Từ khóa: Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI; chính quyền địa phương 02 cấp; cử tri; khu vực bỏ phiếu.
Abstract: The election of deputies to the 16th National Assembly and People’s Councils at all levels for the 2026-2031 term takes place in the context that the country is operating under a two-tier local government model, replacing the traditional three-tier administrative structure. With more than 70 million voters, over 84,000 polling stations, and hundreds of thousands of People’s Council deputies to be elected nationwide, this election poses unprecedented challenges in terms of organization, administration, and coordination of implementation. From the perspective of public administration science, the article analyzes the system of specific tasks assigned to the two-tier local government, clarifies the requirements for proactiveness, creativity, and compliance with the law throughout the entire electoral process, and proposes scientifically grounded solutions to ensure that the election is conducted democratically, in accordance with the law, safely, economically, and truly becomes a nationwide festival of the people.
Keywords: Two-tier local government; National Assembly election; People's Council election; public governance; election administration; digital transformation in public administration.
![]()
1. Phân định nhiệm vụ giữa cấp tỉnh và cấp xã - nền tảng thể chế của tổ chức bầu cử
Trong lý thuyết về quản trị đa tầng, nguyên tắc phân quyền theo chiều dọc đòi hỏi mỗi cấp hành chính phải được xác định rõ phạm vi, thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm giải trình tương ứng. Đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đặt ra yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết, đó là không còn cấp huyện trong bộ máy hành chính, đồng nghĩa với việc cấp tỉnh phải tăng cường năng lực điều phối, trong khi cấp xã phải đảm nhận khối lượng công việc lớn hơn với trách nhiệm trực tiếp hơn trước cử tri.
Ở cấp tỉnh, vai trò trung tâm chỉ đạo được thể hiện qua chuỗi nhiệm vụ có tính hệ thống. Trước hết, cấp tỉnh phải quán triệt đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, các hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau đó ban hành kế hoạch triển khai cụ thể, bám sát điều kiện thực tiễn địa phương. Ủy ban bầu cử cấp tỉnh phải được thành lập đúng thời hạn, bảo đảm thành phần gồm đại diện các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, lực lượng vũ trang và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng đầy đủ yêu cầu về cơ cấu, tiêu chuẩn và năng lực thực thi nhiệm vụ. Số liệu từ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV năm 2021 cho thấy, cả nước đã thành lập 63 Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, hơn 184.000 Tổ bầu cử với hàng trăm nghìn thành viên tham gia, phản ánh quy mô huy động nhân lực đặc biệt lớn của cả hệ thống chính trị. Trong kỳ bầu cử sắp tới, khối lượng này sẽ không giảm mà thậm chí có thể tăng do sự điều chỉnh địa giới hành chính theo mô hình 02 cấp.
Nhiệm vụ phân chia đơn vị bầu cử thuộc thẩm quyền cấp tỉnh là một trong những khâu kỹ thuật quan trọng nhất, có ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng, bình đẳng của cuộc bầu cử. Nguyên tắc bình đẳng về số lượng cử tri giữa các đơn vị bầu cử quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, đòi hỏi cấp tỉnh phải sử dụng dữ liệu dân cư cập nhật, chính xác từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trong bối cảnh nhiều tỉnh, thành phố có tốc độ đô thị hóa cao, với lượng lao động nhập cư lớn thì việc xác định chính xác quy mô cử tri tại từng đơn vị bầu cử không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là đảm bảo về quyền chính trị của công dân.
Ở cấp xã, nhiệm vụ mang tính trực tiếp, cụ thể và gần dân hơn, song cũng đòi hỏi năng lực thực thi cao hơn so với các kỳ bầu cử trước. Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm lập, niêm yết và rà soát danh sách cử tri theo đúng quy trình pháp luật; tổ chức và sắp xếp các khu vực bỏ phiếu phù hợp với địa bàn; thành lập Tổ bầu cử với đầy đủ thành viên được tập huấn bài bản; đồng thời chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất phục vụ ngày bầu cử. Thực tiễn cho thấy, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV năm 2021 (giai đoạn 2021 - 2025) đã ghi nhận tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 99,6% trên phạm vi cả nước - con số phản ánh kết quả của quá trình chuẩn bị chu đáo ở cấp cơ sở, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa, nơi nhiều đơn vị đạt tỷ lệ 100%.
Trong điều kiện dân cư biến động mạnh do di cư lao động, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến cuối năm 2024, cả nước có hơn 13 triệu người di cư nội địa, tập trung chủ yếu tại các khu công nghiệp và đô thị lớn, chính quyền cấp xã phải chủ động phối hợp với lực lượng công an và cơ quan quản lý cư trú để cập nhật kịp thời thông tin về người tạm trú, người chuyển đến, chuyển đi. Đây là nhiệm vụ vừa mang tính kỹ thuật, vừa thể hiện trách nhiệm chính trị của chính quyền cơ sở trong bảo đảm quyền bầu cử của mọi công dân, không để bất kỳ người đủ điều kiện nào bị bỏ sót khỏi danh sách cử tri.
Tính chủ động và sáng tạo của chính quyền địa phương 02 cấp không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành đúng quy trình, thủ tục. Ở cấp độ cao hơn, đó là năng lực dự báo và xây dựng phương án ứng phó với các tình huống bất thường trong toàn bộ chu trình bầu cử (trước, trong và sau ngày bầu cử). Trước ngày bầu cử, chính quyền địa phương cả 02 cấp cần xây dựng kịch bản xử lý các tình huống như thiên tai, mưa bão, dịch bệnh, mất điện, sự cố kỹ thuật hoặc các vấn đề an ninh trật tự. Kinh nghiệm từ cuộc bầu cử năm 2021, khi một số địa phương phải tổ chức bầu cử trong điều kiện dịch COVID-19 bùng phát phức tạp tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Long An, cho thấy tầm quan trọng của việc có phương án dự phòng chi tiết: hơn 15.000 cử tri trong khu cách ly vẫn được tổ chức bỏ phiếu với sự phối hợp nghiêm ngặt giữa y tế và chính quyền cơ sở.
Trong ngày bầu cử, chính quyền địa phương 02 cấp phải bảo đảm quy trình khai mạc, bỏ phiếu, kiểm phiếu được thực hiện đúng luật, công khai, minh bạch. Đặc biệt cần tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm cử tri dễ bị tổn thương: người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa; bố trí hòm phiếu phụ và tổ chức bỏ phiếu lưu động theo đúng quy định. Sau ngày bầu cử, tổng hợp, báo cáo kết quả, giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có) phải được tiến hành kịp thời, đúng thẩm quyền và đúng thời hạn theo luật định, không để phát sinh điểm nóng làm ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống chính trị.
2. Cụ thể hóa kế hoạch triển khai - từ văn bản đến hành động
Trong khoa học hành chính công, khoảng cách giữa chính sách và thực thi được xác định là một trong những thách thức cốt lõi của quản trị nhà nước. Đối với công tác bầu cử, việc cụ thể hóa các nhiệm vụ thành kế hoạch triển khai sát với điều kiện thực tiễn của từng địa bàn có ý nghĩa quyết định, bởi mỗi tỉnh, thành phố và mỗi xã có đặc điểm dân cư, địa hình, điều kiện kinh tế - xã hội và hạ tầng công nghệ hoàn toàn khác nhau.
Đối với địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi giao thông đi lại khó khăn, kế hoạch tổ chức bầu cử phải tính đến phương án bố trí khu vực bỏ phiếu hợp lý, bảo đảm cử tri không phải di chuyển quá xa. Điều 71 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cho phép thành lập khu vực bỏ phiếu riêng cho các thôn, bản ở xa trung tâm xã, quy định cần được vận dụng linh hoạt và triệt để. Với các tỉnh có nhiều xã vùng cao, nơi mỗi xã có thể có hàng chục thôn bản cách xa trung tâm từ 10 đến 30 km thì số lượng khu vực bỏ phiếu cần được tính toán kỹ lưỡng, tránh tình trạng cử tri bỏ phiếu quá thưa hoặc quá tải.
Đối với các đô thị đông dân và các địa bàn có khu công nghiệp lớn, cần tính toán số lượng khu vực bỏ phiếu tương xứng với quy mô cử tri, tránh tình trạng quá tải trong giờ cao điểm. Tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi tập trung hàng chục nghìn lao động ngoại tỉnh, chính quyền cấp xã cần phối hợp chặt chẽ với ban quản lý khu công nghiệp và doanh nghiệp, tạo điều kiện cho công nhân đăng ký bỏ phiếu tại nơi cư trú hoặc sắp xếp thời gian bỏ phiếu phù hợp với ca làm việc. Đây là thách thức mang tính đặc thù của mô hình phát triển công nghiệp hiện đại, đòi hỏi sự sáng tạo trong triển khai mà không thể giải quyết bằng cách áp dụng máy móc các quy trình chuẩn.
Việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, Ủy ban bầu cử cấp xã, Ban bầu cử và Tổ bầu cử phải được thực hiện nghiêm túc về thời hạn, thành phần và tiêu chuẩn. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định rõ thời hạn thành lập Ủy ban bầu cử cấp tỉnh chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử. Bất kỳ sự chậm trễ nào cũng sẽ kéo theo hệ quả dây chuyền: chậm lập danh sách cử tri, chậm công bố thông tin người ứng cử, chậm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri… Thành phần nhân sự trong các tổ chức này không chỉ phải đủ về cơ cấu theo quy định mà còn cần đảm bảo năng lực thực thi: am hiểu pháp luật về bầu cử, có kinh nghiệm hành chính và được tập huấn nghiệp vụ bài bản từ cấp tỉnh.
3. Đa dạng các hình thức tuyên truyền, chủ động ứng dụng công nghệ số
Trong lý thuyết truyền thông chính trị, hiệu quả của tuyên truyền về bầu cử không chỉ phụ thuộc vào nội dung mà còn phụ thuộc vào kênh truyền tải, đối tượng tiếp nhận và sự phù hợp về văn hóa, ngôn ngữ. Thực tiễn các kỳ bầu cử trước cho thấy, khi công tác tuyên truyền được triển khai bài bản, đồng bộ và đa dạng hóa hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng, tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu luôn đạt mức cao, phản ánh mức độ đồng thuận, tin tưởng của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Đối với cấp tỉnh, kế hoạch tuyên truyền tổng thể cần được xây dựng theo mô hình đa kênh, phân công rõ trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị. Cơ quan quản lý truyền thông, cơ quan báo chí tại địa phương giữ vai trò nòng cốt trong triển khai đồng bộ trên hệ thống (truyền thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử, cổng thông tin điện tử của tỉnh và các nền tảng mạng xã hội chính thống). Nội dung tuyên truyền phải bám sát quy định của pháp luật, nhấn mạnh ý nghĩa chính trị, pháp lý của cuộc bầu cử trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời làm rõ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định. Cấp tỉnh cũng có trách nhiệm tổ chức tập huấn nghiệp vụ tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ cấp xã, bảo đảm thông tin được truyền tải thống nhất, chính xác, tránh hiểu sai hoặc vận dụng không đúng quy định pháp luật.
Tại cấp xã, công tác tuyên truyền cần được điều chỉnh linh hoạt theo đặc thù từng địa bàn. Đối với khu vực đô thị, cần tăng cường khai thác hệ thống bảng điện tử, mạng xã hội và nhóm cộng đồng dân cư trực tuyến. Đối với vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần phát huy vai trò không thể thay thế của hệ thống loa truyền thanh cơ sở, già làng, trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng. Đây là những kênh truyền thông phi chính thức nhưng có hiệu quả thực tế vượt trội ở các địa bàn đặc thù, nơi rào cản ngôn ngữ và địa lý làm hạn chế hiệu quả của các kênh truyền thông hiện đại. Đặc biệt, nội dung tuyên truyền phải được chuyển tải bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số tương ứng, phù hợp với trình độ dân trí và phong tục, tập quán của từng vùng miền...
Trong bối cảnh "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý danh sách cử tri và điều hành bầu cử không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu có tính bắt buộc cũng như sẽ mang lại những lợi ích có thể định lượng được (giảm thời gian xử lý hồ sơ, tăng độ chính xác của dữ liệu, giảm chi phí hành chính và nâng cao tính minh bạch…)
Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được Bộ Công an vận hành từ năm 2021 và hiện đã cấp hơn 100 triệu số định danh cá nhân, đây là nền tảng kỹ thuật then chốt để xây dựng danh sách cử tri chính xác, đồng bộ và loại trừ tình trạng trùng lặp. Việc kết nối hệ thống quản lý cử tri với cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia cho phép tự động cập nhật các thay đổi về cư trú, tình trạng công dân và các điều kiện liên quan đến quyền bầu cử, thay thế phương thức rà soát thủ công vốn tiêu tốn nhiều nhân lực và dễ phát sinh sai sót. Cấp tỉnh cần xây dựng hệ thống phần mềm quản lý cử tri thống nhất, tương thích với hạ tầng dữ liệu quốc gia, đồng thời tổ chức tập huấn bài bản cho cán bộ cấp xã (lực lượng trực tiếp vận hành hệ thống), bảo đảm họ có đủ năng lực kỹ thuật để thực hiện các thao tác tra cứu, cập nhật và báo cáo.
Cùng với những lợi ích hiện hữu, ứng dụng công nghệ thông tin trong bầu cử cũng đặt ra những thách thức về an toàn thông tin và an ninh mạng. Theo Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, trong năm 2023 và 2024, Việt Nam ghi nhận hàng nghìn vụ tấn công mạng nhằm vào các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, trong đó có nhiều vụ nhằm vào cơ sở dữ liệu cá nhân và hạ tầng dịch vụ công. Trong bối cảnh đó, việc bảo mật dữ liệu cử tri không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm chính trị của chính quyền địa phương 02 cấp. Chính quyền cấp tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên trách về an ninh mạng là Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an), để thực hiện kiểm tra, đánh giá toàn diện mức độ an toàn của hệ thống, tiến hành kiểm thử các kịch bản tấn công mạng giả định, xây dựng phương án sao lưu dữ liệu và thiết lập cơ chế cảnh báo sớm. Cấp xã, với vai trò trực tiếp nhập liệu và cập nhật thông tin cử tri, phải tuân thủ nghiêm quy trình bảo mật, phân quyền truy cập hệ thống và không để lộ, lọt thông tin cá nhân của cử tri ra ngoài phạm vi cho phép.
Bên cạnh đó, là thách thức từ thông tin sai lệch trên môi trường mạng, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội thường tăng cường phát tán thông tin xuyên tạc về danh sách cử tri, tiêu chuẩn ứng viên, quy trình bầu cử và kết quả kiểm phiếu nhằm gây mất tin tưởng vào hệ thống chính trị. Chính quyền địa phương 02 cấp cần chủ động xây dựng cơ chế giám sát không gian mạng, phối hợp với các cơ quan chức năng, kịp thời phát hiện, xác minh và bác bỏ thông tin sai lệch, đồng thời cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ và chính xác đến toàn bộ cử tri trên địa bàn.
4. Tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm chất lượng trong quá trình thực thi công vụ
Kiểm tra, giám sát hành chính công không chỉ là công cụ phát hiện sai phạm mà còn là nhân tố tạo ra động lực tuân thủ. Đối với công tác bầu cử, kiểm tra là khâu có tính chất phòng ngừa: phát hiện sớm và chấn chỉnh kịp thời những hạn chế, thiếu sót từ khi còn có thể khắc phục, thay vì để phát sinh hậu quả khó giải quyết sau ngày bầu cử.
Đối với cấp tỉnh cần thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành theo từng giai đoạn của quy trình bầu cử: từ khâu thành lập Ủy ban bầu cử, phân chia đơn vị bầu cử, lập danh sách cử tri, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, tổ chức vận động bầu cử, đến tổ chức bỏ phiếu, kiểm phiếu và tổng hợp kết quả. Việc kiểm tra phải bảo đảm tính khách quan, thực chất, không hình thức, tập trung vào những nội dung trọng tâm dễ phát sinh sai sót như: tính đầy đủ và chính xác của danh sách cử tri, thời hạn niêm yết, số lượng và thành phần Tổ bầu cử, điều kiện cơ sở vật chất tại các khu vực bỏ phiếu... Kinh nghiệm thực tiễn qua nhiều kỳ bầu cử cho thấy, những địa phương làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thường hạn chế tối đa khiếu nại, tố cáo và không để xảy ra sai phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến kết quả bầu cử. Trong cuộc bầu cử năm 2021, số lượng khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử được xử lý dứt điểm trước ngày bầu cử là một trong những chỉ số phản ánh hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát.
Ở cấp xã, trách nhiệm tự kiểm tra, rà soát nội bộ cần được đề cao như một văn hóa thực thi. Trước ngày bầu cử, phải tổ chức diễn tập quy trình khai mạc, bỏ phiếu, kiểm phiếu; kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất tại khu vực bỏ phiếu; rà soát lại danh sách cử tri lần cuối trong thời hạn luật định. Trong ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thực hiện nghiêm quy trình phát phiếu, hướng dẫn cử tri, bảo đảm nguyên tắc bỏ phiếu kín và trực tiếp theo quy định. Sau khi kết thúc bỏ phiếu, việc kiểm phiếu phải được tiến hành công khai, minh bạch, lập biên bản đầy đủ, chính xác và báo cáo kịp thời lên cấp có thẩm quyền. Bất kỳ sai sót nào, dù nhỏ, đều phải được phát hiện sớm, xử lý đúng quy định, tránh để kéo dài và tạo cơ sở cho các khiếu nại, tố cáo phức tạp về sau.
Mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đòi hỏi sự phân quyền rõ ràng cũng như sự quản lý chặt chẽ; tăng tính tự chủ của cấp cơ sở nhưng vẫn bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất từ cấp tỉnh. Cấp tỉnh làm tốt vai trò điều phối, hướng dẫn và kiểm tra; cấp xã phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, gần dân, sát dân, chủ động và sáng tạo trong điều kiện thực tiễn, thì toàn bộ quá trình bầu cử sẽ được vận hành thông suốt... Đặc biệt, công tác ứng dụng công nghệ thông tin một cách có trách nhiệm, đa dạng hóa tuyên truyền phù hợp với từng vùng miền và duy trì cơ chế kiểm tra thường xuyên, thực chất, chính là những điều kiện để hiện thực hóa mục tiêu bầu cử dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 thực sự trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, góp phần củng cố nền tảng dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.
-------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025).
2. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030".
3. Hội đồng bầu cử quốc gia - Báo cáo tổng kết bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
4. Tổng cục Thống kê - Kết quả Điều tra dân số và nhà ở năm 2019.
5. Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông - Báo cáo an toàn không gian mạng Việt Nam 2023.
6. Bộ Công an - Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
TS Lê Xuân Cử, Trường Đại học Lao động - Xã hội (Bộ Nội vụ)
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả