Hà Nội, Ngày 09/12/2025

Mong muốn mức học vấn cho con em của cư dân vùng ven biển Nam Bộ

Ngày đăng: 21/11/2025   11:35
Mặc định Cỡ chữ

Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ thực trạng trình độ học vấn của cư dân ven biển Nam Bộ và tình hình đi học của trẻ em, thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 3 - 24. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích nguyện vọng của cha mẹ đối với mức học vấn mong muốn dành cho con em mình, đồng thời xem xét các yếu tố tác động - bao gồm điều kiện kinh tế, văn hóa, vị trí địa lý và những khó khăn chủ yếu mà các hộ gia đình vùng ven biển Nam Bộ phải đối mặt trong quá trình cho con em đến trường.

Từ khóa: Mức học vấn; mong muốn; vùng ven biển Nam Bộ; yếu tố ảnh hưởng.

Abstract: The article focuses on clarifying the current educational attainment of residents in the Southern coastal region of Vietnam and the schooling situation of children and youth aged 3 to 24. Based on this foundation, the study analyzes parents’ aspirations regarding the desired educational levels for their children and examines the influencing factors, including economic conditions, cultural aspects, geographical location, and the major challenges that households in the Southern coastal areas face in sending their children to school.

Keywords: Educational attainment; aspirations; Southern coastal region of Vietnam; influencing factors.

Trong phân tích xã hội học và xây dựng chính sách, học vấn là một trong những đặc điểm xã hội quan trọng. Tùy thuộc vào mục tiêu phân tích, học vấn cũng được xem là giá trị của một nền văn hóa và là nguồn lực của một cấu trúc xã hội và phát triển xã hội. Bài viết phân tích mong muốn của cư dân vùng ven biển Nam Bộ đối với mức học vấn đạt được của con cái trong gia đình. Đồng thời, xem xét có sự khác biệt hay không trong kỳ vọng đó ở cư dân ven biển Nam Bộ xét theo góc độ vùng cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, giới tính và độ tuổi. Bài viết có sử dụng nguồn số liệu của Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ” đã được nghiệm thu năm 2023 do Tiến sĩ Ngô Hoàng Oanh làm chủ nhiệm.

1. Cơ cấu học vấn và thực trạng đi học của con em trong độ tuổi từ 3 - 24 tuổi ở địa bàn vùng ven biển Nam Bộ

Trước khi đi vào phân tích cụ thể kỳ vọng học vấn của con cái trong hộ gia đình, bài viết mô tả bức tranh chung về cơ cấu học vấn và thực trạng đi học của con em trong độ tuổi đi học ở vùng ven biển Nam Bộ.

Qua mô tả cơ cấu học vấn của cư dân vùng ven biển Nam Bộ cho thấy, tỷ lệ người dân có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm cao nhất với 28,1%, kế đến là tiểu học với tỷ lệ là 26,5%, tiếp theo là trung học phổ thông có tỷ lệ là 14,6% và đại học chỉ có 6,4%, trong khi đó tỷ lệ người mù chữ cũng đáng kể (12,2%). Có sự khác biệt về cơ cấu học vấn ở các địa bàn nghiên cứu. Ở xã Vĩnh Hải (Thành phố Cần Thơ) có trình độ học vấn tương đối thấp hơn so với hai địa phương còn lại là đặc khu Phú Quốc (tỉnh An Giang) và xã Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh). Tỷ lệ mù chữ ở xã Vĩnh Hải cao hơn nhiều (24,0%) so với xã Cần Giờ (8,5%) và đặc khu Phú Quốc (3,5%). Nhóm tiểu học ở xã Vĩnh Hải cũng cao hơn có tỷ lệ 31,2% so với xã Cần Giờ có tỷ lệ 26,0% và đặc khu Phú Quốc 22,1%. Trong khi đó, nhóm có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên ở xã Vĩnh Hải có tỷ lệ (0,7%) thấp hơn nhiều so với đặc khu Phú Quốc (14,2%) và xã Cần Giờ (14,0%) (Bảng 1).

Bảng 1: Cơ cấu học vấn (từ 3 tuổi trở lên) chia theo địa bàn nghiên cứu

 Cấp học vấn

Địa bàn khảo sát

Phú Quốc

Vĩnh Hải

Cần Giờ

Tính chung

n

%

n

%

n

%

n

%

Mù chữ

14

3,5

103

24

37

8,5

154

12,2

Tiểu học

88

22,1

134

31,2

113

26

335

26,5

THCS

132

33,1

113

26,3

110

25,3

355

28,1

THPT

72

18

40

9,3

72

16,6

184

14,6

Trung cấp

3

0,8

1

0,2

6

1,4

10

0,8

Cao đẳng

17

4,3

0

0

11

2,5

28

2,2

Đại học

35

8,8

2

0,5

44

10,1

81

6,4

ThS trở lên

1

0,3

0

0

0

0

1

0,1

BĐBV

10

2,5

0

0

7

1,6

17

1,3

Mẫu giáo

7

1,8

6

1,4

19

4,4

32

2,5

Thiếu thông tin

9

2,3

16

3,7

5

1,2

30

2,4

Nhỏ không đi học

9

2,3

12

2,8

10

2,3

31

2,5

Không biết

2

0,5

3

0,7

0

0

5

0,4

Tổng cộng

399

100

430

100

434

100

1263

100

Nguồn. Số liệu khảo sát Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ”, năm 2023.

Bảng 2. Tình hình đi học trong độ tuổi từ 3 - 24 tuổi chia theo địa bàn nghiên cứu

Đi học trong độ tuổi từ 3 - 24 tuổi

Địa bàn khảo sát

Phú Quốc

Vĩnh Hải

Cần Giờ

Tính chung

n

%

n

%

n

%

n

%

Đang đi học

81

61,8

72

44,7

96

70,1

249

58,0

Nghỉ học

41

31,3

40

24,8

33

24,1

114

26,6

Thiếu thông tin

9

6,9

49

30,4

8

5,8

66

15,4

Tổng cộng

131

100

161

100

137

100

429

100

Nguồn: số liệu khảo sát Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ”, năm 2023.

Ở bảng 2 cho thấy, hơn một nửa (58,0%) con em trong độ tuổi đi học đang tham gia học tập ở trường lớp, có 26,6% con em đã nghỉ học. Trong 26,6% học sinh đã nghỉ học có sự khác biệt về địa bàn nghiên cứu. Ở đặc khu Phú Quốc có tỷ lệ học sinh nghỉ học cao hơn (31,3%) so với hai địa bàn còn lại là xã Vĩnh Hải và xã Cần Giờ có tỷ lệ lần lượt là 24,8% và 24,1%.

Về lý do nghỉ học có 35,1% cho rằng là vì kinh tế khó khăn. Trong đó, ở xã Vĩnh Hải có tỷ lệ cao nhất lên tới 85,0% so với hai xã còn lại chỉ có tỷ lệ dưới 10% nghỉ học vì lý do này. Kế đến là 20,2% cho rằng đã học xong, học thế đủ rồi (ở đặc khu Phú Quốc có tỷ lệ 36,6% và xã Cần Giờ là 24,2%). Tiếp theo có 19,3% cho rằng do con cái chán nản tự bỏ học (ở đặc khu Phú Quốc có tới 43,9%, trong khi đó ở xã Cần Giờ chỉ có 12,1% chọn lý do này (Bảng 3).

Bảng 3: Lý do học sinh nghỉ học trong độ tuổi từ 3 - 24 tuổi chia theo địa bàn nghiên cứu

Lý do nghỉ học

Địa bàn khảo sát

Phú Quốc

Vĩnh Hải

Cần Giờ

Tính chung

n

%

n

%

n

%

n

%

Kinh tế khó khăn

3

7,3

34

85

3

9,1

40

35,1

Phải đi làm

1

2,4

9

22,5

0

0

10

8,8

Chán, tự bỏ học

18

43,9

0

0

4

12,1

22

19,3

Thi trượt/không lên lớp

1

2,4

2

5

2

6,1

5

4,4

Học xong, học đủ rồi

15

36,6

0

0

8

24,2

23

20,2

Lý do khác

2

4,9

1

2,5

5

15,2

8

7

Thiếu thông tin

3

7,3

3

7,5

14

42,4

20

17,5

Tổng cộng

41

100

40

100

33

100

114

100

Nguồn: số liệu khảo sát Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ”, năm 2023.

2. Những khó khăn của hộ gia đình khi có con em đang đi học

Kết quả khảo sát cho thấy có bốn khó khăn lớn đối với con em đi học ở ven biển trong vùng nghiên cứu. Hai khó khăn lớn nhất là về tiền bạc khi cho con đi học thêm có tỷ lệ 47,7% và 40,9% không đủ tiền học ở trường. Kế đến là 22,7% con em đi học gặp khó khăn vì phải đi học xa và 20,5% con cái không học được do học lực yếu (Hình 1). Có sự khác biệt giữa các địa bàn nghiên cứu gặp khó khăn khi cho con đi học, cụ thể: xã Vĩnh Hải gặp nhiều khó khăn hơn so với hai địa bàn còn lại, nhất là khó khăn về kinh tế khi cho con đi học. Trong mẫu khảo sát cũng cho thấy, r bình quân thu nhập đầu người trên một năm ở xã Vĩnh Hải thấp hơn nhiều (33,597 triệu đồng) so với hai địa phương còn lại là đặc khu Phú Quốc (78,303 triệu đồng) và xã Cần Giờ (70,587 triệu đồng).

Hình 1. Những khó khăn khi con, cháu đi học (tính trên những trường hợp gặp khó khăn) (%).

Nguồn: số liệu khảo sát Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ”, năm 2023.

3. Mong muốn mức học vấn cho con em của các hộ gia đình ở vùng ven biển Nam Bộ

Sự kỳ vọng vào mức học vấn đạt được của con em trong gia đình cũng phần nào phản ánh sự phát triển xã hội trong tương lai. Bảng 4 mô tả kỳ vọng của người trả lời về mức học vấn mong muốn con cái họ đạt được. Có 37,7% ý kiến cho rằng con cái của họ học đến khi nào không muốn học nữa thì thôi. Điều này cho thấy, người trả lời tương đối cởi mở và không ép buộc con cái họ phải học cao. Mặt khác cũng chứng tỏ gia đình luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu học hành của con cái, tùy thuộc vào năng lực và ước muốn học tập của con như thế nào. Có 29,3% mong muốn con cái họ đạt được mức học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên. Có 19,7% cho rằng chỉ cần đạt được mức học vấn trung học phổ thông. Xét theo địa bàn nghiên cứu, sự kỳ vọng vào mức học vấn của con cái đạt được có sự khác biệt. Ở địa bàn xã Vĩnh Hải mong muốn con cái mức học vấn đạt được chỉ dừng lại ở cấp trung học phổ thông có tỷ lệ cao hơn nhiều (37,0%) so với xã Cần Giờ (12,0%) và đặc khu Phú Quốc (10,0%). Trong khi đó, mong muốn mức học vấn con cái đạt được từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên ở đặc khu Phú Quốc có tỷ lệ (64,0%) cao hơn rất nhiều so với xã Cần Giờ (24,0%) và xã Vĩnh Hải (0,0%) (Bảng 4).

Bảng 4: Mong muốn của gia đình cho con, cháu học hết lớp mấy chia theo địa bàn nghiên cứu

 Gia đình cho con cháu học đến lớp

Địa bàn khảo sát

Phú Quốc

Vĩnh Hải

Cần Giờ

Tính chung

n

%

n

%

n

%

n

%

Tiểu học

0

0

8

8

1

1,0

9

3,0

Trung học cơ sở

0

0

14

14,0

2

2,0

16

5,3

Trung học phổ thông

10

10,0

37

37,0

12

12,0

59

19,7

Trung cấp, cao đẳng

17

17,0

0

0

2

2,0

19

6,3

Đại học

44

44,0

0

0

22

22,0

66

22,0

Thạc sĩ trở lên

3

3,0

0

0

0

0

3

1,0

Học đến khi nào không muốn học nữa

25

25,0

30

30,0

58

58,0

113

37,7

Thiếu thông tin

0

0

9

9,0

1

1,0

10

3,3

Không biết/không ý kiến

1

1,0

2

2,0

2

2,0

5

1,7

Tổng cộng

100

100

100

100

100

100

300

100

Nguồn: số liệu khảo sát Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ”, năm 2023.

Ở đặc khu Phú Quốc kỳ vọng vào con cái đạt mức học vấn cao có lẽ vì đời sống kinh tế, thu nhập của họ cao hơn so với hai xã còn lại. Trong mẫu khảo sát nhóm thu nhập cao nhất (trên 200 triệu/năm) ở đặc khu Phú Quốc chiếm tới 39,0%, trong khi đó ở xã Cần Giờ là 19,0% và ở xã Vĩnh Hải chỉ có 1,0%. Qua phân tích cũng cho thấy nhóm thu nhập càng cao thì mong muốn mức học vấn đạt được của con cái càng cao (Hình 2).

Hình 2. Mong muốn mức học vấn con, cháu đạt được chia theo nhóm thu nhập (%)

Nguồn: số liệu khảo sát Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ”, năm 2023.

Mong muốn con em đạt được mức học vấn đại học ở nhóm mù chữ có tỷ lệ 5,3%, nhóm tiểu học là 19,5%, nhóm trung học cơ sở là 28,2%, nhóm trung học phổ thông là 36,7% và nhóm đại học là 50,0% (Hình 3).

Hình 3. Mong muốn con, cháu đạt được mức học vấn chia theo học vấn người trả lời (%)

Nguồn: số liệu khảo sát Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ”, năm 2023.

Phân tích theo việc làm của người trả lời cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm việc khác nhau. Nhóm việc làm cán bộ, công nhân, nhân viên văn phòng mong muốn con đạt được mức học từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên chiếm tỷ lệ tới 57,9%; kế đến là nhóm việc làm buôn bán, dịch vụ với tỷ lệ là 49,1%, tiếp theo là nhóm việc làm không tạo ra thu nhập (nội trợ, già) có tỷ lệ là 33,8%; nhóm việc làm nông dân, ngư dân có tỷ lệ là 24,4% và nhóm làm thuê, mướn phổ thông (giản đơn) chỉ có tỷ lệ là 12,5% kỳ vọng vào con cái đạt được mức học vấn này (Hình 4).

Hình 4. Mong muốn con, cháu đạt được mức học vấn chia theo việc làm của người trả lời (%)

Nguồn: số liệu khảo sát Đề tài cấp Bộ “Vấn đề xã hội và quản lý phát triển bền vững xã hội ở vùng ven biển Nam Bộ”, năm 2023.

Phân tích tương tự như trên không thấy có sự khác biệt về giới tính, độ tuổi của người trả lời về sự kỳ vọng vào mức học vấn mà con, cháu họ đạt được.

4. Một số khuyến nghị

Mặc dù cư dân ở vùng ven biển Nam Bộ vẫn còn một số khó khăn trong việc tiếp cận với hệ thống giáo dục. Tuy nhiên, qua phân tích ở trên cho thấy phần lớn cư dân vùng ven biển Nam Bộ trong mẫu khảo sát mong muốn con cái của họ có học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc cao hơn. Tuy nhiên, ở mỗi địa bàn nghiên cứu, thu nhập của hộ gia đình, trình độ học vấn của người trả lời và vị trí việc làm khác nhau mà sự kỳ vọng ấy có sự khác nhau. Qua đó cũng cho thấy rằng những yếu tố này có tác động tới sự kỳ vọng của họ và sự phát triển của con cái trong tương lai.

Sự kỳ vọng của bố mẹ dù ở mức thấp so với khả năng của trẻ vẫn là nguồn kích thích sự vươn tới và kỳ vọng ở mức vừa phải, phù hợp với khả năng của con cái là tối ưu cho sự phát triển của trẻ. Kỳ vọng học vấn cho con là một động lực quan trọng và góp phần thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và hiện đại hóa xã hội.

Trên cơ sở phân tích ở trên, tác giả đưa ra một số khuyến nghị chính sách góp phần phát triển giáo dục một cách bền vững như sau:

Một là, cần có chính sách hỗ trợ tài chính theo các đặc điểm về kinh tế - xã hội của từng vùng. Cần thiết lập các chương trình hỗ trợ tài chính đặc thù cho các khu vực có thu nhập thấp. Hỗ trợ không chỉ nên giới hạn ở học phí mà còn bao gồm các chi phí sinh hoạt, ăn ở, và học thêm, nhằm giải quyết triệt để rào cản kinh tế là nguyên nhân chính dẫn đến học sinh bỏ học.

Hai là, giải quyết các rào cản phi tài chính, đối với các khu vực có thu nhập cao hơn nhưng tỷ lệ "chán học" vẫn đáng kể, cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và tính hấp dẫn của chương trình học. Việc tăng cường hoạt động ngoại khóa, tư vấn định hướng nghề nghiệp sớm và kết nối giáo dục với các cơ hội việc làm thực tế tại địa phương (ví dụ: ngành du lịch) có thể giúp học sinh tìm thấy động lực và giá trị của việc học.

Ba là, đầu tư vào giáo dục phổ cập và học tập suốt đời để phá vỡ chu kỳ thiếu học vấn liên thế hệ, các chính sách cần hướng đến việc nâng cao trình độ học vấn của thế hệ cha mẹ, đặc biệt là các chương trình xóa mù chữ và bổ túc văn hóa. Khi cha mẹ nhận thức rõ hơn về giá trị của giáo dục, họ sẽ có kỳ vọng cao hơn và khả năng hỗ trợ con cái tốt hơn.

Bốn là, cải cách thể chế giáo dục, hệ thống giáo dục cần thay đổi căn bản để phục vụ mục tiêu phát triển xã hội thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận. Điều này đòi hỏi các chính sách phải đảm bảo giáo dục công lập được đầu tư xứng đáng, tạo ra môi trường học tập bình đẳng và chất lượng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo hay địa bàn cư trú. Việc xây dựng chính sách giáo dục hiệu quả đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều, không chỉ tập trung vào các vấn đề bề nổi mà còn phải giải quyết tận gốc các rào cản kinh tế - xã hội và định hình lại nhận thức của cộng đồng về vai trò của học vấn trong tương lai./.

---------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Bùi Thế Cường, “Dân cư thành phố Hồ Chí Minh mong muốn mức học vấn cho con”, Tạp chí Nghiên cứu phát triển, Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, số 19 (tháng 01/2017), tr.39-43.

2. Văn Thị Kim Cúc, “Tác động của mức độ kỳ vọng của bố mẹ tới sự đánh giá bản thân của trẻ”, Tạp chí Tâm lý học, số 2 (2005), tr.18-25.

ThS Lê Thế Vững - Trung tâm xã hội học và Môi trường, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ

Bình luận

Tin tức cùng chuyên mục

Tăng cường chất lượng công tác quản lý tư tưởng học viên ở Học viện Quân y trong thời kỳ mới

Ngày đăng 05/12/2025
Tóm tắt: Công tác quản lý tư tưởng quân nhân; nắm và định hướng dư luận trong Quân đội là một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, văn hóa; một nội dung quan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; trực tiếp góp phần xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, các mối quan hệ tốt đẹp cho từng quân nhân và tập thể quân nhân. Đối với Học viện Quân y, nơi quản lý học viên đào tạo đội ngũ bác sĩ quân y “vừa hồng, vừa chuyên”, công tác quản lý tư tưởng học viên càng có ý nghĩa đặc biệt, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật, y đức và động cơ học tập đúng đắn.

Tăng cường quản lý nhà nước đối với Công giáo trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay

Ngày đăng 28/11/2025
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích thực tiễn quản lý nhà nước đối với Công giáo, đồng thời làm rõ những yêu cầu đổi mới đặt ra trong quá trình chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, góp phần xây dựng môi trường pháp lý - xã hội, trong đó Công giáo có thể phát huy đầy đủ vai trò, đồng thời Nhà nước bảo đảm ổn định, phát triển và tăng cường sự gắn kết với các cộng đồng tôn giáo.

Thực trạng và định hướng phát triển ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt tại các hợp tác xã nông nghiệp vùng miền núi phía Bắc

Ngày đăng 26/11/2025
Tóm tắt: Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp là cách thức để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng, thị trường. Các công nghệ sinh học, nhà kính, tưới nhỏ giọt, cảm biến, tự động hoá, internet vạn vật (IoT),... đã giúp các hộ nông dân, các hợp tác xã nông nghiệp tiết kiệm chi phí, giảm thiểu ảnh hưởng của thời tiết, nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần bảo vệ môi trường. Có thể khẳng định: khoa học và công nghệ thực sự là một trong những giải pháp quan trọng, là xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với diện tích đất sản xuất bị thu hẹp do đô thị hoá, biến đổi khí hậu và tăng dân số.

QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH TRÒ CHƠI TRUYỀN HÌNH CỦA KÊNH VTV3 TRÊN NỀN TẢNG SỐ HIỆN NAY

Ngày đăng 20/11/2025
Tóm tắt: Bài báo phân tích thực trạng quản lý các chương trình trò chơi truyền hình (game show) của kênh VTV3 trong bối cảnh chuyển dịch mạnh mẽ sang môi trường số. Dựa trên cơ sở lý luận về quản lý truyền thông, cấu trúc tổ chức sản xuất chương trình và các xu hướng công nghệ mới, bài viết phân tích, làm rõ vai trò của VTV3 trong hệ sinh thái nội dung số của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), đánh giá những kết quả tích cực nhằm đổi mới mô hình phối hợp giữa VTV3 và VTV Digital, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong quy trình, nhân lực và phân tích dữ liệu người xem khi thực hiện sự phối hợp này. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng hiệu quả quản lý sản xuất, phát hành và tối ưu hóa chương trình trò chơi truyền hình trên nền tảng số, đáp ứng thói quen tiêu dùng nội dung mới của công chúng.

Đổi mới quản trị quốc gia: Kinh nghiệm quốc tế và một số gợi ý cho Việt Nam

Ngày đăng 07/11/2025
Tóm tắt: Việt Nam nghiên cứu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để hiện thực hóa một tầm nhìn phát triển nhất quán về nền kinh tế phồn thịnh, xã hội hạnh phúc, quốc gia phồn vinh, hòa hợp với thế giới. Việt Nam đã trở thành biểu tượng truyền cảm hứng tích cực trên trường quốc tế, đã và đang đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển. Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng kinh nghiệm quốc tế vào quản trị quốc gia, Việt Nam cần kiên định chủ trương, quan điểm chính trị để thiết kế mục tiêu và lộ trình đổi mới quản trị quốc gia hài hòa giữa  chính trị, kinh tế và văn hóa. Chú trọng các nội dung: Nâng cao năng lực quản trị của Nhà nước; Đầu tư vào con người và tiếp thêm năng lượng cho đội ngũ; Phát huy vai trò của think-tank và các tổ chức nghiên cứu độc lập; Cải thiện chất lượng chuyển giao chính sách.

Tiêu điểm

Sơ kết 5 năm thi hành Bộ luật Lao động năm 2019: Bước tiến quan trọng trong hoàn thiện thể chế thị trường lao động Việt Nam

Sáng ngày 8/12, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thi hành Bộ luật Lao động năm 2019. Thứ trưởng Bộ Nội vụ Cao Huy tham dự và chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có đại diện lãnh đạo các vụ, cục thuộc Bộ; đại diện các Sở Nội vụ, Liên đoàn Lao động; Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu kinh tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khu vực phía Nam…