Từ khóa: Cán bộ, công chức; cấp xã; chính quyền địa phương 02 cấp; năng lực.
Abstract: The implementation of organizational restructuring and the establishment of the two-tier local government model have opened up new space and a long-term vision for national development. However, the implementation process has posed numerous challenges, difficulties, and new requirements, particularly regarding the capacity of commune-level cadres and civil servants. Therefore, further enhancing the capacity of commune-level cadres and civil servants to meet the requirements of operating the two-tier local government model and advancing national development in the new era is a highly important task in the current period in Vietnam.
Keywords: cadres and civil servants; commune level; two-tier local government model; capacity.
![]()
Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ kiểm tra hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai (ngày 08/02/2026). Ảnh minh họa: VGP
1. Sắp xếp tinh gọn tổ
chức bộ máy để mở rộng không gian và tầm nhìn phát triển mới
Thực hiện các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương; thực hiện tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025), các bộ, ngành, địa phương đã tích cực xây dựng kế hoạch, phương án sắp xếp, phân công trách nhiệm, nhiệm vụ theo phương châm 06 rõ: “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả” bảo đảm việc sắp xếp tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương được thực hiện thống nhất, đồng bộ theo đúng chủ trương, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.
Sau khi thực hiện sắp xếp, tổ chức bộ máy (Báo cáo số 63-BC/ĐU ngày 23/9/2025) của Chính phủ khóa XV được tinh gọn, giảm 05 bộ, cơ quan ngang bộ, tương ứng giảm 22,7%. Sau tinh gọn, còn 14 bộ, 03 cơ quan ngang bộ, gồm: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Nội vụ; Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính; Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Xây dựng; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thanh tra Chính phủ; Văn phòng Chính phủ. Tính đến ngày 30/3/2026, có 05 cơ quan thuộc Chính phủ (giảm 03 cơ quan thuộc Chính phủ, tương ứng giảm 37,5%), gồm: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam; Thông tấn xã Việt Nam.
Về tổ chức bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sau sắp xếp, đã giảm mạnh số lượng đầu mối trực thuộc, giảm cấp trung gian; đáp ứng mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy. Cụ thể, giảm 13/13 tổng cục và tổ chức tương đương (tương ứng giảm 100%); giảm 509 cục và tổ chức tương đương (tương ứng giảm 76,2%); giảm 232 vụ (gồm 134 vụ và tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, giảm 98 vụ và tương đương thuộc tổng cục) và tổ chức tương đương (tương ứng giảm 57,4%); giảm 3.377 chi cục và tương đương chi cục (tương ứng giảm 93,8%); giảm 81/204 đơn vị sự nghiệp công lập trong cơ cấu tổ chức quy định tại các Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (tương ứng giảm 39,7%). Ngoài ra, các bộ, ngành đang tiếp tục thực hiện sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập khác trực thuộc theo chủ trương tại Nghị quyết số 19-NQ/TW; chỉ đạo, định hướng của Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW và tới đây tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Tổ chức bộ máy của Chính phủ khóa XV (nhiệm kỳ 2021-2026) và tổ chức bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sau sắp xếp đã cơ bản thực hiện đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương; bảo đảm tinh gọn, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Việc sắp xếp các cơ quan chuyên môn tại địa phương được thực hiện thuận lợi, bảo đảm tương đồng với việc sắp xếp các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan khác ở Trung ương. Thực hiện Nghị định số 45/2025/NĐ-CP, đến ngày 10/3/2025 (trước khi thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập cấp xã và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp), các địa phương đã giảm 323 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (tương ứng giảm 29,1%), giảm 1.454 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện (tương ứng giảm 17,5%).
Khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương (CQĐP) 02 cấp từ ngày 01/7/2025, thực hiện Nghị định số 150/2025/NĐ-CP, các địa phương tiếp tục giảm 366 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (tương ứng giảm 44% so với trước khi sáp nhập đơn vị hành chính); giảm 100% cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và thành lập cấp phòng tại UBND cấp xã theo quy định. Theo đó, các địa phương đã giảm 711 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (tương ứng giảm 60,5%), giảm 8.289 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện (giảm 100%). Thực hiện quy định mới về CQĐP 02 cấp, cả nước đã thành lập 465 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và 9.916 phòng chuyên môn tại các xã, phường, đặc khu.
Cùng với việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh từ Trung ương đến địa phương, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, bảo đảm căn cứ pháp lý về thể chế để các cơ quan, đơn vị, tổ chức vận hành, đi vào hoạt động ổn định, bảo đảm tính thông suốt, liên tục, không bị gián đoạn công việc, nhiệm vụ chính trị quan trọng của từng cấp, từng ngành. Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua 34 luật, 34 nghị quyết; Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua 51 luật, 39 nghị quyết, là kỳ họp có khối lượng lập pháp lớn nhất từ trước đến nay, chiếm tới 30% tổng số luật, nghị quyết quy phạm pháp luật được Quốc hội ban hành của cả nhiệm kỳ 2021-2026. Cụ thể như Luật Dẫn độ, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Tương trợ tư pháp về dân dự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Dân số, Luật Phòng bệnh, Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo…
Các quy định pháp luật được ban hành thời điểm này đã thể hiện được những quyết sách lớn về cơ chế đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá giáo dục và đào tạo; liên quan đến bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe Nhân dân; về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đưa khoa học - công nghệ thành động lực chủ yếu trong phát triển, tăng trưởng kinh tế; về hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục khó khăn, cải thiện môi trường dầu tư kinh doanh để phát triển thị trường bền vững… Các quy định mới và những quyết sách mang tính chiến lược này đã tạo bứt phá, mở đường cho sự đổi mới căn bản của đất nước trong kỷ nguyên mới. Gắn với các luật, nghị quyết là các văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của Chính phủ cũng đã được ban hành để cụ thể hóa, hướng dẫn các quy định của Luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, thông suốt trong hệ thống pháp luật.
Nền tảng lớn về đường lối chỉ đạo, các văn bản quy phạm pháp luật được hoàn thiện đã tạo hành lang pháp lý cho việc vận hành tổ chức bộ máy sau sắp xếp được hiệu quả, liên tục, nhất là phát huy cao năng lực chỉ đạo, điều hành của các bộ, ngành Trung ương; phát huy tính chủ động, sáng tạo, năng lực quản trị địa phương khi chuyển từ mô hình quản lý sang mô hình quả trị kiến tạo phát triển với phương châm: “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Với chức năng, nhiệm vụ mới của CQĐP khi vận hành mô hình 02 cấp, bên cạnh việc đặt ra nhiều cơ hội mới cho việc phát huy tính chủ động, lợi thế cạnh tranh giữa các địa phương, khơi thông nguồn lực tiềm năng của từng địa phương là những thách thức, khó khăn lớn khi khối lượng nhiệm vụ được giao lớn; tính chất nhiệm vụ, thẩm quyền có sự thay đổi so với trước khi sắp xếp đòi hỏi nhiều nỗ lực, nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao từ cơ sở.
Với khối lượng nhiệm vụ mới được giao từ các luật, pháp lệnh, nghị quyết; từ nhiệm vụ cấp huyện chuyển về cấp xã hoặc chuyển lên cấp tỉnh khi bỏ cấp huyện; từ nhiệm vụ, thẩm quyền được phân cấp, phân quyền từ chính quyền cấp trên… khiến cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã khó khăn bước đầu khi tiếp cận thực hiện nhiệm vụ. Nhiều CBCC chưa đủ kinh nghiệm, năng lực để xử lý khối lượng công việc, nhiệm vụ được đánh giá là lớn hơn nhiều lần so với cấp xã trước đây; khả năng phản ứng và tiếp cận nhanh với công việc chưa cao; năng lực xử lý tình huống phát sinh từ thực tiễn khi vận hành mô hình CQĐP 02 cấp còn lúng túng, bị động; trình độ, năng lực của CBCC chưa đồng đều; nhiều CBCC thực thi nhiệm vụ với chuyên ngành được đào tạo chưa phù hợp vị trí việc làm, thiếu hụt nguồn nhân lực phù hợp chuyên môn ở cấp xã; các chi phí lớn duy trì đời sống sinh hoạt so với mức lương và các khoản phụ cấp chưa tương xứng đã tác động đến tư tưởng, nguyện vọng, khả năng bám trụ, tâm huyết với công việc, nhiệm vụ của CBCC ở cơ sở sau sắp xếp.
Trước những khó khăn và đòi hỏi của thực tiễn, cần có giải pháp cấp bách, đồng thời có giải pháp mang tính chất chiến lược lâu dài để khắc phục, nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần phát triển đất nước với mục tiêu tăng trưởng hai con số liên tiếp trong nhiều năm, hiện thực hóa các mục tiêu, tầm nhìn phát triển quan trọng, hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (1930-2030), 100 năm thành lập nước (1945-2045).
2. Giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, Chính phủ đã kịp thời ban hành các chính sách, chế độ đối với CBCC để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và có các quyết sách mới để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Cụ thể, một số quy định của Chính phủ đối với các trường hợp không tái cử, tái bổ nhiệm và cán bộ thôi việc, nghỉ hưu theo nguyện vọng; chế độ, chính sách đối với CBCC trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; về chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng… đã góp phần quan trọng giải quyết những vấn đề cơ bản về chế độ, chính sách đối với CBCC, nhất là ở cấp xã. Tuy nhiên, để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển nguồn nhân lực, nhất là đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra về: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở, có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính…”, đáp ứng yêu cầu vận hành CQĐP 02 cấp, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần có các giải pháp đồng bộ sau:
Một là, để khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực phù hợp chuyên môn, chuyên ngành được đào tạo của CBCC cấp xã, các địa phương cần có các giải pháp trong thực hiện luân chuyển, điều động, biệt phái, tăng cường CBCC cấp tỉnh về cho cấp xã, nhất là các lĩnh vực khó, lĩnh vực chuyên ngành chuyên sâu như công nghệ thông tin, xây dựng, kiến trúc, quy hoạch, đất đai, tài nguyên… để bù đắp thiếu hụt trước mắt về nguồn nhân lực tại cấp xã. Tuy nhiên, đây chưa phải là giải pháp mang lại hiệu quả triệt để và áp dụng xuyên suốt, bởi vì nguồn nhân lực từ cấp tỉnh được tăng cường chỉ thực hiện nhiệm vụ với một thời gian xác định và với các nhiệm vụ chuyên môn khó, cần thời gian tiếp cận, chuyển giao. Do đó, sự chủ động trong việc tiếp cận nhiệm vụ để nhận chuyển giao kinh nghiệm, kỹ năng, nghiệp vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, công chức cấp xã là hết sức cần thiết.
Hai là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CBCC cấp xã để một mặt nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; đủ trình độ, kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ được giao tại các văn bản quy phạm pháp luật, các nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền và các nhiệm vụ được chuyển từ cấp huyện xuống cấp xã; mặt khác để giải quyết lâu dài về tình trạng CBCC thiếu hụt chuyên ngành đào tạo phù hợp vị trí việc làm; thiếu CBCC có chuyên môn sâu về nghề nghiệp.
Ba là, áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành và cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương đê tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Nghị định số 179/2024/NĐ-CP về chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã mở ra các quy định về thu hút nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu thực tiễn về nhu cầu nhân lực của từng cơ quan, đơn vị. Đồng thời, tại các quy định của pháp luật hiện hành cũng đã cho phép về việc ký hợp đồng làm việc trong trường hợp cơ quan, đơn vị có nhu cầu, phù hợp chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền để đáp ứng ngay nhiệm vụ được giao, tránh bị gián đoạn công việc, tránh bỏ sót nhiệm vụ do khó khăn, không đủ nguồn nhân lực tiếp nhận.
Bốn là, tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong các cơ quan, đơn vị gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC. Theo đó, số biên chế của cấp xã nói riêng và các bộ, ngành Trung ương, CQĐP nói chung tiếp tục thực hiện giảm theo lộ trình giai đoạn 2022-2026. Tới đây, khi được phê duyệt của cấp có thẩm quyền và xây dựng tiêu chí, xác định phương án phù hợp, số lượng biên chế của địa phương sẽ được giao theo giai đoạn 2026-2031 và thực hiện tinh giản theo quy định. Việc cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã cần thực hiện bài bản, nghiêm túc và chặt chẽ, mạnh dạn cho thôi việc đối với CBCC không đủ năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ, nhất là trong bối cảnh mới yêu cầu rất cao về trình độ chuyên môn, khả năng phản ứng nhanh, kỹ năng xử lý tình huống trong môi trường chuyển đối số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Theo đó, mỗi CBCC cần tự rèn luyện, tự học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện kỹ năng, bản lĩnh chính trị và chuyên môn để chất lượng tham mưu, đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Năm là, cùng với việc kiện toàn đội ngũ nhân sự, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của CBCC, bởi đây là yếu tố quan trọng để ổn định tư tưởng, nâng cao chất lượng đời sống. Trọng tâm là các ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, các điều kiện hỗ trợ về tinh thần như nghỉ dưỡng, chăm lo cho cán bộ, công chức trong các ngày nghỉ, ngày lễ tết… ngoài chế độ tiền lương theo quy định, cần có cơ chế phụ cấp và các khoản chi phí tăng thêm phù hợp điều kiện thực tiễn của địa phương để giải quyết vấn đề thiếu hụt chi phí, nâng cao chất lượng đời sống CBCC; bảo đảm mức lương từng bước tiệm cận với quan hệ tiền lương của khu vực doanh nghiệp, đời sống phải được từng bước nâng lên, là động lực để CBCC gắn bó lâu dài với công việc, cơ quan, đơn vị.
Sáu là, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển và là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với việc xây dựng chính quyền số, xã hội số, công dân số, xây dựng đô thị văn minh, quản trị hiện đại. Do đó, CBCC cấp xã phải không ngừng ứng dụng công nghệ số, kỹ năng số trong thực thi nhiệm vụ; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, điều hành; khai thác tài nguyên số để thúc đẩy kết nối, sáng tạo, phát triển, liên kết các xã, các vùng, liên vùng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Với mục tiêu được Đảng ta xác định đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển thu nhập cao… các giải pháp để hiện thực hóa các mục tiêu cần được xác định, thực hiện đồng bộ, trong đó có giải pháp về chất lượng nguồn nhân lực. Đối với chính quyền cấp xã, được xác định là cấp gần dân, sát dân nhất và CBCC được xác định có vai trò quan trọng trong việc nhận diện, nắm bắt nhanh chóng những khó khăn, vướng mắc xuất phát từ thực tiễn và cũng là chủ thể để truyền đạt, áp dụng, hướng dẫn các chủ trương, chính sách, pháp luật từ cấp trên một cách nhanh chóng, thuận lợi nhất. Theo đó, nâng cao chất lượng và năng lực đội ngũ CBCC cấp xã không chỉ là nhiệm vụ cần thực hiện trước mắt, mà cần có chiến lược, giải pháp lâu dài, thường xuyên và cần có sự chung tay hành động để góp phần tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao từ cơ sở, đóng vai trò quan trọng để vận hành hiệu quả mô hình CQĐP 02 cấp và sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
-----------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị Trung ương 6 khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
3. Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW.
4. Chính phủ, Báo cáo số 63-BC/ĐU ngày 23/9/2025 của Đảng ủy Chính phủ báo cáo Ban Tổ chức Trung ương về đánh giá tình hình, kết quả vận hành mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính nhà nước và chính quyền địa phương 02 cấp.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, tập II, Nxb CTQG-ST, H.2026.
TS Phạm Đức Toàn
Phó Trưởng ban, Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương
TS Trần Thị Minh Châu
Phó Vụ trưởng, Vụ Tổ chức biên chế, Bộ Nội vụ
.
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả