẽ. Với những hoạt động tiêu biểu cụ thể đó có thể khẳng định chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta.
2.3. Tính thích nghi và đổi mới
Với hơn 2000 năm lịch sử, Phật giáo Việt Nam đã chứng tỏ khả năng thích nghi và đổi mới vượt bậc, hòa nhập vào dòng chảy lịch sử dân tộc, đồng hành cùng các triều đại và các phong trào cách mạng. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế, Phật giáo Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò của mình, không chỉ trong việc đáp ứng nhu cầu tâm linh mà còn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc.
Phật giáo Việt Nam mang tinh thần “khế lý, khế cơ” tức là thích nghi với thực tiễn mà vẫn giữ bản chất giáo lý. Điều này phù hợp với tinh thần đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt từ chính sách đổi mới năm 1986, Phật pháp tại thế gian bất ly thế gian pháp, thể hiện sự năng động, uyển chuyển của Phật giáo. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và công cuộc chuyển đổi số quốc gia, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có những bước đi tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ. Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX (2022 - 2027), Giáo hội đã đề xuất xây dựng “Giáo hội số”, bao gồm việc số hóa các tài liệu Phật học, tổ chức các khóa học trực tuyến và sử dụng mạng xã hội để truyền bá giáo lý. Điều này không chỉ giúp Phật giáo tiếp cận với thế hệ trẻ mà còn tạo điều kiện để kết nối với cộng đồng Phật tử trong và ngoài nước. Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã xây dựng một hệ thống giáo dục Phật học hoàn chỉnh, từ trung cấp đến đại học và sau đại học, nhằm đào tạo tăng ni có trình độ chuyên sâu về Phật học và khả năng giảng dạy, dịch thuật. Mục tiêu của giáo dục Phật học không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn giúp tăng ni và phật tử thích nghi với cuộc sống hiện đại, phát triển nhân cách và hướng tới giải thoát. Phương pháp “buông xả” được nhấn mạnh, giúp con người vượt qua những áp lực của xã hội hiện đại, từ đó xây dựng một cuộc sống thanh tịnh và hài hòa.
3. Vai trò thực tiễn của Phật giáo trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Nhà nước. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ số, chúng triệt để sử dụng internet, mạng xã hội tán phát nhiều tin, bài với các nội dung quan điểm sai trái, thù địch, nhằm tác động đến tâm lý người dân và đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Phật giáo đã đóng góp thiết thực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
3.1. Tuyên truyền và giáo dục đạo đức
Theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị, việc nghiên cứu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng để xây dựng bản lĩnh chính trị, tư duy phản biện và ý chí cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân, bao gồm cả các tổ chức tôn giáo. Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức các hội thảo, khóa tu để nâng cao nhận thức của phật tử về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc kết hợp giáo lý Phật giáo với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện sự hòa quyện giữa đạo và đời mà còn góp phần thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo của Đảng. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị đạo đức của tôn giáo, bao gồm Phật giáo, như từ bi, hướng thiện, có nhiều điểm tương đồng với lý tưởng cách mạng về xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chủ động tổ chức các hội thảo và khóa tu để truyền đạt những giá trị này đến tăng ni, phật tử, giúp họ hiểu rõ hơn về lý luận cách mạng và áp dụng vào thực tiễn.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối hợp với các cơ sở giáo dục và tổ chức chính trị để tổ chức các hội thảo khoa học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, điển hình như: Hội thảo quốc tế về Phật giáo vùng Mê-kông năm 2015 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút nhiều học giả từ các nước ASEAN, trong đó có nội dung thảo luận là kinh nghiệm về giáo dục Phật giáo và lý luận chính trị, sự kết hợp giữa giáo lý Phật giáo và các giá trị xã hội chủ nghĩa; Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” được tổ chức vào ngày 02/8/2024 tại Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp. Bên cạnh đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn tổ chức các khóa tu và chương trình đào tạo tại các học viện Phật giáo để lồng ghép nội dung các buổi giảng về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là các giá trị đạo đức như “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” thể hiện nỗ lực của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong việc kết hợp giáo dục tôn giáo với lý luận chính trị.
3.2. Ứng phó với các thế lực thù địch
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông số, các thế lực thù địch thường lợi dụng vấn đề tôn giáo để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đàn áp tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với vai trò là tổ chức tôn giáo đại diện cho hàng triệu tăng ni, phật tử, đã tích cực ứng phó các luận điệu sai trái này thông qua các hoạt động thiết thực, minh chứng cho chính sách tự do tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chủ động sử dụng các kênh truyền thông chính thống để phản bác các luận điệu xuyên tạc. Bên cạnh đó, Trung tâm Tư liệu Phật giáo Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sưu tầm và công bố các tài liệu học thuật, giúp lan tỏa giá trị văn hóa Phật giáo và khẳng định sự đồng hành của Giáo hội với dân tộc. Các hoạt động số hóa hành chính và trao đổi thông tin với các tổ chức Phật giáo quốc tế cũng được tăng cường, góp phần nâng cao vị thế của Phật giáo Việt Nam trên trường quốc tế.
4. Thách thức và giải pháp phát huy vai trò của Phật giáo đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
4.1. Thách thức
Một là, sự tấn công của các thế lực thù địch thông qua không gian mạng. Các thế lực này lợi dụng đặc tính ẩn danh, kết nối rộng và lan truyền nhanh của mạng xã hội để tuyên truyền các luận điệu sai trái, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Các đối tượng phản động đã thiết lập hàng chục nghìn tài khoản trên các nền tảng như Facebook, YouTube và các blog để đăng tải thông tin xấu độc, vu khống lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Hai là, sự suy thoái về đạo đức và tư tưởng chính trị trong một bộ phận tín đồ và chức sắc. Sự phát triển của công nghệ thông tin và hội nhập quốc tế đã tác động đến một số cán bộ, đảng viên và tín đồ, dẫn đến các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", làm suy giảm niềm tin vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh này, một số chức sắc Phật giáo bị lôi kéo bởi các giá trị vật chất hoặc các tư tưởng ngoại lai, dẫn đến việc xa rời giáo lý Phật giáo chính thống và các giá trị tư tưởng của Đảng.
Ba là, sự gia tăng của các tôn giáo và tín ngưỡng khác tại Việt Nam cũng đặt ra thách thức cho Phật giáo trong việc duy trì vai trò của mình trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch thường lợi dụng thực tiễn này để kích động chia rẽ dân tộc và tôn giáo, chẳng hạn như thông qua chiêu bài "tôn giáo hóa dân tộc" để thành lập các tổ chức phản động. Điều này đặt áp lực lên Phật giáo trong việc giữ vững tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và đồng hành cùng Đảng để phản bác các luận điệu sai trái.
Bốn là, những biến tướng trong nghi lễ. Nghi lễ Phật giáo, theo truyền thống, bao gồm các hoạt động như tụng kinh, lễ bái, dâng y và các lễ hội lớn như Phật Đản, Vu Lan. Những nghi lễ này vốn mang ý nghĩa tâm linh, hướng con người đến sự giác ngộ và giải thoát. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một số biến tướng đáng lo ngại, điển hình như: Thương mại hóa nghi lễ, một số nghi lễ Phật giáo đã bị biến thành công cụ kiếm lợi, làm mất đi giá trị tâm linh vốn có. Mê tín dị đoan trong nghi lễ, các hoạt động mê tín dị đoan, như bói toán, xem phong thủy, hay chữa bệnh bằng “năng lượng siêu nhiên”, đang len lỏi vào một số nghi lễ Phật giáo. Lợi dụng nghi lễ để tuyên truyền sai lệch, một số tổ chức và cá nhân đã núp bóng nghi lễ Phật giáo để tuyên truyền các nội dung sai lệch, thậm chí phản động. Những hoạt động này không chỉ trái với giáo lý Phật giáo mà còn đi ngược lại tinh thần khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Bên cạnh đó, một thách thức không nhỏ của Phật giáo đối với công tác tuyên truyền về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến một bộ phận chức sắc và tín đồ thiếu trách nhiệm trong việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Việc đào tạo chức sắc Phật giáo về lý luận chính trị và kỹ năng sử dụng không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn hạn chế. Trong khi các thế lực thù địch sử dụng công nghệ hiện đại để lan truyền thông tin xấu, nhiều chùa và tổ chức Phật giáo vẫn chủ yếu tập trung vào các hoạt động lễ nghi truyền thống, chưa tận dụng hiệu quả các nền tảng số để tuyên truyền các giá trị tích cực.
4.2. Một số giải pháp trong thời gian tới
Để phát huy công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong thời gian tới cần có những giải pháp cụ thể như:
Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cộng đồng phật tử. Phật giáo có thể phối hợp với các cơ quan tuyên giáo của Đảng để tổ chức các chương trình giáo dục, hội thảo nhằm quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cộng đồng tăng ni, phật tử. Giáo hội Phật giáo Việt Nam có thể lồng ghép các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, như tinh thần yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc vào các bài giảng, hoạt động hoằng pháp.
Thứ hai, phát huy tinh thần nhập thế, đồng hành cùng dân tộc trong các hoạt động xã hội. Phật giáo Việt Nam cần tiếp tục phát huy tinh thần nhập thế, tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội như từ thiện, giáo dục, bảo vệ môi trường, qua đó khẳng định vai trò đồng hành cùng dân tộc. Các hoạt động này không chỉ nâng cao uy tín của Phật giáo mà còn giúp củng cố niềm tin của Nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước.
Ba là, đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Trong bối cảnh các thế lực thù địch sử dụng mạng xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phản bác trên các nền tảng số. Điều này có thể thực hiện thông qua việc xây dựng các kênh truyền thông chính thống của Phật giáo, như trang web, fanpage, hoặc kênh YouTube để cung cấp thông tin chính xác, định hướng dư luận. Đồng thời, cần tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng nhận diện thông tin xấu, độc cho tăng ni và phật tử.
Thứ tư, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo và tăng cường quản lý hoạt động Phật giáo. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần phối hợp với các cơ quan nhà nước để hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đảm bảo phù hợp với thực tiễn và các điều ước quốc tế. Việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo sẽ giúp ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước. Đồng thời, Giáo hội cần tăng cường giám sát các hoạt động Phật giáo, đảm bảo mọi hoạt động đều nằm trong khuôn khổ pháp luật và không bị các thế lực thù địch lợi dụng.
Thứ năm, phát huy vai trò của tăng ni, phật tử trong việc xây dựng đời sống văn hóa, đạo đức. Tăng ni và phật tử cần được khuyến khích tham gia xây dựng đời sống văn hóa, đạo đức tại cộng đồng, qua đó lan tỏa các giá trị tích cực của Phật giáo, như từ bi, bác ái, đoàn kết. Các giá trị này sẽ góp phần chống lại các biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, đồng thời củng cố niềm tin của Nhân dân vào con đường phát triển xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đề ra.
Phật giáo Việt Nam, với lịch sử hơn 2000 năm gắn bó cùng dân tộc, đã và đang đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ giá trị tư tưởng từ bi, bình đẳng, đến các hoạt động thực tiễn như tuyên truyền, từ thiện, Phật giáo không chỉ củng cố niềm tin của Nhân dân mà còn góp phần phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các cơ quan Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội./.
------------------------------------------------------------
Ghi chú:
(1) Kimura Taiken, Hòa thượng Thích Quảng Độ dịch, “Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận”, Nxb Tôn giáo, H.2007, tr.231.
Tài liệu tham khảo:
(1) Bộ Thông tin và Truyền thông, Sự chuyển biến của Tôn giáo ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng 4.0, Nxb Thông tin và truyền thông, H.2022.
(2) Chính phủ, Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập.
(3) Chính phủ, Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
(4) Chính phủ, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa với các hoạt động.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021.
(6) Bộ Chính trị, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
(7) Nguyễn Lan Anh, Phật giáo với chính trị ở Việt Nam thời Lý - Trần, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dien-dan/item/1778-phat-giao-voi-chinh-tri-o-viet-nam-thoi-ly-tran.html.
(8) Nguyễn Phú Lợi, Lịch sử tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, H.2021.
(9) Nguyễn Thanh Xuân, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, H.2015.
(10) Viện Nghiên cứu lịch sử, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, Nxb Khoa học xã hội, H.1980, tr.617 - 618.
TS Đỗ Thái Huy - Trường Đào tạo Cán bộ Lê Hồng Phong, thành phố Hà Nội NCS Đào Đình Hùng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả