Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá ở Việt Nam

Ngày đăng: 28/04/2026   21:30
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Bài viết phân tích việc thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá ở Việt Nam trên cơ sở tiếp cận quyền văn hoá, công bằng xã hội, gắn với các quy định của Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở xác định nội hàm của chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá, thực trạng thực hiện chính sách cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc bảo đảm quyền ưu đãi hưởng thụ văn hoá của người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế như: chênh lệch về mức độ hưởng thụ văn hoá giữa các vùng miền vẫn còn lớn, hiệu quả hoạt động của nhiều thiết chế văn hoá cơ sở còn thấp, đầu tư cho văn hoá còn hạn chế và dàn trải… Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp theo hướng tiếp cận dựa trên nhu cầu, tăng cường công bằng văn hoá và đẩy mạnh chuyển đổi số.

Abstract: This article analyzes the implementation of policies on preferential access to cultural enjoyment in Vietnam based on a cultural rights and social equity approach, in line with the provisions of the 2013 Constitution. By clarifying the conceptual scope of these policies, the study finds that, despite certain achievements, significant limitations remain in ensuring citizens’ rights to preferential cultural access - particularly for vulnerable groups. These include persistent disparities in cultural participation across regions, the low effectiveness of many grassroots cultural institutions, and limited as well as fragmented investment in culture. Based on these findings, the study proposes a system of solutions oriented toward a needs-based approach, strengthening cultural equity, and promoting digital transformation.

Từ khoá: chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá; giải pháp.

Keywords: preferential cultural access policy; solutions.


1. Đặt vấn đề

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội và động lực quan trọng của phát triển bền vững. Quyền tiếp cận và hưởng thụ văn hoá của người dân đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn tồn tại sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền và nhóm xã hội do rào cản kinh tế, địa lý và khả năng tiếp cận. Điều này đòi hỏi phải có chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá để bảo đảm công bằng và nâng cao đời sống tinh thần.

2. Khái niệm chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá

Trong hệ thống chính sách văn hoá, ưu đãi hưởng thụ văn hoá là một khái niệm chưa được định nghĩa chính thức trong một văn bản pháp luật riêng biệt, nhưng có thể được hiểu trên cơ sở tổng hợp các quy định hiện hành và tiếp cận lý thuyết.

Từ góc độ các quy định hiện hành, quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa ở Việt Nam được khẳng định tại Điều 41, Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp thúc đẩy quyền thụ hưởng văn hóa của tất cả người dân trong xã hội.

Tại Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá, xác định đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa những người yếu thế trong xã hội như những người sống ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, người có công với cách mạng, người thuộc diện chính sách xã hội. Đồng thời, quy định những hoạt động văn hóa để thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa bao gồm: biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim nhựa hoặc băng hình; thư viện; thông tin lưu động; triển lãm; bảo tàng, di tích… với các mức độ ưu đãi khác nhau như: miễn phí, giảm phí, hưởng thụ các thành tựu văn hoá trong sách, báo…

Từ góc độ các chuẩn mực quốc tế, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (Universal Declaration of Human Rights) là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Tại Điều 27 của Tuyên ngôn có quy định: “Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích từ đó. Mọi người đều có quyền được bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ tác phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả”(1).

Từ cách tiếp cận tổng hợp trên, có thể xác định: Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá là hệ thống các biện pháp của Nhà nước nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm đối tượng nhất định, đặc biệt là nhóm yếu thế, được tiếp cận và thụ hưởng các giá trị, sản phẩm và dịch vụ văn hoá với chi phí thấp hoặc miễn phí một cách công bằng và thực chất.

3. Nội dung chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá

Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá được triển khai trên nhiều phương diện, hướng tới mở rộng cơ hội tiếp cận và nâng cao chất lượng tham gia đời sống văn hoá của người dân.

Trước hết, chính sách tập trung mở rộng khả năng tiếp cận các sản phẩm nghệ thuật và sáng tạo văn hoá. Người dân được tạo điều kiện để tiếp cận các loại hình nghệ thuật như sân khấu, âm nhạc, điện ảnh và các sản phẩm sáng tạo đương đại. Nội dung ưu đãi không chỉ dừng ở việc miễn, giảm chi phí tham gia mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận thông qua các chương trình biểu diễn phục vụ cộng đồng và nền tảng phân phối nội dung văn hoá. Qua đó, góp phần bảo đảm quyền tham gia đời sống văn hoá của người dân một cách thực chất.

Cùng với đó, chính sách chú trọng tạo điều kiện tiếp cận và tham gia di sản văn hoá, bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể. Người dân được tạo điều kiện tiếp cận, trải nghiệm và tham gia vào các hoạt động liên quan đến di sản văn hoá, bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể. Nội dung ưu đãi thể hiện ở việc hỗ trợ tham quan di tích, bảo tàng, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản, qua đó gắn kết giữa hưởng thụ và gìn giữ văn hoá. Điểm mới trong Luật Di sản văn hoá năm 2024 là đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm, nhấn mạnh vai trò chủ thể của cộng đồng trong gìn giữ và phát huy di sản văn hóa; coi cộng đồng không chỉ là đối tượng được hưởng lợi, mà là người đồng kiến tạo(2).

Một nội dung quan trọng khác là bảo đảm khả năng tiếp cận hệ thống thiết chế văn hoá công cộng như thư viện, nhà văn hoá, trung tâm văn hoá - thể thao. Chính sách ưu đãi được thực hiện thông qua miễn, giảm chi phí sử dụng, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động và sức hấp dẫn của các thiết chế này. Đây là nền tảng để mở rộng không gian sinh hoạt văn hoá trong cộng đồng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, chính sách ngày càng chú trọng mở rộng tiếp cận văn hoá trên nền tảng số. Việc phát triển thư viện số, bảo tàng số, cung cấp nội dung trực tuyến với chi phí phù hợp, cùng với hỗ trợ nâng cao năng lực số cho người dân, đã góp phần khắc phục rào cản về không gian và điều kiện tiếp cận. Quyết định số 4949/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về Chương trình thúc đẩy trải nghiệm văn hoá số là một minh chứng rõ nét cho định hướng này.

Bên cạnh đó, chính sách thể hiện rõ tính nhân văn khi ưu tiên các nhóm yếu thế trong xã hội như người nghèo, người cao tuổi, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số. Không chỉ dừng ở hỗ trợ tài chính, các chương trình còn hướng tới thiết kế sản phẩm và hoạt động văn hoá phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng, nhằm bảo đảm khả năng thụ hưởng một cách thực chất.

Cuối cùng, chính sách không chỉ dừng ở việc mở rộng cơ hội tiếp cận mà còn hướng tới phát triển năng lực và nhu cầu hưởng thụ văn hoá của người dân. Thông qua giáo dục văn hoá, bồi dưỡng thẩm mỹ và khuyến khích sự tham gia chủ động vào các hoạt động sáng tạo, sinh hoạt cộng đồng, chính sách góp phần chuyển từ hưởng thụ thụ động sang tham gia tích cực trong đời sống văn hoá. 

4. Thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá

4.1. Những kết quả đạt được

Hệ thống thể chế và thiết chế văn hoá từng bước được hoàn thiện, mở rộng, tạo nền tảng quan trọng để người dân tiếp cận các hoạt động văn hoá. Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ban hành kèm theo Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu “Bảo đảm ít nhất 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, 80% các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa trên môi trường số” là minh chứng thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền ưu đãi hưởng thụ văn hoá cho người dân. Quyết định số 373/QĐ-BVHTTDL ngày 28/02/2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt điều chỉnh một số nội dung của Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã cập nhật định hướng phát triển mới, bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể, quy hoạch vùng và định hướng tổ chức không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính(3).

Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cả nước có: 66 trung tâm văn hoá cấp tỉnh; 674/704 trung tâm văn hoá - thể thao hoặc nhà văn hoá cấp huyện, đạt tỷ lệ 96%; 8.217/10.599 trung tâm văn hoá - thể thao cấp xã, đạt tỷ lệ 76,8%; 77.380/98.455 nhà văn hoá cấp thôn, đạt tỷ lệ 78,6% và 60 đội thông tin lưu động cấp tỉnh(4). Điều này cho thấy phạm vi bao phủ của hạ tầng văn hoá đã được cải thiện đáng kể so với giai đoạn trước.

Bên cạnh đó, các chương trình đưa văn hoá về cơ sở, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, được triển khai tương đối đồng bộ. Ví dụ, tỉnh Nghệ An triển khai Đề án đưa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021- 2030(5). Hoạt động chiếu phim lưu động, biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân, tổ chức lễ hội truyền thống, lớp truyền dạy di sản văn hoá phi vật thể… đã góp phần nâng cao mức độ tiếp cận văn hoá của các nhóm đối tượng yếu thế.

Chính sách miễn, giảm phí tham quan di tích, bảo tàng và tham gia các hoạt động văn hoá công cộng được thực hiện khá rộng rãi đối với nhiều nhóm đối tượng như người có công, người cao tuổi, trẻ em. Nhờ đó, cơ hội tiếp cận các giá trị văn hoá được mở rộng hơn theo hướng công bằng xã hội.

Những chuyển biến về thể chế, hạ tầng và chính sách đã tác động tích cực đến mức độ tham gia đời sống văn hoá của người dân. Tỷ lệ hộ gia đình tham gia các hoạt động văn hoá, giải trí thường xuyên đã tăng trong những năm gần đây, phản ánh sự cải thiện về nhu cầu và điều kiện hưởng thụ văn hoá của người dân. Đặc biệt, ở cấp địa phương, một số tỉnh đã có những kết quả cụ thể đáng ghi nhận. Đơn cử như tại thành phố Hải Phòng, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025, Nhà trưng bày Bảo tàng Hải Phòng mở cửa 291 buổi và ước đón gần 30.000 lượt khách tham quan. Đối với hoạt động thư viện đã phục vụ 168.015 lượt người đọc với 302.000 lượt sách mượn; phát triển 905 thẻ bạn đọc(6).

4.2. Những hạn chế, bất cập

Trước hết, sự chênh lệch về mức độ hưởng thụ văn hoá giữa các vùng miền vẫn còn lớn. Trong khi khu vực đô thị có điều kiện tiếp cận đa dạng các loại hình văn hoá hiện đại như rạp chiếu phim, nhà hát, triển lãm, thì ở nhiều vùng nông thôn và miền núi, người dân chủ yếu tiếp cận văn hoá thông qua các thiết chế cơ sở với nội dung còn đơn điệu. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc tiếp cận các sản phẩm văn hoá số và dịch vụ văn hoá chất lượng cao còn rất hạn chế, dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá. Đánh giá tại Nghị quyết số 80-NQ/TW, “Mức độ tiếp cận và hưởng thụ văn hoá của người dân còn chênh lệch giữa các vùng, miền, địa phương”(7).

Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của nhiều thiết chế văn hoá cơ sở còn thấp(8). Không ít nhà văn hoá xã, thôn hoạt động mang tính hình thức, thiếu nội dung hấp dẫn, thiếu cán bộ chuyên môn và nguồn lực vận hành. Điều này làm giảm đáng kể hiệu quả của chính sách ưu đãi, khi hạ tầng có nhưng không phát huy được vai trò thực chất.Nhiều nơi, nhà văn hóa xã hoạt động cầm chừng, thư viện cấp huyện nghèo nàn, rạp chiếu phim vắng bóng, sân chơi văn hóa dành cho thanh thiếu niên ít ỏi. Trong khi đó, ở các đô thị lớn, hoạt động sáng tạo, trình diễn, triển lãm, giao lưu văn hóa diễn ra sôi động”(9).

Một hạn chế đáng chú ý khác là cơ cấu hưởng thụ văn hoá còn mất cân đối giữa các loại hình. Thực tiễn cho thấy người dân có xu hướng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động gắn với di tích và lễ hội, trong khi mức độ tiếp cận bảo tàng, thư viện, nghệ thuật hàn lâm còn thấp.

Cùng với đó, nguồn lực đầu tư cho văn hoá còn hạn chế và chưa đồng đều. Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho văn hoá vẫn ở mức thấp so với yêu cầu phát triển, trong khi cơ chế huy động nguồn lực xã hội chưa thực sự hiệu quả.Ngân sách cho văn hóa tuy đã có bước tăng, nhưng tỷ trọng trong tổng chi ngân sách vẫn còn khiêm tốn; nhiều địa phương vẫn khó đạt mức khoảng 2% chi cho văn hóa - con số vốn đã không phải là cao nếu so với tầm quan trọng của lĩnh vực này”(10). Ngoài ra, chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá còn thiên về hỗ trợ bề rộng, chưa chú trọng chiều sâu. Nhiều chính sách tập trung vào miễn, giảm phí, trong khi chưa có các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nội dung văn hoá, phát triển sản phẩm phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thanh niên và người dân vùng khó khăn. Việc ứng dụng công nghệ số trong cung cấp dịch vụ văn hoá còn chậm.

4.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá

Những hạn chế trong thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, đan xen cả ở khâu thiết kế chính sách, tổ chức thực thi và các điều kiện kinh tế - xã hội.

Trước hết, từ góc độ thiết kế chính sách. Việc thiết kế chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá còn mang tính dàn trải và chưa thực sự dựa trên nhu cầu cụ thể của từng nhóm đối tượng. Thực tế cho thấy, nhiều chính sách hiện nay chủ yếu tập trung vào miễn, giảm chi phí tiếp cận (vé tham quan, dịch vụ công), trong khi chưa quan tâm đầy đủ đến các rào cản phi vật chất như năng lực tiếp nhận văn hoá, thói quen tiêu dùng văn hoá hay sự phù hợp về nội dung.

Ở khâu thực thi. Năng lực của đội ngũ cán bộ văn hoá cơ sở còn hạn chế, đặc biệt ở vùng nông thôn và miền núi. Việc thiếu cán bộ chuyên môn dẫn đến tình trạng các thiết chế văn hoá hoạt động hình thức, thiếu sáng tạo và không đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong triển khai chính sách chưa chặt chẽ, công tác giám sát và đánh giá chính sách chưa được chú trọng đúng mức.

Một yếu tố quan trọng khác là hạn chế về nguồn lực và cơ chế tài chính. Mặc dù Nhà nước đã quan tâm đầu tư cho lĩnh vực văn hoá, nhưng tỷ lệ chi ngân sách cho văn hoá vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển. Bên cạnh đó, cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho văn hoá chưa thực sự hiệu quả. Các chính sách khuyến khích xã hội hoá còn thiếu tính hấp dẫn, chưa tạo động lực đủ mạnh để doanh nghiệp và các tổ chức tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ văn hoá, đặc biệt ở khu vực khó khăn.

Ngoài ra, sự khác biệt về đặc điểm kinh tế - xã hội và văn hoá vùng miền cũng là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hưởng thụ văn hóa. Ở các vùng đô thị, thu nhập cao hơn, trình độ dân trí cao hơn và hạ tầng phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các sản phẩm văn hoá đa dạng. Ngược lại, ở vùng nông thôn và miền núi, người dân phải ưu tiên các nhu cầu thiết yếu, dẫn đến nhu cầu và khả năng tham gia hoạt động văn hoá bị hạn chế.

Bên cạnh đó, tác động của chuyển đổi số đang đặt ra những thách thức mới. Dù mở ra nhiều cơ hội trong sản xuất, phân phối và tiêu dùng văn hoá, việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn chậm so với yêu cầu thực tiễn. Hạ tầng số tại nhiều địa bàn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, còn yếu, khiến người dân khó tiếp cận các sản phẩm văn hoá số; đồng thời, năng lực số của một bộ phận người dân còn thấp, làm gia tăng khoảng cách trong hưởng thụ văn hoá.

5. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá

Trên cơ sở những hạn chế đã chỉ ra, việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, hướng tới bảo đảm công bằng và nâng cao chất lượng tiếp cận văn hoá của người dân.

Thứ nhất, hoàn thiện thiết kế chính sách theo hướng tiếp cận dựa trên nhu cầu và công bằng văn hóa. Cần chuyển từ tư duy cung cấp đồng đều sang tiếp cận theo nhu cầu và mức độ thiệt thòi. Để thực hiện giải pháp cần rà soát, điều chỉnh các chính sách hiện hành theo hướng phân loại rõ các nhóm đối tượng (người nghèo, thanh niên, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số…). Xây dựng các gói hỗ trợ khác nhau: không chỉ miễn/giảm phí mà còn hỗ trợ tiếp cận (di chuyển, thông tin, kỹ năng).

Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hoá cơ sở. Cần đổi mới nội dung hoạt động nhà văn hoá theo hướng gắn với nhu cầu cộng đồng (câu lạc bộ kỹ năng, sinh hoạt văn hoá sáng tạo, giáo dục văn hoá số…). Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hoá cơ sở theo hướng chuyên nghiệp hóa. Thực hiện cơ chế đánh giá hiệu quả thiết chế dựa trên số lượt tham gia, mức độ hài lòng của người dân thay vì chỉ tiêu hình thức.

Thứ ba, thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hoá giữa các vùng miền. Các biện pháp cần triển khai có thể ưu tiên đầu tư ngân sách cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong phát triển thiết chế và hoạt động văn hoá. Mở rộng các chương trình đưa văn hoá về cơ sở với tần suất và chất lượng cao hơn (biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm lưu động). Phát triển các sản phẩm văn hoá phù hợp với đặc thù địa phương, kết hợp bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống…

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm mở rộng khả năng tiếp cận văn hoá. Các biện pháp cụ thể cần thực hiện như: phát triển các nền tảng văn hoá số quốc gia (thư viện số, bảo tàng số, dữ liệu di sản); Hỗ trợ thiết bị và hạ tầng truy cập internet cho vùng khó khăn thông qua các chương trình mục tiêu; Tổ chức các chương trình nâng cao năng lực số cho người dân, đặc biệt là thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số …

Thứ năm, đổi mới cơ chế tài chính và thúc đẩy xã hội hoá trong lĩnh vực văn hoá. Cần đa dạng hoá nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng. Để thực hiện cần tăng tỷ lệ chi ngân sách cho văn hoá theo lộ trình phù hợp với mục tiêu phát triển. Xây dựng cơ chế ưu đãi về thuế, đất đai để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực văn hoá. Phát triển mô hình hợp tác công - tư trong cung cấp dịch vụ văn hoá. Hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sáng tạo sản phẩm văn hoá phục vụ cộng đồng, đặc biệt ở vùng khó khăn… Đồng thời với đó là nâng cao nhận thức về nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân.

***

Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển văn hoá và con người Việt Nam. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách này không chỉ góp phần bảo đảm công bằng xã hội mà còn tạo nền tảng cho phát triển bền vững./.

-------------------------------------------

Ghi chú:

(1) Hồ Thị Nga, Pháp luật về quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa ở Việt Nam, https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=342.

(2) https://nhandan.vn/he-thong-chinh-sach-moi-va-yeu-cau-nang-cao-hieu-qua-quan-ly-di-san-post925507.html.

(3) https://bacninh.gov.vn/news/-/details/37632/hoan-thien-mang-luoi-thiet-che-van-hoa-the-thao-ong-bo-hien-ai-en-nam-2045-98367359.

(4) Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2022), Báo cáo Công tác văn hóa, thể thao và du lịch năm 2022; phương hướng, nhiệm vụ năm 2023.

(5) https://lienhiepkhktnghean.org.vn/tin-tuc-tong-hop/nghe-an-trien-khai-de-an-dua-cac-hoat-dong-van-hoa-nghe-thuat-phuc-vu-vung-sau-vung-xa-bien-gioi-hai-dao-vung-dan-toc-thieu-so-giai-doan-2021-2030-168.html.

(6) Báo cáo số 202/BC-SVHTTDL ngày 03/6/2025 của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hải Phòng về công tác văn hoá, thể thao và du lịch.

(7) Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 về phát triển văn hoá Việt Nam.

(8) https://daibieunhandan.vn/thiet-che-van-hoa-thua-hay-thieu-10336693.html.

(9), (10) https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/15-thach-thuc-lon-doi-voi-su-phat-trien-van-hoa-trong-nhiem-ky-dai-hoi-xiv-nhin-thang-de-but-pha-trong-ky-nguyen-moi

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013.

2. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2026), Quyết định số 373/QĐ-BVHTTDL ngày 28/02/2026 phê duyệt điều chỉnh một số nội dung của Quy hoạch mạng lưới cơ sở văn hóa và thể thao thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025), Quyết định số 4949/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2025 ban hành Chương trình thúc đẩy trải nghiệm văn hóa số để khuyến khích người dân tiếp cận các sản phẩm văn hóa trên môi trường số.

4. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2030.

5. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 về chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá.

6. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Dương Hoa Lê - Khoa Văn hoá và Kiến thức cơ bản, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam

Bài viết cùng tác giả