Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Bản chất và đặc trưng của lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số ở Việt Nam - tiếp cận từ triết học Mác - Lênin

Ngày đăng: 04/05/2026   14:36
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Kinh tế số không chỉ tạo thêm công cụ mới cho sản xuất mà đang làm biến đổi chính kết cấu của lực lượng sản xuất, nói cách khác là lực lượng sản xuất mới. Trong bối cảnh đó, nhận diện đúng bản chất và những đặc trưng của lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam có ý nghĩa cung cấp luận cứ khoa học phục vụ trực tiếp công tác hoạch định đường lối phát triển, hoàn thiện thể chế và xây dựng nguồn lực cho giai đoạn tăng trưởng mới, trong kỷ nguyên mới. Từ tiếp cận của triết học Mác - Lênin, bài viết làm rõ cơ sở lý luận của khái niệm lực lượng sản xuất mới, chỉ ra các đặc trưng nổi bật của lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số, đồng thời đề xuất một số định hướng phát triển ở Việt Nam gắn với tinh thần Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW

Từ khóa: dữ liệu; đổi mới sáng tạo; kinh tế số; lao động số; lực lượng sản xuất mới; triết học Mác - Lênin.

Abstract: The digital economy not only provides new tools for production but is also transforming the very structure of the productive forces; in other words, it is giving rise to new productive forces. In this context, properly identifying the nature and characteristics of the new productive forces in Vietnam is of significant importance, as it provides a scientific basis for policymaking on development orientations, institutional improvement, and resource building for a new stage of growth in a new era. From the perspective of Marxist-Leninist philosophy, this article clarifies the theoretical foundations of the concept of new productive forces, identifies their salient characteristics in the digital economy, and proposes several development orientations for Vietnam in alignment with the spirit of the Documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam, Resolution No. 57-NQ/TW, and Resolution No. 71-NQ/TW.

Keywords: data; innovation; digital economy; digital labor; new productive forces; Marxist-Leninist philosophy.

Mở đầu

Trong quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử mác xít, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất của phương thức sản xuất, phản ánh trình độ chiếm lĩnh tự nhiên, tổ chức lao động và tạo ra đời sống vật chất của xã hội của con người. Khi bước vào thời đại số, sự vận động ấy đang diễn ra với nhịp độ và hình thức chưa từng có: tri thức, dữ liệu, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, mạng kết nối và năng lực đổi mới sáng tạo ngày càng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng. Vì thế, vấn đề đặt ra không còn là mô tả sự xuất hiện của công nghệ mới, mà phải nhận diện đúng sự chuyển hóa về chất của lực lượng sản xuất trong bối cảnh mới.

Ở Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao đã được khẳng định rõ trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, và Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học hiện nay, khái niệm “lực lượng sản xuất mới” vẫn còn bị hiểu theo nhiều cách khác nhau: có nơi đồng nhất với công nghệ số; có nơi chỉ xem đó là biểu hiện của kinh tế số; có nơi lại tách rời khỏi quan hệ sản xuất và thể chế phát triển. Bởi vậy, cần tiếp cận, xem xét vấn đề dưới giác độ triết học mác xít để làm rõ bản chất của khái niệm “lực lượng sản xuất mới”, từ đó có giải pháp vận dụng phù hợp thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

1. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nhận diện lực lượng sản xuất mới

1.1. Lực lượng sản xuất với tư cách một phạm trù nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử

Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, lực lượng sản xuất không phải là một tập hợp kỹ thuật thuần túy, mà là sức sản xuất hiện thực của xã hội trong một trình độ lịch sử xác định. Nghiên cứu phạm trù này phải xuất phát từ sự thống nhất giữa người lao động, tư liệu sản xuất và trình độ khoa học - kỹ thuật được kết tinh trong quá trình lao động xã hội. Vì vậy, không thể đồng nhất lực lượng sản xuất với máy móc, công nghệ hay thiết bị riêng lẻ; cũng không thể tách nó khỏi con người, khỏi tổ chức lao động và khỏi toàn bộ phương thức sản xuất.

C. Mác từng viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”(C.Mác và Ph.Ăngghen, tr.269). Luận điểm này có ý nghĩa phương pháp luận trực tiếp đối với việc nghiên cứu lực lượng sản xuất mới hiện nay; theo đó cái quyết định không phải là sự xuất hiện của vài sản phẩm công nghệ hiện đại, mà là sự thay đổi trong cách thức xã hội tổ chức sản xuất và trong bản thân những tư liệu lao động giữ vai trò trung tâm của một thời đại.

Ở bình diện sâu hơn, C. Mác cũng chỉ rõ: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có... Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của lực lượng sản xuất” (C.Mác và Ph.Ăngghen, tr.15). Đây là chìa khóa để nhận diện cái mới của lực lượng sản xuất trong thời đại số: khi sức sản xuất xã hội biến đổi về chất, những thể chế, cơ chế sở hữu, phân phối, quản trị và tổ chức xã hội không còn phù hợp sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển.

V.I. Lênin tiếp tục phát triển cách xem xét, tiếp cận đó của C. Mác và Ph. Ăngghen khi nhấn mạnh vai trò quyết định của năng suất lao động đối với thắng lợi của chế độ xã hội mới. Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, ông chỉ rõ: “Xét đến cùng, năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới”(V.I. Lênin, tr.25). Từ đó có thể thấy, khi bàn về lực lượng sản xuất mới, các nhà kinh điển mác xít cho rằng tiêu chí căn bản vẫn phải là sự thay đổi của năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức sáng tạo xã hội, chứ không dừng ở bề mặt kỹ thuật hay xu hướng công nghệ.

Như vậy, giá trị bền vững của cách tiếp cận triết học Mác - Lênin là ở chỗ đặt lực lượng sản xuất trong quan hệ biện chứng với quan hệ sản xuất, coi sự phát triển của lực lượng sản xuất là cơ sở vật chất của tiến bộ xã hội, đồng thời xem con người là chủ thể trung tâm của mọi sự biến đổi kỹ thuật - công nghệ. Đó là nền tảng lý luận để nhận diện lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số một cách khoa học hơn.

1.2. Kinh tế số và sự biến đổi ba yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất

Điểm nổi bật của kinh tế số là làm cho tri thức, dữ liệu và công nghệ số tham gia ngày càng trực tiếp vào quá trình tạo ra giá trị. Nếu trong nền công nghiệp truyền thống, người lao động chủ yếu vận hành công cụ cơ khí trên đối tượng vật chất hữu hình, thì trong kinh tế số, không gian sản xuất được mở rộng sang môi trường dữ liệu, nền tảng số, mô hình ảo và các quy trình tự động hóa thông minh. Sự thay đổi ấy diễn ra đồng thời ở cả ba yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất. Cụ thể là:

Thứ nhất, người lao động chuyển từ vị thế chủ yếu sử dụng sức cơ bắp và kỹ năng thao tác sang vị thế của chủ thể tri thức, chủ thể số và chủ thể sáng tạo. Lao động hiện đại đòi hỏi nhiều hơn năng lực xử lý thông tin, tư duy hệ thống, khả năng thích ứng công nghệ và năng lực học tập suốt đời. Trong nhiều ngành, đặc biệt là công nghệ số, tài chính số, logistics số, truyền thông số, thiết kế chip, phát triển phần mềm và thương mại điện tử, lao động trí tuệ đã trở thành yếu tố quyết định của năng suất.

Thứ hai, công cụ lao động không còn giới hạn ở máy móc cơ khí, mà ngày càng bao hàm các hệ thống được số hóa, tự động hóa và thông minh hóa: phần mềm, nền tảng số, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, robot, cảm biến, thuật toán và mô hình AI. Nếu “điện khí hóa toàn quốc” từng được V.I. Lênin xem là nền tảng kỹ thuật không thể thiếu của công cuộc xây dựng xã hội mới, thì trong điều kiện hiện nay, hạ tầng số, kết nối tốc độ cao, trung tâm dữ liệu và năng lực tính toán đang có vị trí tương tự xét trên bình diện phương pháp luận, dù không đồng nhất về nội dung lịch sử cụ thể.

Thứ ba, đối tượng lao động cũng biến đổi mạnh. Ngoài vật thể tự nhiên và nguyên liệu truyền thống, dữ liệu, mã nguồn, mô hình số, tín hiệu số, hành vi người dùng và các tài sản vô hình khác ngày càng trở thành đối tượng của hoạt động khai thác, xử lý và tạo giá trị. Chính ở đây xuất hiện một đặc điểm mới: trong nhiều trường hợp, quá trình sản xuất không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất, mà còn đồng thời tạo ra dữ liệu mới; dữ liệu đó lại quay trở lại như một đầu vào của vòng sản xuất tiếp theo.

Sự biến đổi đồng thời của người lao động, công cụ lao động và đối tượng lao động cho thấy cái mới của lực lượng sản xuất trong kinh tế số không phải chỉ là “thêm công nghệ”, mà là sự chuyển hóa về phương thức kết hợp giữa lao động sống, lao động vật hóa, tri thức khoa học và tổ chức sản xuất xã hội. Đây là cơ sở để tách phạm trù “lực lượng sản xuất mới” ra khỏi cách hiểu giản đơn đồng nhất nó với công nghệ cao hay kinh tế số thuần túy.

1.3. Lực lượng sản xuất mới và nguyên tắc nhận diện

Dưới giác độ triết học Mác - Lênin, có thể hiểu lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số là trình độ phát triển mới về chất của sức sản xuất xã hội, trong đó tri thức, khoa học - công nghệ, dữ liệu, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo và năng lực số của con người trở thành những yếu tố cấu thành giữ vai trò ngày càng quyết định trong việc tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Khái niệm lực lượng sản xuất mới không đồng nhất với kinh tế số. Kinh tế số là một không gian vận động cụ thể của nền kinh tế; còn lực lượng sản xuất mới là phạm trù rộng hơn, dùng để chỉ sự thay đổi về chất của chính sức sản xuất xã hội. Vì vậy, một nền kinh tế có thể mở rộng dịch vụ số hoặc thương mại điện tử, nhưng nếu chưa làm thay đổi sâu sắc chất lượng người lao động, cấu trúc công cụ lao động, khả năng làm chủ dữ liệu và năng lực đổi mới sáng tạo, thì chưa thể nói lực lượng sản xuất mới đã phát triển đầy đủ.

Việc nhận diện lực lượng sản xuất mới hiện nay cần quán triệt ba nguyên tắc. Một là, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, theo đó cái mới phải được đặt trong điều kiện phát triển cụ thể của Việt Nam, không sao chép máy móc kinh nghiệm của các nền kinh tế số phát triển. Hai là, nguyên tắc hệ thống: phải xem xét sự thay đổi đồng thời của người lao động, công cụ lao động, đối tượng lao động và cơ chế tổ chức sản xuất. Ba là, nguyên tắc biện chứng: phải đặt lực lượng sản xuất mới trong quan hệ với quan hệ sản xuất, với thể chế, với sở hữu dữ liệu, với phân phối và với mục tiêu phát triển xã hội. Không theo cách tiếp cận này thì rất dễ rơi vào sùng bái công nghệ hoặc kỹ trị hóa vấn đề.

2. Bản chất của lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số ở Việt Nam

Xét từ lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, bản chất của lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam hiện nay không nằm ở sự xuất hiện đơn lẻ của một số công nghệ hiện đại, mà ở sự chuyển dịch về chất của nguồn gốc tạo ra tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, sử dụng lao động giá rẻ và gia công với giá trị gia tăng thấp, thì nay động lực phát triển ngày càng chuyển sang tri thức, khoa học - công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, hạ tầng số và chất lượng nguồn nhân lực.

Nói cách khác, cái cốt lõi của lực lượng sản xuất mới hiện nay không phải là sự thay đổi hình thức của công cụ kỹ thuật, mà là quá trình tri thức hóa, dữ liệu hóa và sáng tạo hóa hoạt động sản xuất. Trong kết cấu mới đó, dữ liệu không còn chỉ là sản phẩm phụ của quản trị, mà trở thành nguồn lực đầu vào. Người lao động không chỉ là người vận hành máy móc; họ dần trở thành chủ thể kiến tạo tri thức, phát triển giải pháp, vận hành nền tảng và tổ chức đổi mới. Công cụ lao động không chỉ nhằm thay thế sức cơ bắp, mà ngày càng hỗ trợ, mở rộng và trong nhiều trường hợp đồng sáng tạo với lao động trí tuệ.

Ở Việt Nam, bản chất ấy còn mang một nội dung rất đáng chú ý: lực lượng sản xuất mới đang hình thành trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là quá trình giải phóng và phát triển sức sản xuất không thể chỉ nhằm tối đa hóa lợi nhuận hay tốc độ tăng trưởng thuần túy, mà còn phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng sống, bảo đảm an sinh, thu hẹp khoảng cách phát triển và giữ vững độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Chính ở đây, vấn đề lực lượng sản xuất mới không còn là câu chuyện của công nghệ, mà là vấn đề của mô hình phát triển.

Bản chất của lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam, vì vậy có thể khái quát ở ba phương diện gắn bó với nhau. Thứ nhất, đó là sự chuyển dịch nguồn gốc năng suất từ lợi thế chi phí thấp sang lợi thế tri thức và đổi mới sáng tạo. Thứ hai, đó là sự tái cấu trúc quá trình sản xuất trên nền tảng dữ liệu, kết nối và công nghệ số. Thứ ba, đó là sự hình thành những yêu cầu mới đối với quan hệ sản xuất, thể chế và quản trị phát triển. Nếu thiếu các điều kiện đó, công nghệ mới chỉ tồn tại như lớp vỏ hiện đại, chưa đủ sức tạo nên bước phát triển mới về chất của nền kinh tế.

Nhìn từ quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có thể thấy sự phát triển của lực lượng sản xuất mới đang đặt ra nhu cầu điều chỉnh hàng loạt vấn đề thể chế ở Việt Nam, như sở hữu và khai thác dữ liệu, bảo hộ tài sản trí tuệ, cơ chế đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), thị trường khoa học - công nghệ, quản trị nền tảng số, phân phối lợi ích trong kinh tế số và bảo vệ người lao động trên các nền tảng. Điều này cho thấy luận điểm của C. Mác về mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vẫn giữ nguyên giá trị phương pháp luận đối với bối cảnh hiện nay.

3. Những đặc điểm cơ bản và biểu hiện thực tiễn mới nhất của lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam

3.1. Những đặc điểm cơ bản

Thứ nhất, lực lượng sản xuất mới mang đặc trưng tri thức hóa sâu sắc. Giá trị gia tăng ngày càng phụ thuộc vào hàm lượng nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo, tích hợp công nghệ và năng lực cải tiến liên tục. Trong nhiều ngành, lợi thế cạnh tranh không còn nằm chủ yếu ở quy mô hay lao động rẻ, mà ở tốc độ đổi mới và khả năng biến tri thức thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.

Thứ hai, dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất có ý nghĩa nền tảng. Trong kinh tế số, dữ liệu vừa là đầu vào, vừa là kết quả của quá trình sản xuất; vừa hỗ trợ dự báo, ra quyết định, tối ưu hóa quy trình, vừa tạo ra giá trị mới khi được khai thác, phân tích và kết nối với các nguồn lực khác. Đây là đặc trưng khác biệt căn bản giữa lực lượng sản xuất mới với các trình độ phát triển trước đó.

Thứ ba, công cụ lao động được số hóa, tự động hóa và thông minh hóa ngày càng mạnh. Máy móc, dây chuyền, phần mềm, robot, cảm biến, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, nền tảng số và mô hình AI không còn là công cụ phụ trợ bên ngoài quá trình sản xuất, mà trở thành bộ phận trực tiếp của công cụ lao động hiện đại.

Thứ tư, lao động trí tuệ, lao động số và lao động sáng tạo giữ vai trò ngày càng nổi bật. Người lao động hiện đại phải đồng thời có kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số, tư duy đổi mới và khả năng phối hợp trong môi trường kết nối liên ngành, liên nền tảng. Điều này làm thay đổi sâu sắc tiêu chuẩn của nguồn nhân lực và nội dung của giáo dục - đào tạo.

Thứ năm, lực lượng sản xuất mới có tính kết nối, tính mở và tốc độ đổi mới cao. Các yếu tố sản xuất không vận động tách biệt mà liên kết trong mạng lưới số giữa nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, nền tảng số và thị trường. Chu kỳ công nghệ, chu kỳ sản phẩm và chu kỳ tổ chức sản xuất rút ngắn hơn, buộc nền kinh tế phải chuyển từ logic thích ứng chậm sang logic học hỏi và đổi mới liên tục.

3.2. Biểu hiện thực tiễn mới nhất ở Việt Nam

Những đặc điểm nêu trên của lực lượng sản xuất mới không chỉ tồn tại ở bình diện khái niệm, mà đang được biểu hiện ngày càng rõ trong thực tiễn phát triển của Việt Nam. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tỷ trọng kinh tế số năm 2024 ước đạt 18,3% GDP, tốc độ tăng trưởng vượt 20%/năm, cao gấp khoảng ba lần tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2025). Cùng thời điểm đó, tổng doanh thu công nghiệp công nghệ số năm 2024 ước đạt 157,984 tỷ USD, cho thấy công nghệ số không còn là khu vực phụ trợ, mà đang trở thành một trụ cột ngày càng quan trọng của sức sản xuất xã hội (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2025).

Sự hình thành lực lượng sản xuất mới còn được phản ánh qua sự mở rộng nhanh của không gian giao dịch số. Theo Bộ Công Thương, năm 2024 quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam đạt trên 25 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2023, chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Điều này cho thấy sản xuất, lưu thông và tiêu dùng đang ngày càng dịch chuyển sang môi trường số; đồng thời, dữ liệu tiêu dùng, nền tảng số, logistics số và thanh toán số ngày càng trở thành bộ phận của hạ tầng sản xuất mới (https://vneconomy.vn/ty-trong-thuong-mai-dien-tu-chiem-2-3-gia-tri-cua-nen-kinh-te-so-viet-nam.htm).

Ở bình diện hạ tầng, sự phát triển của lực lượng sản xuất mới gắn chặt với quá trình mở rộng kết nối và năng lực lưu trữ, xử lý dữ liệu. Tính đến tháng 2/2026, Việt Nam triển khai gần 40.000 trạm phát sóng 5G, phủ sóng khoảng 90% dân số, với gần 23 triệu thuê bao sử dụng dịch vụ (https://www.vietnam.vn/); tháng 4/2024, Tập đoàn Viettel đã khai trương Trung tâm dữ liệu Hòa Lạc với diện tích sàn 21.000 m2, 2.400 rack, công suất 30 MW - được giới thiệu là trung tâm dữ liệu lớn nhất Việt Nam thời điểm đó (https://cafebiz.vn/). Những con số này cho thấy hạ tầng số đang dần chuyển từ vai trò hỗ trợ sang vai trò nền tảng vật chất - kỹ thuật trực tiếp của lực lượng sản xuất mới.

Biểu hiện thực tiễn quan trọng khác nằm ở sự dịch chuyển của chất lượng lao động. Theo số liệu được các cơ quan có thẩm quyền công bố đầu năm 2025, năng suất lao động của toàn nền kinh tế Việt Nam năm 2024 theo giá hiện hành ước đạt 221,9 triệu đồng/lao động, tương đương 9.182 USD/lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 28,3%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với năm trước (https://www.justintimevn.com). Điều đó phản ánh hai mặt của cùng một quá trình: một mặt, sức sản xuất xã hội đang được nâng lên; mặt khác, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa theo kịp yêu cầu của một nền kinh tế số đang chuyển động nhanh.

Ở phương diện đổi mới sáng tạo, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí đáng chú ý trong bản đồ đổi mới toàn cầu. Theo WIPO, Việt Nam xếp thứ 44/139 nền kinh tế trong Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025, đứng thứ hai trong nhóm nước thu nhập trung bình thấp; đáng chú ý, thứ hạng đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam cao hơn thứ hạng đầu vào (37 so với 50) (https://www.nangluongsachvietnam.vn/). Kết quả đó cho thấy nền kinh tế đã hình thành năng lực chuyển hóa đầu vào đổi mới thành kết quả thực tế ở mức khá, nhưng đồng thời cũng gợi ra một khoảng trống lớn về chất lượng thể chế, hạ tầng nghiên cứu và nguồn nhân lực công nghệ cao.

Tuy vậy, chính các minh chứng trên cũng cho thấy lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành rõ nét, chứ chưa phát triển đồng đều, toàn diện và vững chắc. Nền kinh tế số tăng nhanh nhưng chưa đồng nhất với khả năng làm chủ công nghệ lõi; hạ tầng số được cải thiện mạnh nhưng phân bố còn chênh lệch; năng suất lao động tăng nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ vẫn còn thấp; đổi mới sáng tạo có kết quả khả quan nhưng đầu vào cho hệ sinh thái đổi mới chưa thật tương xứng. Đây là cơ sở thực tiễn để nhận diện đúng các mâu thuẫn và điểm nghẽn chủ yếu.

4. Những mâu thuẫn, điểm nghẽn chủ yếu và hàm ý định hướng

4.1. Những mâu thuẫn, điểm nghẽn chủ yếu

Mâu thuẫn thứ nhất là giữa yêu cầu phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới với trình độ thể chế, chính sách và quản trị quốc gia, quản trị địa phương còn chưa theo kịp. Khi dữ liệu, nền tảng số, AI, tài sản số và mô hình kinh doanh mới phát triển nhanh, nhiều vấn đề về quyền tài sản, chia sẻ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, cạnh tranh trên nền tảng, thử nghiệm công nghệ mới và thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa có khung thể chế đủ rõ. Trong trường hợp này, quan hệ sản xuất và thể chế phát triển có nguy cơ trở thành “điểm nghẽn” đúng theo nghĩa mà C. Mác đã chỉ ra.

Mâu thuẫn thứ hai là giữa đòi hỏi của nền kinh tế số đối với nguồn nhân lực chất lượng cao với thực trạng chất lượng đào tạo, kỹ năng số và năng lực sáng tạo còn nhiều bất cập. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 28,3% năm 2024 (https://daidoanket.vn/) là một cải thiện đáng ghi nhận, nhưng chưa tương xứng với yêu cầu phát triển các ngành kinh tế - xã hội dựa trên dữ liệu, AI, bán dẫn, tự động hóa, an ninh mạng hay công nghiệp sáng tạo. Điều đó cho thấy nguồn lực con người - yếu tố trung tâm của lực lượng sản xuất - vẫn là điểm nghẽn lớn nhất.

Mâu thuẫn thứ ba là giữa yêu cầu tự chủ công nghệ với mức độ phụ thuộc còn đáng kể vào nền tảng, công nghệ lõi và chuỗi giá trị quốc tế. Doanh thu công nghiệp công nghệ số và quy mô kinh tế số tăng nhanh là tín hiệu tích cực, nhưng nếu khả năng nghiên cứu, thiết kế, làm chủ và nội địa hóa công nghệ chiến lược không được nâng lên tương ứng, nền kinh tế vẫn chủ yếu đứng ở các khâu thấp hoặc trung gian của chuỗi giá trị. Khi đó, lực lượng sản xuất mới khó phát triển bền vững.

Mâu thuẫn thứ tư là giữa năng lực tạo ra của cải mới của kinh tế số với nguy cơ gia tăng phân hóa xã hội và bất bình đẳng phát triển. Kinh tế số có thể tạo năng suất cao, nhưng cũng có thể làm sâu sắc thêm chênh lệch giữa khu vực đô thị và nông thôn, giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ, giữa lao động có kỹ năng cao với lao động kỹ năng thấp, giữa các địa phương có hạ tầng số mạnh với các địa phương còn yếu. Nếu không có điều tiết phù hợp, sự phát triển của lực lượng sản xuất mới có thể không tự động dẫn tới tiến bộ xã hội.

Mâu thuẫn thứ năm là giữa yêu cầu giải phóng sức sản xuất mới với quan hệ phân phối và cơ chế tổ chức xã hội chưa được điều chỉnh tương ứng. Trong kinh tế số, giá trị ngày càng được tạo ra bởi tri thức, dữ liệu, nền tảng và mạng lưới; nhưng cơ chế phân phối lợi ích từ những nguồn lực đó, nhất là giữa nhà nước, doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng, vẫn còn nhiều khoảng trống. Đây là vấn đề có ý nghĩa triết học trực tiếp, bởi sự phát triển thực chất của lực lượng sản xuất mới không thể tách rời việc thiết lập những quan hệ sản xuất phù hợp hơn với đòi hỏi của thực tiễn.

Điều rất quan trọng, có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc cần nắm bắt và nhận thức rõ là các mâu thuẫn nêu trên đều là mâu thuẫn của sự phát triển.

4.2. Một số định hướng nhằm phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số ở Việt Nam

Trước hết, cần tiếp tục đổi mới tư duy lý luận về lực lượng sản xuất trong điều kiện kinh tế số, tránh cả hai khuynh hướng giản đơn hóa: hoặc đồng nhất lực lượng sản xuất mới với công nghệ số; hoặc chỉ xem nó như một khẩu hiệu chính sách. Cần làm rõ hơn trong nghiên cứu lý luận và hoạch định chính sách rằng bản chất của lực lượng sản xuất mới nằm ở sự chuyển hóa về chất của sức sản xuất xã hội và ở mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của nó với quan hệ sản xuất, thể chế và mô hình phát triển.

Hai là, tạo đột phá thực chất về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhưng phải gắn chặt với yêu cầu nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Không chỉ nhập khẩu, ứng dụng hay tiêu dùng công nghệ, mà phải từng bước nâng tỷ lệ nghiên cứu, thiết kế, tích hợp, làm chủ và thương mại hóa công nghệ của nền kinh tế. Đây là con đường căn bản để chuyển từ “tham gia kinh tế số” sang “kiến tạo sức sản xuất mới”.

Ba là, coi phát triển nguồn nhân lực là khâu then chốt của đột phá. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã xác định đúng trọng tâm khi nhấn mạnh “đột phá phát triển giáo dục và đào tạo góp phần xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới” (Bộ Chính trị, 2025); “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Tuy nhiên, điều quan trọng là phải chuyển nhanh từ định hướng chính sách sang thay đổi thực chất ở chương trình đào tạo, phương thức đào tạo, liên kết nhà trường - doanh nghiệp - viện nghiên cứu, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng số cho lực lượng lao động hiện hữu.

Bốn là, hoàn thiện thể chế cho dữ liệu, tài sản số, thị trường khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và cơ chế thử nghiệm chính sách cho mô hình kinh doanh mới. Cùng với đó là xây dựng một khung thể chế đủ mạnh để khuyến khích sáng tạo, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và bảo đảm lợi ích công cộng trong môi trường số.

Năm là, phát triển lực lượng sản xuất mới phải luôn gắn với đảm bảo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là tăng trưởng dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ phải đi liền với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục và công nghệ, thu hẹp khoảng cách số và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân. Nếu tách rời mục tiêu ấy, sự phát triển của lực lượng sản xuất mới sẽ mất đi cơ sở nhân văn và định hướng phát triển lâu dài.

Kết luận

Tiếp cận từ triết học Mác - Lênin cho phép nhận diện lực lượng sản xuất mới không phải như một hiện tượng công nghệ đơn lẻ, mà như một bước phát triển mới về chất của sức sản xuất xã hội trong điều kiện kinh tế số. Bản chất của lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam hiện nay nằm ở sự chuyển dịch nguồn gốc tạo ra năng suất, giá trị và sức cạnh tranh từ mô hình phát triển dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động giản đơn sang mô hình dựa ngày càng nhiều hơn vào tri thức, dữ liệu, công nghệ số, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Thực tiễn mới nhất cho thấy quá trình này đã bắt đầu rõ nét: kinh tế số mở rộng nhanh, công nghiệp công nghệ số gia tăng vai trò, hạ tầng số và 5G được đầu tư mạnh, trung tâm dữ liệu phát triển, thương mại điện tử bùng nổ, năng suất lao động cải thiện, đổi mới sáng tạo tiếp tục khẳng định vị trí của Việt Nam trên bản đồ quốc tế. Tuy nhiên, chính thực tiễn ấy cũng cho thấy nhiều điểm nghẽn về thể chế, nhân lực, công nghệ lõi, phân hóa số và điều chỉnh quan hệ sản xuất.

Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là gọi tên một phạm trù mới, mà quan trọng hơn là chủ động tháo gỡ các mâu thuẫn đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất mới. Chỉ trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa phát triển lực lượng sản xuất mới với hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế phát triển phù hợp, Việt Nam mới có thể tạo ra bước chuyển thực chất về năng suất, chất lượng tăng trưởng, năng lực tự chủ và nền tảng vật chất - kỹ thuật của con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb CTQGST, H.1993, tr.269.

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQGST, H.1995, tr.15.

(3) V.I. Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb CTQGST, H.2005, tr.25.

(4) Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kinh tế số của Việt Nam tăng trưởng vượt 20%/năm, đăng trên Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư, https://www.nait.vn/cds/kinh-te-so-cua-viet-nam-tang-truong-vuot-20-nam-1543.html.

(5) Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2025b), Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam lần thứ VI, đăng trên Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư, https://www.vietnamplus.vn/dien-dan-quoc-gia-phat-trien-doanh-nghiep-cong-nghe-so-viet-nam-lan-thu-6-post1007600.vnp.

(6) https://vneconomy.vn/ty-trong-thuong-mai-dien-tu-chiem-2-3-gia-tri-cua-nen-kinh-te-so-viet-nam.htm.

(7) https://www.vietnam.vn/viet-nam-tang-toc-trien-khai-5g-phu-song-90-dan-so.

(8) https://cafebiz.vn/viettel-fpt-vnpt-deu-cong-bo-so-huu-trung-tam-du-lieu-lon-nhat-viet-nam-ai-noi-that-176250213085131415.chn.

(9) https://www.justintimevn.com/gdp-tang-tren-7-xuat-sieu-gan-25-ti-usd.html.

(10) https://www.nangluongsachvietnam.vn/d6/vi-VN/news/Viet-Nam-tiep-tuc-duy-tri-thu-hang-44139-quoc-gia-ve-chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-6-1956-30575.

(11) https://daidoanket.vn/ty-le-lao-dong-qua-dao-tao-co-bang-chung-chi-nam-2024-dat-28-3-10312511.html.

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

(13) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, NXb CTQGST, H.2026, tr.373.

Đại tá, TS Hoàng Gia Khánh - Khoa Triết học Mác - Lênin, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Bài viết cùng tác giả