Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Ngày đăng: 10/03/2026   14:51
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của quốc gia. Việt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, trong đó nguồn nhân lực trẻ giữ vai trò trung tâm của tiến trình đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Tuy nhiên, sự thay đổi nhanh của khoa học, công nghệ và thị trường lao động đặt ra yêu cầu mới đối với chất lượng, cơ cấu và năng lực số của nguồn nhân lực trẻ. Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số tại Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Từ khóa: kỷ nguyên số; Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; nguồn nhân lực trẻ; thu hút, trọng dụng nhân tài.

Abstract: In the context of digital transformation and the development of the knowledge economy, human resources have become a decisive factor determining a nation’s competitiveness and the quality of its economic growth. Vietnam is currently experiencing a golden population structure, in which young human resources play a central role in the process of innovation and sustainable development. However, the rapid changes in science, technology, and the labor market are creating new requirements for the quality, structure, and digital capabilities of young human resources. This article analyzes the current situation and proposes solutions to improve the quality of young human resources to meet development requirements in the digital era in Vietnam, in accordance with the spirit of the Resolution of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam.

Keywords: Digital era; Resolution of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; young human resources; attracting and utilizing talents.

1. Yêu cầu đối với nguồn nhân lực trẻ Việt Nam trong kỷ nguyên số

Sự chuyển dịch sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ số đang đặt ra những chuẩn mực mới đối với nguồn nhân lực quốc gia. Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực trẻ của Việt Nam không chỉ cần được duy trì về quy mô mà còn phải được nâng cấp toàn diện về chất lượng, cơ cấu và năng lực số. Những yêu cầu này phù hợp với định hướng chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo đột phá trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Về quy mô và số lượng, nguồn nhân lực trẻ cần được duy trì ở mức đủ lớn và ổn định để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn chuyển đổi số. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã khẳng định và nhấn mạnh: Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài1. Quan điểm chỉ đạo này của Đảng nhấn mạnh định hướng phát triển con người là trung tâm, chủ thể và nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, quy mô nguồn nhân lực trẻ cần gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, phát triển lực lượng lao động có tri thức và kỹ năng công nghệ, từ đó tạo nền tảng nhân lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Chất lượng nguồn nhân lực trẻ được xác định là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số. Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: Tăng cường hợp tác công tư trong thu hút, đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao. Phát triển và khai thác có hiệu quả hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là hạ tầng số, cơ sở dữ liệu lớn, kinh tế dữ liệu2. Để hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo này của Đảng, phải xây dựng được nguồn nhân lực trẻ có trình độ chuyên môn cao, năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ hiện đại. Trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển nhanh và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, chất lượng nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở bằng cấp mà còn ở năng lực thực hành, tư duy đổi mới và khả năng học tập suốt đời. Nguồn nhân lực trẻ cần được đào tạo theo hướng phát triển năng lực toàn diện, gắn tri thức với kỹ năng, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường và gắn giáo dục với đổi mới sáng tạo.

Cơ cấu hợp lý của nguồn nhân lực trẻ cũng được đặt ra trong mối quan hệ với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển lực lượng sản xuất mới. Cơ cấu nhân lực cần phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghệ cao, kinh tế số và dịch vụ tri thức. Đồng thời, cơ cấu nguồn nhân lực phải bảo đảm tính kế thừa giữa các thế hệ lao động và sự hài hòa giữa các vùng, miền, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm cơ hội tiếp cận nguồn lực phát triển cho thanh niên trên phạm vi cả nước. Quan điểm phát triển cân bằng, bao trùm và bền vững này được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

Phát triển năng lực số cho nguồn nhân lực trẻ được xác định là yêu cầu có tính bản chất. Định hướng đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhấn mạnh việc xây dựng nguồn nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ mới, thúc đẩy chuyển đổi số và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định: “Chú trọng bảo đảm nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; có cơ chế chính sách đặc biệt về nhân tài”3. Năng lực số không chỉ là kỹ năng sử dụng công nghệ mà còn bao gồm tư duy số, khả năng khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và thích ứng với môi trường làm việc số hóa. Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục và đào tạo phải đổi mới mạnh mẽ, phát triển kỹ năng số phổ cập đồng thời hình thành đội ngũ chuyên gia công nghệ trình độ cao.

Một yêu cầu quan trọng khác là năng lực đổi mới sáng tạo và khát vọng phát triển đất nước của nguồn nhân lực trẻ. Quan điểm chỉ đạo và định hướng chiến lược của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ đã nhấn mạnh việc hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, trong đó con người là trung tâm và là chủ thể sáng tạo. Nguồn nhân lực trẻ cần có tinh thần khởi nghiệp, khả năng sáng tạo và ý thức trách nhiệm xã hội trong môi trường công nghệ. Đây là yếu tố quyết định để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế tri thức.

2. Thực trạng nguồn nhân lực trẻ ở Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025

Giai đoạn 2015 - 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng của thị trường lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Nguồn nhân lực trẻ, được hiểu chủ yếu là nhóm dân số trong độ tuổi từ 15 đến 34 tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong lực lượng lao động xã hội. Tuy nhiên, sự biến đổi của môi trường kinh tế - công nghệ đã làm thay đổi cả quy mô, chất lượng và cơ cấu của lực lượng này, đặt ra yêu cầu đánh giá một cách toàn diện nhằm phục vụ hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.

Về quy mô và số lượng, lực lượng lao động của Việt Nam duy trì mức tăng trưởng tương đối ổn định trong thập niên qua. Theo số liệu thống kê quốc gia, trong quý I năm 2025 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt khoảng 52,9 triệu người, tăng hơn 0,5 triệu người so với cùng kỳ năm trước4. Trong tổng lực lượng lao động, nhóm thanh niên chiếm tỷ trọng lớn, phản ánh lợi thế dân số vàng của Việt Nam. Tuy nhiên, xu hướng già hóa dân số đã bắt đầu thể hiện rõ, làm giảm dần tỷ trọng tương đối của lao động trẻ trong cơ cấu dân số. Điều này cho thấy lợi thế về quy mô nhân lực trẻ là hữu hạn theo thời gian và đòi hỏi phải chuyển trọng tâm chính sách từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng. Mặc dù quy mô lực lượng lao động trẻ lớn, tình trạng thiếu việc làm chất lượng vẫn tồn tại. Số liệu năm 2025 cho thấy khoảng 10,4% thanh niên trong độ tuổi 15 đến 24 không tham gia học tập, đào tạo hoặc việc làm5. Tỷ lệ thất nghiệp của nhóm tuổi này cao hơn đáng kể so với mức thất nghiệp chung của nền kinh tế. Thực trạng này phản ánh sự chưa đồng bộ giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động, đồng thời cho thấy thách thức trong việc chuyển hóa lợi thế dân số trẻ thành lợi thế phát triển.

Về chất lượng nguồn nhân lực, thập niên 2015 - 2025 ghi nhận những cải thiện đáng kể về trình độ học vấn và đào tạo nghề. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm 2025 đạt xấp xỉ 29% lực lượng lao động6. Đây là bước tiến quan trọng so với giai đoạn trước, phản ánh nỗ lực mở rộng giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp so với yêu cầu của nền kinh tế số và còn cách xa chuẩn của các nền kinh tế phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ được phản ánh qua bằng cấp mà còn thể hiện ở năng lực làm việc thực tiễn. Nhiều khảo sát thị trường lao động cho thấy lao động trẻ Việt Nam có ưu thế về khả năng tiếp cận công nghệ và tinh thần học hỏi, song còn hạn chế về kỹ năng thực hành, tư duy phản biện và tính chuyên nghiệp trong môi trường làm việc hiện đại. Đặc biệt, kỹ năng số nâng cao như phân tích dữ liệu, lập trình, quản trị hệ thống số và an toàn thông tin vẫn là điểm nghẽn. Nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số tăng nhanh, trong khi nguồn cung lao động có trình độ phù hợp còn hạn chế. Ngoài ra, kỹ năng mềm và năng lực xã hội của lao động trẻ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của môi trường làm việc số hóa. Khả năng làm việc nhóm, giao tiếp chuyên nghiệp và giải quyết vấn đề trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh vẫn là những hạn chế phổ biến. Những yếu tố này làm giảm năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực trẻ trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Về cơ cấu nguồn nhân lực, giai đoạn 2015 - 2025 chứng kiến sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và dịch vụ hóa. Năm 2025, lao động trong khu vực dịch vụ chiếm khoảng 40,8%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,5%, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống còn khoảng 25,7% tổng số lao động có việc làm7. Sự chuyển dịch này phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nhưng còn diễn ra chậm so với yêu cầu chuyển đổi số. Một đặc điểm đáng chú ý là tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực phi chính thức vẫn ở mức cao, chiếm trên 60% tổng số lao động có việc làm. Điều này phản ánh chất lượng việc làm chưa ổn định và hạn chế khả năng tích lũy kỹ năng dài hạn của lao động trẻ. Bên cạnh đó, sự phân bố nhân lực theo vùng miền còn mất cân đối, khi nguồn nhân lực chất lượng cao tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn và trung tâm kinh tế.

Tổng hợp các yếu tố trên cho thấy nguồn nhân lực trẻ Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2025 có lợi thế nổi bật về quy mô và tiềm năng phát triển, song còn tồn tại những hạn chế căn bản về chất lượng và cơ cấu. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động, sự thiếu hụt kỹ năng số và tình trạng phân bố nhân lực chưa hợp lý đang trở thành những điểm nghẽn quan trọng đối với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế số. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ như một khâu đột phá chiến lược trong phát triển quốc gia giai đoạn tới.

3. Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ của Việt Nam đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên số

Về định hướng cơ bản trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ Việt Nam trong kỷ nguyên số

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực trẻ phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển con người Việt Nam toàn diện, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển đất nước trong giai đoạn chuyển đổi số. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành nền tảng của tăng trưởng, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ cần được xác định là khâu đột phá chiến lược, gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia. Định hướng này phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng lực lượng lao động có khả năng làm chủ công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực trẻ phải chuyển mạnh từ tiếp cận dựa trên số lượng sang phát triển toàn diện về chất lượng, năng lực và giá trị con người trong môi trường số. Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ được đo lường bằng trình độ học vấn mà còn bởi năng lực sáng tạo, năng lực số, kỹ năng thích ứng và đạo đức nghề nghiệp. Điều này đòi hỏi đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển năng lực, học tập suốt đời và gắn đào tạo với nhu cầu của nền kinh tế số. Nguồn nhân lực trẻ cần được trang bị đồng thời tri thức chuyên môn, kỹ năng công nghệ và phẩm chất công dân số để có thể tham gia hiệu quả vào nền kinh tế tri thức.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực trẻ phải bảo đảm cơ cấu hợp lý, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu phát triển bền vững. Định hướng này bao gồm cân đối giữa các trình độ đào tạo, giữa giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, giữa các ngành công nghệ cao và các ngành dịch vụ tri thức, đồng thời thu hẹp chênh lệch về cơ hội tiếp cận nguồn lực phát triển giữa các vùng miền. Cơ cấu nhân lực hợp lý không chỉ bảo đảm hiệu quả sử dụng lao động mà còn tạo nền tảng cho chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực trẻ phải gắn với xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và xã hội số, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, cơ sở đào tạo là trung tâm phát triển năng lực, doanh nghiệp là môi trường thực hành công nghệ và người lao động trẻ là chủ thể sáng tạo. Việc hình thành môi trường khuyến khích sáng tạo, khởi nghiệp và làm chủ công nghệ là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực trẻ phải kết hợp chặt chẽ giữa vai trò của Nhà nước và tính chủ động của mỗi cá nhân. Bên cạnh hệ thống chính sách và môi trường phát triển, bản thân mỗi nhân lực trẻ cần hình thành khát vọng cống hiến, tinh thần học tập suốt đời và năng lực tự thích ứng với biến đổi của khoa học, công nghệ. Đây là điều kiện bảo đảm nguồn nhân lực trẻ trở thành lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế tri thức và xã hội số tại Việt Nam.

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ của Việt Nam đáp ứng yêu cầu trong kỷ nguyên số

Một là, hoàn thiện thể chế phát triển nguồn nhân lực trẻ gắn với đột phá khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ trong kỷ nguyên số đòi hỏi trước hết phải hoàn thiện thể chế phát triển nguồn nhân lực theo hướng đồng bộ giữa giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Thực trạng giai đoạn 2015 - 2025 cho thấy tình trạng thiếu liên thông giữa đào tạo và sử dụng lao động, thiếu tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp phù hợp với kinh tế số và cơ chế dự báo nhu cầu nhân lực còn hạn chế. Vì vậy, cần “hoàn thiện khung khổ pháp lý, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia8 về phát triển nguồn nhân lực số mang tính tích hợp, tạo nền tảng pháp lý cho nâng cao chất lượng nhân lực trẻ.

Nghiên cứu xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực số, xác định chuẩn năng lực số, khung kỹ năng nghề nghiệp và cơ chế dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành, lĩnh vực. Việc chuẩn hóa năng lực không chỉ định hướng đào tạo mà còn nâng cao tính minh bạch của thị trường lao động và khả năng dịch chuyển nghề nghiệp của thanh niên. Cần thể chế hóa mạnh mẽ quan điểm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của tăng trưởng thông qua các chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao. Muốn vậy, cần “Ban hành chính sách hỗ trợ, thực hiện thù lao “vượt trội” đối với nhân tài theo đúng tinh thần xem nhân tài là “vốn liếng quý báu” trong xây dựng, phát triển đất nước9.

Tiếp tục đổi mới chính sách sử dụng và trọng dụng nhân tài trẻ theo hướng cạnh tranh, minh bạch và gắn với kết quả cống hiến. Cơ chế tuyển dụng linh hoạt, chế độ tiền lương theo vị trí việc làm và môi trường làm việc sáng tạo trong khu vực công sẽ góp phần giữ chân nguồn nhân lực trình độ cao. Nâng cao năng lực quản trị nhà nước đối với phát triển nguồn nhân lực thông qua chuyển đổi số quản lý lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu kỹ năng quốc gia và hệ thống thông tin thị trường lao động thống nhất. Đây là điều kiện quan trọng để phân bổ hiệu quả nguồn lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.

Hai là, tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo nhân lực theo hướng phát triển năng lực số, năng lực sáng tạo và học tập suốt đời. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ trong kỷ nguyên số đòi hỏi tái cấu trúc căn bản hệ thống giáo dục - đào tạo theo hướng phát triển năng lực thực chất của người học. Thực trạng giai đoạn 2015 - 2025 cho thấy trình độ học vấn của lao động trẻ tăng lên nhưng kỹ năng nghề, năng lực số và khả năng thích ứng với công nghệ còn hạn chế; khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động số vẫn là điểm nghẽn chủ yếu. Vì vậy, giáo dục cần chuyển trọng tâm từ truyền thụ kiến thức sang hình thành năng lực giải quyết vấn đề, tư duy công nghệ và khả năng học tập suốt đời.

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, năng lực số phải được tích hợp có hệ thống vào chuẩn đầu ra của người học. Ở bậc phổ thông, cần bảo đảm phổ cập kỹ năng công nghệ thông tin, tư duy số và an toàn số như những năng lực nền tảng. Ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp, chương trình đào tạo cần tăng cường tính liên ngành, đào tạo dựa trên dự án và gắn chặt với ứng dụng công nghệ, qua đó hình thành năng lực phân tích dữ liệu, vận hành công nghệ và đổi mới kỹ thuật trong môi trường làm việc số hóa.

Hiệu quả đào tạo nhân lực chỉ được bảo đảm khi thiết lập liên kết thực chất giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Việc mở rộng mô hình đào tạo kết hợp giữa học tập tại nhà trường với thực hành tại doanh nghiệp, sự tham gia của doanh nghiệp trong thiết kế chương trình và đánh giá kỹ năng nghề sẽ giúp nâng cao tính thực tiễn của đào tạo, đồng thời rút ngắn thời gian thích ứng nghề nghiệp của nhân lực trẻ. Cùng với đó, cần thúc đẩy liên thông giữa giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp nhằm hình thành cơ cấu đào tạo cân đối, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu của nền kinh tế số.

Trong điều kiện tri thức và công nghệ thay đổi nhanh, học tập suốt đời trở thành yêu cầu tất yếu đối với nguồn nhân lực hiện đại. Việc phát triển hệ sinh thái học tập mở trong môi trường số, mở rộng đào tạo trực tuyến và công nhận kết quả học tập tích lũy sẽ tạo cơ hội cho người lao động trẻ liên tục cập nhật kỹ năng mới, nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp. Định hướng này phù hợp với quan điểm tạo điều kiện cho cán bộ trẻ đi học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực nhằm phát huy và khai thác tiềm năng10. Bên cạnh tri thức chuyên môn, giáo dục cần chú trọng hình thành phẩm chất nghề nghiệp, văn hóa số và tinh thần sáng tạo, qua đó tạo nền tảng để nguồn nhân lực trẻ chủ động tham gia quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Ba là, phát triển thị trường lao động số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trẻ. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ không chỉ phụ thuộc vào đào tạo mà còn gắn chặt với môi trường sử dụng lao động và cơ chế phân bổ nguồn lực nhân lực trong nền kinh tế số. Thực trạng cho thấy thị trường lao động Việt Nam vẫn tồn tại tình trạng thông tin phân tán, kết nối cung - cầu lao động chưa hiệu quả, khả năng hấp thụ lao động chất lượng cao của doanh nghiệp còn hạn chế. Do đó, phát triển thị trường lao động hiện đại, minh bạch và số hóa là điều kiện quan trọng để chuyển hóa tiềm năng nhân lực trẻ thành năng suất thực tế.

Cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia trên nền tảng số, tích hợp dữ liệu về kỹ năng, việc làm, nhu cầu tuyển dụng và xu hướng nghề nghiệp. Việc hình thành cơ sở dữ liệu kỹ năng quốc gia và các nền tảng kết nối việc làm số sẽ giúp người lao động trẻ tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành và vùng. Đây là giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn nhân lực và giảm lãng phí trong đào tạo. Phát triển mạnh hơn nữa hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong sử dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các trung tâm nghiên cứu, phát triển sẽ tạo môi trường để nhân lực trẻ tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo công nghệ phục vụ phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Phát triển thị trường lao động số cũng cần gắn với cải thiện chất lượng việc làm, bảo đảm điều kiện làm việc, thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp cho thanh niên. Môi trường lao động khuyến khích sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh và tôn trọng giá trị tri thức sẽ tạo động lực để nguồn nhân lực trẻ phát huy năng lực. Định hướng này phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng về phát triển kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong giai đoạn phát triển mới.

Bốn là, phát triển toàn diện năng lực số và kỹ năng mềm của nhân lực trẻ. Trong kỷ nguyên số, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ mà trở thành điều kiện nền tảng để tham gia thị trường lao động và xã hội hiện đại. Thực trạng nguồn nhân lực trẻ Việt Nam cho thấy mức độ phổ cập kỹ năng công nghệ đã được cải thiện nhưng còn chênh lệch giữa các vùng, giữa các nhóm lao động và giữa trình độ đào tạo với yêu cầu công việc. Vì vậy, cần triển khai chương trình phát triển năng lực số cho thanh niên theo hướng toàn diện, liên tục và phù hợp với từng cấp độ kỹ năng.

Việc phát triển năng lực số cần được thực hiện theo mô hình nhiều tầng, bao gồm phổ cập kỹ năng công nghệ cơ bản cho nhân lực trẻ, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ trong nghề nghiệp và đào tạo chuyên sâu đối với nhân lực công nghệ cao. Nội dung phát triển kỹ năng cần gắn với thực tiễn chuyển đổi số quốc gia, bao gồm kỹ năng khai thác dữ liệu, làm việc trong môi trường số, an toàn thông tin và ứng dụng công nghệ trong hoạt động nghề nghiệp. Đây là điều kiện để nguồn nhân lực trẻ không chỉ sử dụng công nghệ mà còn có khả năng thích ứng và sáng tạo trong môi trường số hóa.

Năm là, xây dựng tư duy phản biện, khả năng hợp tác, năng lực giao tiếp đa văn hóa và khả năng học tập suốt đời. Trong môi trường lao động linh hoạt và biến động nhanh, những năng lực này giúp người lao động trẻ thích ứng với thay đổi công nghệ và chuyển dịch nghề nghiệp. Việc kết hợp kỹ năng số với kỹ năng mềm sẽ tạo nền tảng cho năng lực sáng tạo và nâng cao năng suất lao động trong nền kinh tế tri thức. Phát triển năng lực số cũng cần gắn với xây dựng văn hóa số và đạo đức số của nhân lực trẻ. Ý thức trách nhiệm xã hội, tuân thủ chuẩn mực pháp lý và sử dụng công nghệ vì mục tiêu phát triển bền vững là những yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển lành mạnh của xã hội số.

4. Kết luận

Nguồn nhân lực trẻ Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển lớn cùng với tiến trình chuyển đổi số và đổi mới mô hình tăng trưởng. Giai đoạn 2015 -2025 cho thấy lực lượng lao động trẻ có lợi thế rõ rệt về quy mô và tiềm năng tiếp cận công nghệ, song còn tồn tại những hạn chế cơ bản về kỹ năng nghề nghiệp, năng lực số và cơ cấu phân bổ nhân lực. Những hạn chế này đang trở thành điểm nghẽn đối với quá trình nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế tri thức, cần có giải pháp đồng bộ để tháo gỡ.

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ cần được xác định là khâu đột phá chiến lược. Điều này đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, đổi mới giáo dục - đào tạo, phát triển thị trường lao động số và phát huy vai trò chủ thể của thanh niên trong học tập và sáng tạo. Định hướng phát triển nguồn nhân lực trẻ phù hợp với quan điểm chỉ đạo và chủ trương của Đảng ta về phát triển con người Việt Nam toàn diện, có tri thức, năng lực sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là điều kiện nền tảng bảo đảm phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

-------------------------------

Chú thích:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

4. https://www.nso.gov.vn/bai-top/2025/04/mot-so-net-chinh-thi-truong-lao-dong-quy-i-nam-2025/?utm_source=chatgpt.com

5.  https://e.vnexpress.net/news/business/economy/over-10-of-youth-neither-employed-nor-studying-4870967.html?utm_source=chatgpt.com

6. https://www.nso.gov.vn/bai-top/2025/04/mot-so-net-chinh-thi-truong-lao-dong-quy-i-nam-2025/?utm_source=chatgpt.com

7. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/thi-truong-lao-dong-viec-lam-cua-viet-nam-nam-2025-nhung-diem-sang-va-han-che/?utm_source=chatgpt.com

8. Tạp chí Quản lý nhà nước: “Quản trị nhân tài - từ lý thuyết đến thực tiễn”. đăng ngày 8 tháng 02 năm 2025. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/08/quan-tri-nhan-tai-tu-ly-thuyet-den-thuc-tien/

9. Nguyễn Bá Chiến, Nguyễn Văn Tạo, “Đổi mới tư duy về thu hút, trọng dụng nhân tài trong khu vực công hiện nay”. Tạp chí Cộng sản điện tử, đăng ngày 22 tháng 10 năm 2024.

TS Nguyễn Thị Trang - Học viện Hành chính và Quản trị công

Bài viết cùng tác giả