Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Thực thi pháp luật lao động đối với người lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

Ngày đăng: 14/03/2026   15:05
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Lao động giúp việc gia đình (LĐGVGĐ) đã xuất hiện từ rất lâu, đang ngày càng trở nên phổ biến và trở thành một bộ phận quan trọng của thị trường lao động, được xếp vào nhóm lao động đặc thù có nguy cơ bị tổn thương cao cần được pháp luật bảo vệ. Việt Nam là một trong những quốc gia sớm đưa chế độ, chính sách đối với LĐGVGĐ vào phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế. Bài viết phân tích khung pháp lý của Việt Nam về LĐGVGĐ, đánh giá thực trạng thực hiện một số quy định chủ yếu như: giao kết hợp đồng lao động, tham gia bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động và nghĩa vụ khai báo với chính quyền địa phương. Trên cơ sở đó, làm rõ các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khoảng cách giữa quy định pháp luật và triển khai trong thực tiễn; đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về LĐGVGĐ, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của LĐGVGĐ trong thời gian tới.

Từ khóa: Lao động giúp việc gia đình; pháp luật lao động; hợp đồng lao động; bảo hiểm xã hội; thực thi pháp luật.

Abstract: Domestic workers have existed for a long time and are becoming increasingly common, forming an important segment of the labour market. They are categorized as a group of workers with specific characteristics who face a high risk of vulnerability and therefore require legal protection. Vietnam is among the countries that early incorporated policies and regulations concerning domestic workers into the scope of its labour legislation. However, in practice, the implementation of legal provisions in this field remains limited. This article analyzes Vietnam’s legal framework governing domestic workers and assesses the implementation of several key provisions, including the conclusion of labour contracts, participation in social insurance, working hours and rest periods, occupational safety, and the obligation to report employment to local authorities. On that basis, the article identifies the main causes of the gap between legal provisions and their practical enforcement, and proposes several recommendations to enhance the effectiveness of law enforcement in this area, thereby contributing to the protection of the legitimate rights and interests of domestic workers in the coming period.

Keywords: Domestic workers; labour law; labour contracts; social insurance; law enforcement.

Ảnh minh họa

1. Khái quát về lao động giúp việc gia đình và khung pháp lý điều chỉnh

LĐGVGĐ là loại hình lao động đặc thù, gắn liền với các hoạt động phục vụ sinh hoạt trong các hộ gia đình như: dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, chăm sóc trẻ em, người già hoặc người bệnh. Quan hệ lao động giữa LĐGVGĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ) được thiết lập và thực hiện trong môi trường lao động rất đặc biệt: làm việc trong môi trường khép kín (trong phạm vi một gia đình hoặc một số hộ gia đình), mang tính đơn lẻ; công việc của người lao động chủ yếu là phục vụ sinh hoạt hàng ngày cho những thành viên trong gia đình NSDLĐ. Điều này làm gia tăng nguy cơ bị tổn thương đối với người lao động như: rủi ro về an toàn - vệ sinh lao động, bạo hành, quấy rối tình dục…, cần có cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo vệ.

Ở Việt Nam, cùng với quá trình đô thị hóa và điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng LĐGVGĐ đang tăng lên nhanh chóng. Tính đến năm 2024, cả nước có khoảng hơn một trăm nghìn người LĐGVGĐ(1), thị trường LĐGVGĐ ngày càng nhộn nhịp và thường xuyên ở trong tình trạng cung không đủ cầu. Đặc biệt, xu hướng dịch chuyển cũng giống xu hướng chung trên toàn cầu đó là việc dịch chuyển của dòng di cư từ nông thôn ra đô thị đang diễn ra mạnh mẽ. LĐGVGĐ chủ yếu là phụ nữ, có trình độ học vấn phổ biến ở bậc trung học cơ sở trở xuống, đến từ nông thôn, có mức sống nghèo và không được đào tạo nghề, độ tuổi của người lao động chủ yếu là trung niên (từ 36 - 65 tuổi), chiếm 61,5%, độ tuổi trung bình là 44,8 tuổi. Có sự tham gia của các nhóm dân tộc, tôn giáo khác nhau và sự tham gia chủ yếu của nữ giới cho thấy khác biệt giới trong lực lượng LĐGVGĐ. Việc tuyển chọn LĐGVGĐ thường được các gia đình lựa chọn dựa trên 3 tiêu chí quan trọng là: thật thà, chăm chỉ, khỏe mạnh. “Họ hàng, người quen” là kênh chủ yếu và đáng tin cậy được đa số các gia đình sử dụng để tìm LĐGVGĐ khi có nhu cầu thuê người giúp việc.

Nhận thức được tính đặc thù và những rủi ro tiềm ẩn của loại hình lao động này, Việt Nam đã sớm đưa chế độ, chính sách đối với LĐGVGĐ vào đối tượng áp dụng của pháp luật lao động. Ngay từ Bộ luật Lao động năm 1994, đã quy định một số nội dung cơ bản như giao kết hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, trách nhiệm bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho người lao động và nghĩa vụ thanh toán chi phí đi lại khi người lao động chấm dứt việc làm(2). Đến Bộ luật Lao động năm 2012, chế định về LĐGVGĐ được quy định đầy đủ, cụ thể hơn và tiếp tục được kế thừa trong Bộ luật Lao động năm 2019 với các nhóm nội dung chủ yếu về: quy định bắt buộc giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của các bên; tiền lương, bảo hiểm xã hội; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; an toàn - vệ sinh lao động; kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất; nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm quản lý LĐGVGĐ(3). Các quy định này tiếp tục được kế thừa trong Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn, qua đó hình thành khung pháp lý tương đối đầy đủ nhằm bảo vệ LĐGVGĐ. Mặc dù vậy, thực tiễn cho thấy việc thực hiện các quy định pháp luật về LĐGVGĐ vẫn còn nhiều hạn chế.

2. Thực trạng thực hiện pháp luật đối với lao động giúp việc gia đình

Thực hiện quy định về giao kết hợp đồng lao động.

Theo quy định của pháp luật lao động, quan hệ lao động giữa LĐGVGĐ và NSDLĐ phải được xác lập thông qua hợp đồng lao động bằng văn bản. Tuy nhiên, trên thực tế việc ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản trong khu vực này còn rất hạn chế.

Kết quả khảo sát năm 2025 tại sáu tỉnh/thành phố lớn(4) cho thấy phần lớn là hợp đồng ngắn hạn có thời hạn dưới một năm (chiếm khoảng 50%) hoặc hợp đồng không xác định thời hạn (khoảng 30%). Tuy nhiên, 92% quan hệ lao động được thiết lập dưới hình thức hợp đồng lao động bằng lời nói, chỉ có tỷ lệ rất nhỏ hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản. Thực trạng này càng dễ dẫn đến việc người lao động bị lạm dụng hoặc các bên không thực hiện đúng thỏa thuận ban đầu hoặc trường hợp người lao động tự ý nghỉ việc bất kỳ lúc nào, gây xáo trộn công việc và đời sống gia đình chủ sử dụng lao động, đồng thời gây khó khăn cho công tác quản lý, giải quyết tranh chấp lao động khi có bên vi phạm, phá vỡ thỏa thuận.

Thực hiện quy định về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.

Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định NSDLĐ phải trả cho người lao động, cùng với kỳ trả lương, một khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của NSDLĐ để người lao động chủ động tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, trên thực tế quy định này hầu như chưa được thực hiện (chỉ có khoảng 16% người lao động có thỏa thuận với NSDLĐ về khoản tiền này(5)), ngay cả trong số những người nhận được khoản tiền tương ứng với mức đóng bảo hiểm, phần lớn cũng không sử dụng để tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Thực hiện quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi.

Pháp luật lao động quy định, trong ngày làm việc bình thường thì ngoài thời giờ làm việc theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động theo quy định, NSDLĐ phải bảo đảm, tạo điều kiện cho người lao động được nghỉ ít nhất 8 giờ, trong đó có 6 giờ liên tục trong 24 giờ liên tục; LĐGVGĐ cũng được nghỉ hằng tuần, trường hợp NSDLĐ không thể bố trí nghỉ hằng tuần thì phải bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân ít nhất 01 ngày/tháng.

Trên thực tế, do đặc thù của công việc gắn với sinh hoạt của hộ gia đình, thời giờ làm việc của LĐGVGĐ thường không được xác định rõ ràng. Kết quả khảo sát tại sáu tỉnh/thành phố(6) cho thấy 60% người lao động làm việc không theo khung giờ cố định. Trong số 40% người lao động có thỏa thuận về giờ làm việc, số này phần lớn là những người không sống cùng gia đình người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, LĐGVGĐ thường không có ngày nghỉ hàng tuần cố định mà chủ yếu được nghỉ vào các dịp đặc biệt như lễ, tết hoặc khi có việc gia đình.

Thực hiện quy định về an toàn lao động và bảo hộ lao động.

Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định NSDLĐ phải trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động trong quá trình làm việc nhưng trong thực tế, việc bảo đảm điều kiện an toàn - vệ sinh lao động cho người giúp việc gia đình chưa được quan tâm đúng mức, chỉ khoảng 20% người lao động được trang bị các phương tiện bảo hộ lao động cơ bản(7). Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý là người LĐGVGĐ hiếm khi phải chịu trách nhiệm vật chất khi gây thiệt hại tài sản cho người sử dụng lao động. Thông thường, NSDLĐ không bắt người lao động bồi thường khi vô ý làm hỏng thiết bị, tài sản của gia đình trong quá trình làm việc trừ trường hợp cố ý phá hoại tài sản hoặc tài sản có giá trị lớn.

Điều kiện ăn ở của LĐGVGĐ sống cùng gia đình NSDLĐ.

Bộ luật Lao động quy định NSDLĐ có trách nhiệm bố trí chỗ ăn, ở hợp vệ sinh cho LĐGVGĐ trong trường hợp người lao động sống cùng gia đình NSDLĐ. Trên thực tế, các hộ gia đình sử dụng LĐGVGĐ đều có điều kiện kinh tế khá giả nên người lao động khi ở cùng chủ nhà cũng có điều kiện sinh hoạt tương đối ổn định. Tình trạng không được đảm bảo không gian sinh hoạt riêng chủ yếu xảy ra đối với những người làm công việc chăm sóc người bệnh, người cao tuổi hoặc trẻ em, những người này thường phải sinh hoạt túc trực bên cạnh thành viên của gia đình cần chăm sóc.

Thực hiện quy định về khai báo với chính quyền địa phương.

Pháp luật quy định NSDLĐ phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã khi sử dụng hoặc chấm dứt sử dụng LĐGVGĐ. Tuy nhiên, quy định này hầu như chưa được thực hiện, chỉ có khoảng 2% NSDLĐ thực hiện khai báo theo quy định(8). Nguyên nhân chủ yếu là do các bên không biết đến quy định này, đồng thời họ coi việc thuê LĐGVGĐ là vấn đề riêng của gia đình nên không quan tâm đến nghĩa vụ này.

3. Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật về lao động giúp việc gia đình

Những hạn chế trong việc thực hiện các quy định pháp luật về LĐGVGĐ xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, đặc thù của quan hệ lao động trong lĩnh vực giúp việc gia đình khiến việc áp dụng các quy định pháp luật gặp nhiều khó khăn do quan hệ lao động diễn ra trong không gian gia đình và dựa nhiều vào sự tin cậy cá nhân, các cơ quan, tổ chức bảo vệ người lao động khó tiếp cận, nắm bắt tình hình thực hiện.

Thứ hai, nhận thức pháp luật cũng như ý thức tôn trọng pháp luật của người lao động và NSDLĐ còn hạn chế, dẫn đến việc chưa tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật. Hầu hết LĐGVGĐ không được đào tạo bài bản, thiếu tính chuyên nghiệp, hạn chế về trình độ cũng như hiểu biết pháp luật do đó rất khó để bảo vệ quyền lợi cho những lao động này.

Thứ ba, công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực LĐGVGĐ còn gặp khó khăn do tính chất phân tán, đơn lẻ và khép kín của loại hình lao động này. Thêm vào đó, sự hạn chế về nguồn lực con người cũng như tài chính để thực hiện công tác quản lý nhà nước dẫn đến chưa đặt ưu tiên trong thực hiện công tác quản lý nhà nước về LĐGVGĐ dẫn đến việc các quy định này không được bảo đảm thực hiện trong thực tế.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động giúp việc gia đình

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đối với NSDLĐ và LĐGVGĐ để nâng cao nhận thức quyền và nghĩa vụ của họ. Cần đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm riêng có của NSDLĐ và LĐGVGĐ như tuyên truyền, phổ biến trực tiếp tại buổi sinh hoạt của tổ dân phố, của tổ chức chính trị xã hội tại địa phương (hội phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận tổ quốc…). Đồng thời, có thể xây dựng các tờ rơi (bản điện tử) gửi qua các mạng xã hội của nhóm dân cư tại địa phương.

Hai là, tăng cường công tác hỗ trợ, hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đối với NSDLĐ và LĐGVGĐ trong thực hiện quy định pháp luật. Đối với NSDLĐ, cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương cần quan tâm hỗ trợ, hướng dẫn xây dựng, thỏa thuận hợp đồng lao động với LĐGVGĐ (theo mẫu số 01/PLV ban hành kèm theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP); thực hiện thông báo về việc sử dụng LĐGVGĐ, thông báo về việc chấm dứt hợp đồng LĐGVGĐ (theo mẫu số 02/PLV, số 03/PLV ban hành kèm theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP); nghiên cứu áp dụng hình thức báo cáo điện tử để tạo điều kiện cho NSDLĐ thực hiện việc báo cáo. Đây là kênh thông tin quan trọng giúp cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương nắm tình hình sử dụng LĐGVGĐ trên địa bàn trong bối cảnh hạn chế về nguồn lực hiện này.

Đối với LĐGVGĐ, quan tâm hỗ trợ họ trong tìm việc, qua đó cung cấp các thông tin pháp luật cần thiết và giúp họ nắm được thông tin ban đầu của NSDLĐ; tạo điều kiện cho họ tham gia các khóa đào tạo, tập huấn ngắn ngày về pháp luật, về các kỹ năng, kiến thức phục vụ công việc giúp việc gia đình giúp họ nâng cao năng lực tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như năng suất lao động, giải quyết công việc hiệu quả, có thời gian để nghỉ ngơi tái tạo sức lao động.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động. Cơ quan quản lý nhà nước về lao động cần xây dựng cơ chế phù hợp để theo dõi và giám sát việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Đặc biệt ở cấp xã, cần phối kết hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể (hội phụ nữ, đoàn thanh niên, tổ dân phố…) trong việc theo dõi, giám sát cũng như tuyên truyền, phổ biến quy định pháp luật cho LĐGVGĐ và người sử dụng LĐGVGĐ trên địa bàn./.

-----------------------------------------------

Ghi chú:

(1) Số liệu tổng hợp của Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội theo báo cáo của 58/63 tỉnh, thành phố (trước khi sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh).

(2) Bộ luật Lao động năm 1994.

(3) Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019, Nghị định số 145/2020 ngày 14/12/2020 của Chính phủ.

(4),(5),(6),(7),(8) Kết quả khảo sát tình hình thực hiện pháp luật lao động giúp việc gia đình năm 2025 tại sáu tỉnh/thành phố của Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội trên mẫu khảo sát 640 lao động giúp việc gia đình.

ThS Vũ Thị Phương Oanh - Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội, Bộ Nội vụ