Tóm tắt: Bản lĩnh chính trị là phẩm chất cốt lõi, nền tảng hình thành nhân cách người quân nhân cách mạng, bảo đảm cho họ luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản lĩnh chính trị thể hiện tập trung nhất ở lòng trung thành tuyệt đối đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, cùng niềm tin kiên định vào con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo. Bài viết tập trung làm rõ nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng trong công tác đào tạo học viên sĩ quan cấp phân đội tại Trường Sĩ quan Đặc công hiện nay.
Từ khóa: Bản lĩnh chính trị; học viên sĩ quan cấp phân đội; tư tưởng Hồ Chí Minh; Trường Sĩ quan Đặc công.
Abstract: Political courage is a core quality and a fundamental foundation in shaping the character of revolutionary soldiers, ensuring that they remain steadfast in the face of all hardships and challenges, and successfully fulfill their assigned duties. In Ho Chi Minh’s ideology, political courage is closely associated with absolute loyalty to the Party, the Fatherland, and the People, as well as with a firm belief in the revolutionary path led by the Party. On that basis, this article clarifies the core content of Ho Chi Minh’s ideology on political courage, analyzes the current situation, and proposes solutions to enhance the effectiveness of its application in the training of platoon-level officer cadets at the Officer of the Vietnamese Special Forces (OVSF) today.
Keywords: Political courage; platoon-level officer cadets; Ho Chi Minh’s thought; Officer of the Vietnamese Special Forces (OVSF).
Ảnh minh họa.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản lĩnh chính trị là nền tảng, là cái gốc của cán bộ, đảng viên. Người khẳng định, cán bộ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ phải có lập trường kiên định, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, không dao động trước mọi khó khăn, thử thách. Tư tưởng đó không chỉ mang giá trị lý luận sâu sắc mà còn có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo cán bộ quân đội hiện nay. Đối với Trường Sĩ quan Đặc công, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị vào công tác giáo dục, rèn luyện học viên có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành phẩm chất, năng lực toàn diện cho đội ngũ sĩ quan tương lai. Bởi lẽ, sĩ quan đặc công không chỉ cần giỏi chuyên môn, tinh thông kỹ thuật, chiến thuật mà còn phải có bản lĩnh chính trị kiên định, có tinh thần và ý chí thép, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ trong điều kiện khó khăn, khắc nghiệt nhất. Vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về bản lĩnh chính trị và vận dụng trong đào tạo học viên sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Đặc công là vấn đề cấp thiết hiện nay.
1. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bản lĩnh chính trị
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bản lĩnh chính trị là một hệ thống quan điểm sâu sắc, phản ánh sự nhận thức toàn diện, khoa học và thực tiễn về vấn đề then chốt trong công tác cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những nội dung cơ bản phải xây dựng và bồi dưỡng để mỗi cán bộ, đảng viên có thể thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ được cách mạng và Nhân dân giao phó:
Một là, bản lĩnh chính trị là sự kiên định lý tưởng cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản lĩnh chính trị trước hết thể hiện ở sự kiên định vững vàng về lập trường, quan điểm, lý tưởng cách mạng. Người luôn khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(1), coi đây là mục tiêu, lý tưởng cao nhất, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động cách mạng của mình và của Đảng ta. Kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân là nền tảng tinh thần, là động lực bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng vững vàng trước mọi thử thách. Người nhấn mạnh rằng, cán bộ cách mạng có bản lĩnh chính trị kiên định phải giữ vững chí khí chiến đấu, dù khó khăn gian khổ đến đâu cũng không lùi bước. Sự trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân không chỉ là biểu hiện của niềm tin chính trị mà còn là thước đo đạo đức, phẩm chất cách mạng của mỗi con người. Theo Người, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(2), do đó mỗi cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và Nhân dân lên trên hết, trước hết, kiên quyết chống mọi biểu hiện dao động, cơ hội hay “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hai là, xây dựng nhận thức lý luận và tư duy chính trị sắc bén. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng, muốn có bản lĩnh chính trị vững vàng thì trước hết phải có nhận thức lý luận đúng đắn, vì lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động cách mạng. Người chỉ rõ: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(3). Lý luận giúp cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục tiêu, con đường, phương pháp cách mạng, từ đó giữ vững lập trường, quan điểm và hành động đúng đắn trong mọi hoàn cảnh. Theo Người, cán bộ có bản lĩnh chính trị là người hiểu biết sâu lý luận Mác - Lênin, nắm vững đường lối của Đảng, biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Người đặc biệt đề cao tư duy chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo và phê phán thái độ giáo điều, rập khuôn, máy móc trong học tập, rèn luyện. Theo Người, tư duy chính trị sắc bén là khả năng phân tích, đánh giá đúng tình hình trong nước và quốc tế, nhận diện đúng bản chất của các hiện tượng xã hội, từ đó có thái độ, hành động chính trị phù hợp. Người luôn căn dặn mỗi cán bộ phải thường xuyên tự mình tìm tòi, học hỏi, suy nghĩ, nắm vững quy luật vận động của cách mạng, không được thụ động, mơ hồ hay chạy theo trào lưu.
Ba là, xây dựng phẩm chất đạo đức cách mạng là nội dung cốt yếu của bản lĩnh chính trị. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là nền tảng tạo nên bản lĩnh chính trị vững vàng. Người khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức... thì còn làm nổi việc gì”(4). Theo Người, phẩm chất đạo đức không chỉ là thước đo giá trị con người mà còn là nhân tố quyết định sự kiên định chính trị, giúp cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, không bị cám dỗ, lung lay trước những khó khăn, thử thách hay lợi ích cá nhân. Người cho rằng, đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị có mối quan hệ biện chứng: đạo đức là gốc, là cơ sở để hình thành và củng cố bản lĩnh; ngược lại, bản lĩnh chính trị vững vàng là điều kiện để con người kiên trì rèn luyện, giữ vững phẩm chất đạo đức trong mọi hoàn cảnh. Người nhấn mạnh bốn phẩm chất cốt lõi của cán bộ cách mạng là “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, coi đó là “vũ khí tinh thần” giúp cán bộ, đảng viên vượt qua chủ nghĩa cá nhân. Bản lĩnh ấy không phải là bẩm sinh mà được hình thành qua quá trình rèn luyện, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, thường xuyên “tắm mình trong phong trào quần chúng” để trưởng thành.
Bốn là, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên không chỉ thể hiện trong tư tưởng mà còn phải thể hiện trong hành động thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm rằng, bản lĩnh chính trị không chỉ dừng lại ở nhận thức tư tưởng mà phải được kiểm nghiệm và khẳng định trong hành động thực tiễn cách mạng. Người từng nói: “Lý luận thì phải ra sức thực hành, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế”(5). Theo Người, nếu chỉ có tư tưởng đúng mà không có hành động cụ thể thì chưa thể coi là có bản lĩnh chính trị vững vàng; bởi bản lĩnh thực sự chỉ được bộc lộ khi con người đối diện với thử thách, khó khăn, thậm chí là hy sinh. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sự thống nhất giữa lời nói và việc làm là thước đo trung thực nhất của bản lĩnh chính trị. Người phê phán gay gắt thói “nói mà không làm”, “nói nhiều làm ít”, coi đó là biểu hiện của sự yếu kém về bản lĩnh. Theo Người, cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng là người dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, kiên định trong mục tiêu nhưng linh hoạt trong phương pháp, biết hành động vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân, không ngại khó, ngại khổ, không né tránh nhiệm vụ, đặc biệt đề cao thực tiễn hành động cách mạng như môi trường rèn luyện và kiểm chứng bản lĩnh chính trị.
2. Vận dụng trong đào tạo học viên sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Đặc công
Những năm qua, Trường Sĩ quan Đặc công đã có nhiều nỗ lực trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bản lĩnh chính trị vào quá trình đào tạo học viên sĩ quan cấp phân đội. Nhà trường đã tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy, nhất là các môn khoa học xã hội và nhân văn được chú trọng đặc biệt; phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng trong quá trình xây dựng bản lĩnh chính trị cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội; gắn quá trình tự học tập, tự rèn luyện của học viên với việc đưa họ tham gia vào các hoạt động thực tiễn của đơn vị. Tuy nhiên, một số nội dung vận dụng còn dàn trải, chưa thật sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận chính trị với thực tiễn huấn luyện; việc tích hợp các yếu tố giáo dục bản lĩnh chính trị, đạo đức, kỹ năng chỉ huy vào các môn học chuyên ngành chưa đồng đều; năng lực vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp giáo dục hiện đại của một số giảng viên còn hạn chế… Thời gian tới, bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và chiến tranh công nghệ cao, yêu cầu xây dựng đội ngũ sĩ quan đặc công có bản lĩnh chính trị vững vàng là yêu cầu mang tính chiến lược, quyết định đến chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của toàn lực lượng.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bản lĩnh chính trị trong đào tạo học viên sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Đặc công, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựng bản lĩnh chính trị cho học viên sĩ quan cấp phân đội.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp ở Trường Sĩ quan Đặc công cần nhận thức sâu sắc rằng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho học viên là nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt quá trình đào tạo, quyết định chất lượng chính trị và năng lực chiến đấu của đội ngũ sĩ quan đặc công trong tương lai. Cần đưa nội dung này thành chỉ tiêu cụ thể trong nghị quyết lãnh đạo, chương trình hành động và kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị, gắn với đánh giá chất lượng đào tạo hàng năm. Đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên, quản lý học viên, cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, coi việc giáo dục bản lĩnh chính trị không chỉ là nhiệm vụ giảng dạy, mà là sứ mệnh tư tưởng, chính trị, đạo đức, được thể hiện qua từng bài giảng, cách ứng xử, lối sống. Người thầy phải “truyền lửa” lý tưởng, khơi dậy niềm tin, lòng trung thành và ý chí rèn luyện của học viên. Về phía học viên sĩ quan cấp phân đội, cần được định hướng nhận thức rằng việc rèn luyện bản lĩnh chính trị là yêu cầu tự thân, thường xuyên và liên tục, thể hiện trong học tập, rèn luyện, huấn luyện và sinh hoạt tập thể. Mỗi học viên phải tự giác học tập lý luận chính trị, thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh trong hành động, biết tự soi, tự sửa, kiên định trước mọi khó khăn, thử thách. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và môi trường văn hóa sư phạm trong việc tổ chức các phong trào thi đua, diễn đàn, sinh hoạt chính trị, tư tưởng, qua đó tạo động lực, khí thế thi đua rèn luyện bản lĩnh trong toàn Trường.
Hai là, cụ thể hóa nội dung, đa dạng hình thức, phương pháp xây dựng bản lĩnh chính trị của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.
Đây là giải pháp căn bản, bảo đảm cho quá trình xây dựng bản lĩnh chính trị của học viên sĩ quan cấp phân đội đạt chiều sâu tư tưởng, sức bền ý chí và tính hành động thực tiễn cao. Nội dung xây dựng bản lĩnh chính trị của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội phải bao quát các yếu tố cốt lõi: kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; có đạo đức trong sáng, ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm, trách nhiệm và kỷ luật cao. Phải gắn nội dung giáo dục chính trị với thực tiễn huấn luyện, rèn luyện, sinh hoạt hàng ngày, để học viên “học đi đôi với hành”, “nói đi đôi với làm”. Cùng với đó, cần đa dạng hóa hình thức và phương pháp giáo dục chính trị nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo và hứng thú học tập của học viên. Ngoài giờ học lý luận trên lớp, cần tăng cường hoạt động trải nghiệm thực tiễn, diễn đàn chính trị, tư tưởng, tọa đàm, thi tìm hiểu, sinh hoạt chuyên đề về “Bản lĩnh người sĩ quan đặc công thời kỳ mới”. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp mô phỏng sẽ giúp học viên vận dụng lý luận vào hành động, hình thành khả năng phân tích, xử lý tình huống trong môi trường huấn luyện cường độ cao.
Ba là, tăng cường bồi dưỡng hoạt động thực tiễn, nhằm rèn luyện bản lĩnh chính trị của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.
Nhà trường cần tổ chức các hình thức bồi dưỡng thực tiễn phong phú, gắn liền với nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, công tác dân vận, phối hợp với địa phương trong bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thông qua đó, học viên được rèn luyện ý chí kiên định, tinh thần dũng cảm, tính kỷ luật và khả năng xử lý tình huống. Cần coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với thực tiễn huấn luyện đặc công; xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý trong định hướng cho học viên. Có cơ chế đánh giá kết quả rèn luyện bản lĩnh chính trị dựa trên năng lực ứng dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn hành động. Qua đó, hoạt động thực tiễn trở thành môi trường quan trọng để học viên sĩ quan cấp phân đội hình thành và phát triển bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới.
Bốn là, phát huy vai trò tích cực, chủ động của học viên trong tự xây dựng bản lĩnh chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Theo đó, cần khơi dậy và bồi dưỡng cho học viên tinh thần tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; hình thành động cơ học tập, phấn đấu đúng đắn, gắn việc tu dưỡng bản lĩnh chính trị với thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện, huấn luyện quân sự và công tác. Học viên phải biết chủ động tự đánh giá, tự điều chỉnh nhận thức, hành vi, giữ vững lập trường tư tưởng, không dao động trước khó khăn, thử thách, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi để học viên phát huy tính tự chủ trong học tập, thảo luận chính trị, nghiên cứu khoa học; đồng thời tổ chức các phong trào thi đua, mô hình “tự học - tự rèn”, “mỗi ngày một việc tốt theo gương Bác Hồ” nhằm xây dựng môi trường giáo dục tích cực, định hướng cho học viên chủ động tu dưỡng toàn diện. Phát huy vai trò tự giác, tích cực, chủ động của học viên chính là quá trình hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về tự rèn luyện để trở thành cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, qua đó góp phần hình thành đội ngũ sĩ quan đặc công có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất cách mạng trong sáng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bản lĩnh chính trị là một bộ phận cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Người về con người cách mạng. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bản lĩnh chính trị trong đào tạo học viên sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Đặc công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là cơ sở để hình thành đội ngũ sĩ quan có phẩm chất chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có ý chí kiên cường, bản lĩnh vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng bản lĩnh chính trị cho học viên cần được tiến hành toàn diện, đồng bộ và sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật với rèn luyện trong môi trường huấn luyện, công tác và chiến đấu. Chỉ khi học viên thật sự chủ động, tự giác trong học tập và tu dưỡng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì công tác đào tạo mới đạt hiệu quả bền vững, góp phần xây dựng lực lượng đặc công cách mạng, chính quy, đặc biệt tinh nhuệ, hiện đại./.
------------------------------------------------
Ghi chú:
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.131.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, sđd, tr.469.
(3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.273-274, tr.292, tr.275-276.
Nguyễn Trung Đức - Học viện Chính trị
Bình luận
Tin tức cùng chuyên mục