TNLĐ, BNN để lại hậu quả nặng nề, kéo dài cho người lao động và doanh nghiệp (Ảnh minh họa).
Theo quy định hiện hành, Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN được sử dụng cho nhiều nội dung chi, gồm trả phí khám giám định thương tật, bệnh tật; chi trợ cấp một lần, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp phục vụ; chi hỗ trợ phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; chi dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; chi hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về TNLĐ, BNN; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị TNLĐ, BNN khi trở lại làm việc; chi phí quản lý và chi đóng bảo hiểm y tế cho người nghỉ việc hưởng trợ cấp hằng tháng. Cấu trúc đó cho thấy đây không phải là một quỹ chỉ để bù đắp tổn thất sau rủi ro, mà là một nguồn lực an sinh có phạm vi sử dụng tương đối toàn diện, bao quát từ khâu giám định, trợ cấp, hỗ trợ phục hồi đến hỗ trợ phòng ngừa và bảo đảm điều kiện tái hòa nhập lao động.
Trong tổng thể ấy, phần chi hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro và phần chi gắn với phục hồi sức khỏe, hỗ trợ người lao động trở lại làm việc có ý nghĩa đặc biệt. Nếu các khoản trợ cấp là chỗ dựa quan trọng khi rủi ro đã phát sinh, thì hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro lại phản ánh rõ nhất tư duy chủ động của chính sách. Một vụ TNLĐ không xảy ra, một nguy cơ BNN được nhận diện sớm, một yếu tố có hại trong môi trường lao động được kiểm soát kịp thời luôn có giá trị lớn hơn nhiều so với một khoản chi bù đắp sau đó. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ trước hết phải được hiểu là làm cho Quỹ không chỉ xử lý hậu quả, mà còn góp phần hạn chế hậu quả ngay từ đầu.
Thực tiễn cho thấy TNLĐ và BNN luôn để lại hệ lụy nhiều tầng nấc. Với người lao động, đó là thương tổn về sức khỏe, suy giảm hoặc gián đoạn thu nhập, tâm lý bất an và nguy cơ mất cơ hội nghề nghiệp. Với gia đình, đó là gánh nặng chăm sóc, điều trị và áp lực sinh kế. Với doanh nghiệp, đó là tổn thất về nhân lực, năng suất, chi phí sản xuất và sự ổn định của hoạt động lao động. Với xã hội, đó là áp lực lên an sinh, y tế và quản trị lao động. Nếu Quỹ chỉ được nhìn như công cụ chi trả trợ cấp, chính sách mới dừng ở việc xử lý phần ngọn. Giá trị sâu hơn của Quỹ phải nằm ở chỗ góp phần làm giảm số vụ việc phát sinh, giảm mức độ tổn thương và tăng khả năng phục hồi của người lao động sau rủi ro.
Ở góc độ này, hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro không phải là phần việc phụ trợ, mà là biểu hiện rõ của tư duy dự phòng trong chính sách an sinh lao động. Nguồn lực từ Quỹ, nếu được sử dụng đúng hướng, có thể hỗ trợ cải thiện điều kiện lao động, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, độc hại, nâng cao nhận thức và năng lực tuân thủ an toàn, vệ sinh lao động, từ đó giảm thiểu nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN. Đây là cách sử dụng quỹ theo hướng đầu tư cho an toàn lao động, cho ổn định sản xuất và cho sức bền của thị trường lao động.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh vào phòng ngừa mà tách rời các nội dung chi khác của Quỹ thì sẽ làm hẹp đi ý nghĩa của chính sách. Hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro phải được đặt trong mối liên hệ với trợ cấp, hỗ trợ phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp. Ngay cả khi nguy cơ đã được giảm thiểu, TNLĐ và BNN vẫn có thể xảy ra. Khi đó, hiệu quả của quỹ không chỉ nằm ở việc người lao động có được hưởng trợ cấp hay không, mà còn ở việc họ có được hỗ trợ kịp thời để dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, sử dụng phương tiện trợ giúp sinh hoạt phù hợp và có cơ hội thích ứng để tiếp tục làm việc hay không. Nói cách khác, quỹ chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa khi các nội dung chi của Quỹ được vận hành trong một chuỗi thống nhất: phòng ngừa để giảm rủi ro, hỗ trợ để giảm tổn thương, phục hồi để khôi phục khả năng sống và khả năng lao động.
Vấn đề đáng lưu ý hiện nay là khoảng cách giữa phạm vi sử dụng của Quỹ với hiệu quả thực tế trong tổ chức thực hiện vẫn còn khá rõ. Những khoản chi mang tính bù đắp hậu quả thường hiện diện rõ hơn, trong khi phần chi cho hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro và phần chi gắn với phục hồi nhiều khi chưa phát huy hết vai trò. Ở không ít nơi, việc tiếp cận quỹ vẫn nặng về giải quyết chế độ phát sinh, trong khi tư duy sử dụng quỹ như một công cụ quản trị rủi ro chưa thật sự rõ nét. Điều đó khiến cho khả năng tạo tác động dài hạn của Quỹ chưa được khai thác tương xứng.
Sử dụng hiệu quả Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN để trở thành điểm tựa cho người lao động sau rủi ro (Ảnh minh họa).
Một điểm nghẽn quan trọng nằm ở cách xác định trọng tâm hỗ trợ. Muốn sử dụng nguồn lực hiệu quả, phải nhận diện được nhóm ngành, nghề, địa bàn, loại hình sản xuất và nhóm lao động có nguy cơ cao để ưu tiên hỗ trợ. Nhưng khi dữ liệu về TNLĐ, BNN, điều kiện môi trường lao động, kết quả giám định, tình trạng hưởng chế độ, nhu cầu dưỡng sức, phục hồi sức khỏe và khả năng trở lại làm việc còn phân tán, việc xác định đúng điểm rơi của các khoản chi rất dễ bị dàn trải. Khi đó, Quỹ vẫn chi đúng nội dung, nhưng chưa chắc đã chi đúng nơi cần thiết nhất và chưa chắc đã tạo ra hiệu quả xã hội cao nhất.
Bên cạnh đó, phương thức đánh giá hiệu quả sử dụng quỹ cũng cần được nhìn lại. Những chỉ số như số hồ sơ được giải quyết, số người được hưởng, số lượt hỗ trợ hay số hoạt động được tổ chức là cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải đo được tác động thực: nguy cơ có giảm không, số vụ tai nạn có giảm không, số trường hợp BNN được phát hiện sớm có tăng không, người lao động sau rủi ro có phục hồi tốt hơn không, thời gian gián đoạn lao động có rút ngắn hơn không, khả năng tiếp tục làm việc hoặc chuyển sang công việc phù hợp có được cải thiện không. Nếu không đo được những chuyển biến ấy, rất khó khẳng định quỹ đang được sử dụng theo hướng hiệu quả hơn, sắc hơn và đúng hơn với mục tiêu bảo vệ người lao động.
Đối với người lao động, quá trình sau TNLĐ hoặc BNN không chỉ là câu chuyện trợ cấp. Đó còn là hành trình khôi phục sức khỏe, khôi phục khả năng sinh hoạt, lấy lại sự tự tin và thích ứng để trở lại cuộc sống lao động. Một người được hỗ trợ phương tiện trợ giúp sinh hoạt phù hợp, được dưỡng sức, phục hồi sức khỏe đúng lúc, được tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp khi cần thiết sẽ có cơ hội tái hòa nhập tốt hơn. Từ góc nhìn ấy, nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ chính là làm cho các khoản chi của quỹ thật sự trở thành điểm tựa để người lao động không bị bỏ lại phía sau sau rủi ro nghề nghiệp.
Để đáp ứng yêu cầu đó, cần đổi mới cách tiếp cận trong điều hành quỹ, không chỉ chi đúng mà phải chi đúng trọng tâm, đúng đối tượng và tạo hiệu quả rõ ràng. Hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro cần được đặt ở vị trí trung tâm, gắn với toàn bộ chuỗi hỗ trợ của quỹ. Việc phân bổ nguồn lực phải dựa trên đánh giá nguy cơ, mức độ tổn thương và nhu cầu thực tế của người lao động, doanh nghiệp và từng ngành, nghề.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh chuẩn hóa và liên thông dữ liệu giữa các bên liên quan. Khi thông tin về TNLĐ, BNN và các chế độ hỗ trợ được kết nối đồng bộ, cơ quan quản lý mới có thể theo dõi đầy đủ quá trình hỗ trợ người lao động. Khi đó, việc sử dụng Quỹ sẽ chuyển từ xử lý từng trường hợp riêng lẻ sang điều hành theo bức tranh tổng thể về rủi ro lao động.
Quan trọng hơn, hiệu quả sử dụng Quỹ cần được nhìn ở ba khía cạnh: thể chế, quản trị và bảo vệ người lao động. Trong đó, thể chế phải đồng bộ, thống nhất; quản trị phải phân bổ nguồn lực đúng trọng tâm, kiểm soát rủi ro và tăng cường phối hợp; còn mục tiêu cốt lõi là bảo vệ người lao động, giúp họ được phòng ngừa tốt hơn, hỗ trợ kịp thời và phục hồi để sớm trở lại làm việc bền vững.
Sâu xa hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN không chỉ là vấn đề kỹ thuật tài chính, mà còn phản ánh năng lực tổ chức thực hiện chính sách, quản trị rủi ro và tinh thần phục vụ của quản lý nhà nước. Khi được sử dụng đúng hướng, các khoản chi sẽ liên kết thành một cơ chế bảo vệ tương đối trọn vẹn cho người lao động.
Có thể nói, yêu cầu đặt ra hiện nay không phải là thu hẹp Quỹ vào một vài nội dung chi riêng lẻ, mà là nhìn đầy đủ phạm vi sử dụng của quỹ, đồng thời làm nổi bật hơn vai trò của phần hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro và phần hỗ trợ phục hồi trong toàn bộ cấu trúc ấy. Khi một đồng quỹ được sử dụng đúng lúc để ngăn một vụ tai nạn, để giảm một mức độ tổn thương, để giúp một người lao động sớm ổn định cuộc sống và trở lại làm việc an toàn hơn, thì giá trị tạo ra luôn vượt xa ý nghĩa của một khoản chi bù đắp đơn thuần. Và chính ở điểm đó, quỹ mới thực sự phát huy đầy đủ ý nghĩa của mình: không chỉ chi trả cho hậu quả đã xảy ra, mà còn góp phần củng cố hiệu quả thể chế, nâng cao chất lượng quản trị và tăng cường mức độ bảo vệ người lao động trong một môi trường lao động an toàn hơn, nhân văn hơn và bền vững hơn./.
Lưu Nga
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả