Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Khoa học và doanh nhân đồng hành kiến tạo động lực phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới

Ngày đăng: 15/05/2026   15:11
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, ngày 15/5/2026, tại Hà Nội, được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ Nội vụ, Tạp chí Tổ chức Nhà nước và Lao động phối hợp cùng Hội Nghiên cứu Khoa học về Đông Nam Á - Việt Nam, Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ T&A và Công ty Cổ phần Phát triển Báo chí Việt Nam tổ chức Diễn đàn: “Khoa học và Doanh nhân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Diễn đàn vinh dự chào đón sự hiện diện của hơn 200 đại biểu là các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý, lãnh đạo các viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp tiêu biểu trên toàn quốc.

TS Trần Nghị, Tổng Biên tập Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động phát biểu khai mạc Diễn đàn

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, TS Trần Nghị, Tổng Biên tập Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động khẳng định: Diễn đàn “Khoa học và doanh nhân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” được tổ chức trong bối cảnh đất nước ta đã chính thức bước vào kỷ nguyên vươn mình - một thời kỳ phát triển mới của đất nước theo tinh thần Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đây là sự kiện có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định vị thế, vai trò cốt lõi của giới khoa học và doanh nhân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; truyền tải thông điệp mạnh mẽ về trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Diễn đàn là hoạt động thiết thực triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, qua đó góp phần thiết thực cùng cả hệ thống chính trị và xã hội đưa chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn.

Diễn đàn cũng là cơ hội mở ra không gian gặp gỡ, kết nối các nhà lãnh đạo, nhà khoa học và doanh nhân cùng nhau đối thoại chính sách, trao đổi tầm nhìn chiến lược, thảo luận về cơ hội hợp tác và thúc đẩy phát triển bền vững thông qua 04 phiên thảo luận với các tham luận đã gửi đến Ban Tổ chức và các ý kiến phát biểu trực tiếp; cũng như các hoạt động giao lưu, xúc tiến hợp tác.

 
Các đại biểu tham gia Diễn đàn

**Trong phiên thảo luận thứ nhất với chủ đề “Tầm nhìn quốc gia và khung chính sách”, bà Nguyễn Phương Linh - Hội Nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á - Việt Nam trong tham luận với chủ đề: “Doanh nhân thời kỳ mới: Từ năng lực kinh doanh đến năng lực kiến tạo giá trị xã hội bền vững”, cho rằng doanh nhân Việt Nam thời kỳ mới cần được xây dựng dựa trên nền tảng “3T + S”: Tâm - Tài - Tầm + Social Value (Giá trị xã hội).

Bà Nguyễn Phương Linh - Hội Nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á - Việt Nam

Để có thể đảm bảo được 3T, doanh nhân Việt Nam thời kỳ mới cần được xây dựng dựa trên bốn năng lực cốt lõi. Thứ nhất là tư duy hệ sinh thái: Doanh nhân không chỉ nhìn doanh nghiệp như một thực thể độc lập, mà cần hiểu doanh nghiệp tác động tới xã hội như thế nào, công nghệ ảnh hưởng tới con người ra sao và phát triển kinh tế liên quan thế nào tới chất lượng sống và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ hai là đổi mới sáng tạo lấy con người làm trung tâm: Không phải mọi đổi mới đều tạo ra tiến bộ xã hội. Một đổi mới thực sự bền vững cần cải thiện chất lượng sống, tăng khả năng tiếp cận, giảm bất bình đẳng và nâng cao wellbeing cho con người.

Thứ ba là năng lực lãnh đạo hợp tác: Trong nền kinh tế số, năng lực cạnh tranh lớn nhất có thể không còn là khả năng sở hữu nguồn lực, mà là khả năng kết nối hệ sinh thái, huy động tri thức đa ngành và đồng kiến tạo giải pháp với nhiều bên liên quan.

Thứ tư là kiến tạo giá trị có trách nhiệm: Doanh nhân thời kỳ mới cần chuyển từ tư duy “profit-first” sang “shared value”, “responsible innovation” và xây dựng niềm tin dài hạn với xã hội. Trong thời đại AI, đạo đức công nghệ sẽ không còn là lựa chọn mang tính thiện chí, mà trở thành một năng lực lãnh đạo cốt lõi.

** Ông Hồ Văn Trung - Nhà sáng lập Công ty Cổ phần Trangs với tham luận: “Công nghiệp hóa nông nghiệp Việt Nam gắn với đột phá thị trường quốc tế - nền tảng cho một nền kinh tế tự chủ trong kỷ nguyên vươn mình”. Ông Trung phân tích thực trạng nông nghiệp Việt Nam khi vẫn có khoảng 65 triệu người sống dựa vào nông nghiệp, chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động nhưng năng suất và mức độ hiện đại hóa còn thấp so với các nước phát triển. Từ thực tiễn đó, tác giả đề xuất chiến lược công nghiệp hóa, cơ khí hóa nông nghiệp gắn với mở rộng thị trường thế giới nhằm xây dựng nền kinh tế tự chủ, nâng cao thu nhập cho nông dân và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong “kỷ nguyên vươn mình” của đất nước. Người trình bày nhấn mạnh cần tổ chức lại sản xuất theo mô hình hợp tác xã và doanh nghiệp quy mô lớn, lấy đất nông nghiệp làm vốn góp để thúc đẩy cơ giới hóa, đồng thời phát triển đội ngũ nghiên cứu, đào tạo chuyên gia nông nghiệp, đầu tư hệ thống bảo quản sau thu hoạch và xây dựng nhà máy chế biến nông sản.

Diễn giả Hồ Văn Trung

Tác giả cũng đề xuất Nhà nước hỗ trợ tín dụng, ký kết các hiệp định thương mại, xây dựng lực lượng phát triển thị trường quốc tế và bảo đảm đầu ra ổn định cho nông sản. Qua quá trình khảo sát thực tế trong và ngoài nước, ông cho rằng nếu có chính sách đồng bộ và quyết liệt, Việt Nam có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, cải thiện đời sống nông dân và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong khoảng 10 năm tới.

** Tại phiên thứ 2 “Khoa học - Công nghệ & Đổi mới sáng tạo”, ông Nguyễn Đức Thuận - Chủ tịch Hội các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam trình bày tham luận với chủ đề: “Vai trò của Nhà nước - viện nghiên cứu - doanh nghiệp trong thúc đẩy phát triển kinh tế và đổi mới sáng tạo”.

Ông Nguyễn Đức Thuận - Chủ tịch Hội các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam

Tác giả nhấn mạnh tăng cường liên kết “ba nhà”: yếu tố quyết định hiệu quả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, mối liên kết giữa Nhà nước - viện nghiên cứu - doanh nghiệp vẫn còn những hạn chế như: cơ chế phối hợp chưa đồng bộ, hoạt động nghiên cứu chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường, doanh nghiệp chưa thực sự coi khoa học công nghệ là động lực cốt lõi.

Từ đó đề xuất một số giải pháp trọng tâm như: Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm khuyến khích hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng giữa các bên, đặc biệt trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu; phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, vườn ươm doanh nghiệp… làm “không gian chung” cho các chủ thể tương tác, hợp tác và cùng phát triển.

Cùng với đó, tăng cường cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ phía Nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước có thể đặt hàng các nhiệm vụ khoa học lớn mang tính chiến lược, trong khi doanh nghiệp đặt hàng các nghiên cứu ứng dụng cụ thể; thúc đẩy hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình thành công trên thế giới, đồng thời thu hút nguồn lực tri thức toàn cầu phục vụ phát triển trong nước. Xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, nhà khoa học là lực lượng nòng cốt và Nhà nước là người dẫn dắt.

** Ông Lê Thanh Tùng, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin, Bộ Nội vụ trình bày tham luận: “Thực trạng và một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát triển dữ liệu tại Bộ Nội vụ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Ông Lê Thanh Tùng – Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin, Bộ Nội vụ

Ông Tùng khẳng định dữ liệu đang trở thành nguồn tài nguyên và tư liệu sản xuất quan trọng trong kỷ nguyên số, giữ vai trò trung tâm của chuyển đổi số và là nền tảng để xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trên cơ sở các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, Bộ Nội vụ xác định dữ liệu là tài sản chiến lược, phục vụ đổi mới quản trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chuyển từ “quản lý dựa trên văn bản” sang "quản trị dựa trên dữ liệu”.

Giai đoạn 2025-2026, Bộ Nội vụ triển khai xây dựng 26 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý, hạ tầng kỹ thuật, trung tâm dữ liệu, nền tảng số dùng chung và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn nhiều khó khăn như tiến độ chậm, dữ liệu chưa bảo đảm tiêu chí “Đúng - Đủ - Sạch - Sống - Thống nhất - Dùng chung”, công nghệ còn lạc hậu và việc kết nối, chia sẻ dữ liệu chưa đồng bộ.

Để khắc phục, ông Lê Thanh Tùng đề xuất nhiều nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như hoàn thiện thể chế, đẩy nhanh làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng kho dữ liệu số, phát triển cổng dữ liệu mở, ứng dụng AI, Big Data, tăng cường kết nối chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ. Qua đó, hướng tới xây dựng hệ sinh thái dữ liệu ngành Nội vụ hiện đại, đồng bộ, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, hoạch định chính sách và cải cách thủ tục hành chính trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

** Ông Huỳnh Văn Pháp - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS) trình bày tham luận với chủ đề: “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo - cách doanh nghiệp tận dụng tri thức khoa học để tạo lợi thế cạnh tranh”.

Ông Huỳnh Văn Pháp - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS)

Tác giả nhấn mạnh, đổi mới sáng tạo không phải là một hoạt động ngắn hạn hay phong trào nhất thời, mà là chiến lược phát triển xuyên suốt của doanh nghiệp. AgriS luôn xem mình là một “doanh nghiệp khởi nghiệp ứng dụng đổi mới sáng tạo” trong tư duy vận hành và phát triển, hưởng ứng tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Theo ông Huỳnh Văn Pháp, lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp trong tương lai không còn nằm chủ yếu ở tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà nằm ở khả năng sở hữu, tích hợp và chuyển hóa tri thức khoa học thành năng lực vận hành thực tiễn.

Từ góc độ doanh nghiệp, tác giả cho rằng chuyển đổi số trong nông nghiệp không phải là “số hóa cho hiện đại”, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện mô hình sản xuất và quản trị trên nền tảng khoa học dữ liệu. Đó cũng là lý do AgriS định hướng xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung có khả năng kết nối hàng triệu hộ sản xuất và doanh nghiệp trong hệ sinh thái nông nghiệp.

Từ thực tiễn phát triển, ông Pháp nhận thấy khoa học công nghệ còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng niềm tin với các định chế tài chính quốc tế. Điều này cho thấy, khi doanh nghiệp có chiến lược phát triển dựa trên khoa học công nghệ, ESG và minh bạch dữ liệu, doanh nghiệp không chỉ tiếp cận được thị trường mà còn tiếp cận được các dòng vốn xanh toàn cầu. Đây chính là lợi thế cạnh tranh mang tính dài hạn trong bối cảnh kinh tế thế giới đang chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững.

Ông Huỳnh Văn Pháp cũng kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D); thúc đẩy hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn xanh và các chương trình chuyển giao công nghệ quốc tế.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Trong kỷ nguyên số, người nông dân không chỉ cần kỹ năng canh tác mà còn cần khả năng tiếp cận dữ liệu, công nghệ và phương thức sản xuất hiện đại. Đây sẽ là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của nền nông nghiệp Việt Nam trong tương lai.

** Trong phiên thảo luận thứ 3: “Doanh nhân chiến lược phát triển doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới”, ông Nguyễn Tiến Đạo, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ, trình bày tham luận với chủ đề: “Vai trò của Bộ Nội vụ trong quản lý Hội”, trong đó nêu rõ: Để tiếp tục phát huy vai trò của Bộ Nội vụ trong quản lý nhà nước về hội trước yêu cầu triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW, cần tập trung vào một số định hướng lớn.

Ông Nguyễn Tiến Đạo – Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ, Bộ Nội vụ

Theo ông Đạo, trước hết, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hội theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển mới và với mô hình tổ chức bộ máy mới. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan cần được đặt trong tổng thể yêu cầu triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng bộ với chủ trương sắp xếp các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, đồng thời đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát huy vai trò của các hội khoa học, công nghệ, hội nghề nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp trong giai đoạn mới.

Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng tổ chức thực thi pháp luật về hội, gắn phân cấp, phân quyền với kiểm tra, giám sát và nâng cao năng lực thực thi. Trong điều kiện đội ngũ cán bộ ở nhiều nơi còn mới, vai trò hướng dẫn chuyên môn, thống nhất nghiệp vụ và hỗ trợ địa phương của Bộ Nội vụ càng có ý nghĩa then chốt.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về hội. Đây không chỉ là yêu cầu của quản trị hiện đại, mà còn gắn trực tiếp với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hội, bảo đảm kết nối, liên thông dữ liệu từ Trung ương đến địa phương; đẩy mạnh số hóa hồ sơ, quy trình, báo cáo; tăng cường khả năng theo dõi, tổng hợp, phân tích thông tin phục vụ hoạch định chính sách và quản lý thống nhất.

Bốn là, tăng cường phối hợp giữa Bộ Nội vụ với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quản lý nhà nước về hội. Việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế phối hợp là điều kiện nền tảng để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và giúp hệ thống hội hoạt động ổn định, đúng hướng trong điều kiện mới.

Năm là, tiếp tục định hướng hệ thống hội phát triển theo hướng giảm hành chính hóa, tăng cường tính tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm, đồng thời nâng cao chuẩn mực minh bạch và trách nhiệm giải trình. Cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng hoạt động của hội sau cấp phép; tăng cường kiểm tra việc chấp hành điều lệ, quản lý hội viên, tài chính, tài sản, các tổ chức thuộc hội, việc thực hiện chế độ báo cáo, công tác đối ngoại và các nghĩa vụ pháp lý có liên quan.

Sáu là, tạo điều kiện để các hội tham gia sâu hơn, thực chất hơn vào quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế. Trong bối cảnh đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tư nhân, tiếng nói của các hội ngày càng quan trọng bởi đó là tiếng nói của thực tiễn nghề nghiệp, của giới chuyên môn, của doanh nhân, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội. Bộ Nội vụ cần tiếp tục góp phần xây dựng cơ chế để sự tham gia đó ngày càng thực chất hơn, hiệu quả hơn và có trách nhiệm hơn. 

** TS Nguyễn Thị Hương - Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Thú y Việt Nam trình bày tham luận: “Phát huy vai trò tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”.

Tham luận chia sẻ một số quan điểm về vai trò, sứ mệnh và trách nhiệm của các hội nghề nghiệp trong giai đoạn phát triển mới.

TS Nguyễn Thị Hương - Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Thú y Việt Nam

Theo bà Hương, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp là cầu nối giữa trí thức, thực tiễn và chính sách. Các hội nghề nghiệp là nơi tập hợp đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật và doanh nghiệp theo từng lĩnh vực. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt, vai trò của các hội cần được nâng tầm, trở thành: Cầu nối giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất - kinh doanh; cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước; kênh phản biện chính sách khoa học, khách quan, có trách nhiệm. Qua đó, tri thức khoa học được chuyển hóa thành giá trị thực tiễn, đồng thời thực tiễn phát triển cũng góp phần định hướng nghiên cứu và hoạch định chính sách.

Thứ hai, các hội nghề nghiệp là lực lượng đồng hành cùng doanh nghiệp. Trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam đang nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ và hội nhập quốc tế, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp cần phát huy mạnh mẽ vai trò: Hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật; tham gia đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng hành cùng doanh nghiệp trong xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, thương hiệu và chiến lược phát triển bền vững.

Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi và thú y - một trụ cột quan trọng của an ninh lương thực và sinh kế người dân - sự liên kết chặt chẽ giữa khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất có ý nghĩa quyết định trong kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn sinh học và nâng cao giá trị gia tăng.

Thứ ba, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp góp phần thúc đẩy phát triển bền vững. Kỷ nguyên vươn mình không chỉ đòi hỏi tăng trưởng nhanh, mà còn yêu cầu phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Trong tiến trình đó, các hội nghề nghiệp có trách nhiệm: Lan tỏa đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực chuyên môn; thúc đẩy khoa học vì cộng đồng, vì sức khỏe con người, vật nuôi và môi trường;  góp phần thực hiện các cam kết quốc gia về phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế.

Thứ tư, đổi mới chính các tổ chức xã hội - nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu thời đại. Để thực hiện tốt sứ mệnh trong giai đoạn mới, bản thân các hội nghề nghiệp cũng cần đổi mới mạnh mẽ: Đổi mới tư duy hoạt động, lấy hiệu quả xã hội và giá trị đóng góp thực chất làm thước đo; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý và hoạt động hội; mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp cận các mô hình quản trị hiện đại; thu hút sự tham gia của trí thức trẻ, doanh nhân trẻ, tạo nguồn lực kế cận.

** Tham luận: “Phát triển khoa học công nghệ nội sinh - chìa khóa để doanh nghiệp y tế Việt làm chủ công nghệ”, do bà Cao Thị Vân Điểm - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nhà máy Thiết bị Y học và Vật liệu Sinh học (MEDEP) trình bày, khẳng định phát triển khoa học công nghệ nội sinh là chìa khóa để doanh nghiệp y tế Việt Nam làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh sức khỏe quốc gia trong kỷ nguyên số. Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng nhanh và thị trường thiết bị y tế Việt Nam dự kiến đạt gần 2,5 tỷ USD vào năm 2029, việc phụ thuộc khoảng 90% thiết bị y tế nhập khẩu đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng năng lực công nghệ nội địa.

Bà Cao Thị Vân Điểm - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nhà máy Thiết bị Y học và Vật liệu Sinh học (MEDEP)

Bà Cao Thị Vân Điểm nhấn mạnh khoa học công nghệ đã trở thành trụ cột sống còn của doanh nghiệp, là nền tảng để hình thành các sản phẩm công nghệ cao “Make in Vietnam”. Việt Nam bước đầu đã làm chủ một số công nghệ như stent tim mạch, thủy tinh thể nhân tạo, ứng dụng AI, Big Data trong chẩn đoán và thúc đẩy chuyển đổi số y tế. Tuy nhiên, ngành thiết bị y tế vẫn đối mặt nhiều khó khăn như doanh nghiệp quy mô nhỏ, thiếu công nghệ lõi, khó tiếp cận vốn, thiếu nhân lực chất lượng cao và khoảng cách lớn giữa nghiên cứu với thương mại hóa sản phẩm.

Từ thực tiễn đó, tác giả đề xuất hoàn thiện cơ chế tài chính cho doanh nghiệp khoa học công nghệ, cải cách chính sách ưu đãi, thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, ưu tiên phát triển ngành thiết bị y tế nội địa và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết khẳng định nếu có cơ chế phù hợp và sự đồng hành mạnh mẽ của Nhà nước, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ và đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.

** Bà Nguyễn Thị Hà - Phó Chủ tịch thường trực hội nữ doanh nhân tỉnh Lâm Đồng, Chủ tịch chuỗi làng sinh thái EVA Village Đăk Nông trình bày tham luận: “Doanh nhân nữ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Bà Nguyễn Thị Hà trình bày tham luận

Tác giả cho biết, hành trình làm doanh nghiệp bắt đầu từ những điều rất thực tế ở Tây Nguyên - một vùng đất giàu tiềm năng nhưng cũng đầy thách thức. Làm du lịch ở Tây Nguyên không thể chỉ dựa vào nguồn vốn hay chiến lược quảng bá. Điều quan trọng hơn là phải hiểu được chiều sâu văn hóa của vùng đất, hiểu con người bản địa và hiểu cách gìn giữ những giá trị tự nhiên vốn rất mong manh.

“Đã có những thời điểm chúng tôi đứng trước lựa chọn rất rõ ràng: hoặc phát triển thật nhanh bằng cách khai thác tối đa tài nguyên sẵn có, hoặc chấp nhận đi chậm hơn để giữ lại những giá trị lâu dài cho mai sau. Và chúng tôi đã chọn con đường thứ hai - con đường của du lịch xanh, du lịch trải nghiệm và phát triển gắn với văn hóa bản địa” -bà Nguyễn Thị Hà nói.

Theo bà Nguyễn Thị Hà, điều đặc biệt của người phụ nữ không chỉ nằm ở khả năng thành công trong kinh doanh, mà nằm ở việc họ cùng lúc phải gánh trên vai hai trọng trách lớn lao. Một bên là thương trường - nơi luôn có áp lực, cạnh tranh và những quyết định nhiều rủi ro. Một bên là gia đình - nơi cần sự hiện diện, sự chăm sóc và tình yêu thương mỗi ngày. Hai vai trò ấy không tách rời nhau, mà luôn song hành trong cuộc sống của người phụ nữ. Điều đó đòi hỏi không chỉ năng lực quản trị hay sự nhạy bén trong kinh doanh, mà còn cần sự hy sinh thầm lặng, sự kiên nhẫn và một tinh thần đủ mạnh mẽ để không gục ngã trước áp lực. Chính những thử thách ấy lại tạo nên bản lĩnh của người phụ nữ. Một bản lĩnh không đến từ những lời nói mạnh mẽ, mà được hình thành từ quá trình lao động bền bỉ, từ cách đối diện với khó khăn và từ sự kiên định với con đường mình đã chọn.

** Ông Trần Xuân Đức - Giám đốc Dự án Công ty TNHH Sơn kova Nano Quốc tế thuộc Tập đoàn sơn Kova trình bày tham luận: “KOVA kiên định con đường công nghệ nano, đưa vật liệu Việt vươn tầm quốc tế”.

Bài tham luận khẳng định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và vươn tầm quốc tế. Trên nền tảng đó, Công ty TNHH Sơn KOVA kiên định theo đuổi con đường nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nano trong lĩnh vực vật liệu sơn suốt hơn 30 năm qua, với mục tiêu tạo ra các sản phẩm có độ bền cao, an toàn cho sức khỏe và thân thiện với môi trường.

Ông Trần Xuân Đức - Giám đốc Dự án Công ty TNHH Sơn KOVA

Một trong những thành tựu nổi bật của KOVA là phát triển công nghệ Nano Silica chiết xuất từ vỏ trấu, tận dụng nguồn nguyên liệu sinh học dồi dào của Việt Nam để tạo ra vật liệu công nghệ cao, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Từ nền tảng khoa học đó, KOVA đã mở rộng sản xuất ra nhiều thị trường quốc tế, đầu tư nhà máy tại Malaysia và triển khai kế hoạch xây dựng nhà máy sơn Nano tại Trung Đông. Đặc biệt, năm 2020, 9 dòng sơn KOVA Nano được Hội đồng Nano thế giới chứng nhận đạt tiêu chuẩn công nghệ Nano quốc tế, đánh dấu bước tiến quan trọng của doanh nghiệp Việt trong lĩnh vực vật liệu tiên tiến.

Ông Trần Xuân Đức cũng nhấn mạnh vai trò của vật liệu xanh và công nghệ sơn Nano trong xây dựng đô thị bền vững, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Qua đó khẳng định doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có khả năng làm chủ công nghệ cao và xây dựng các thương hiệu công nghệ mang tầm vóc quốc tế nếu có sự đồng hành giữa Nhà nước, giới khoa học và cộng đồng doanh nghiệp.

** Bà Vũ Thị Suốt - Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Bitexco Nam Long trình bày tham luận: “Công ty Cổ phần Bitexco Nam Long: Đồng hành cùng ngành dệt may, cùng đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới”.

Bà Vũ Thị Suốt - Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Bitexco Nam Long

Bài tham luận khái quát hành trình hơn 37 năm phát triển của Công ty Cổ phần Bitexco Nam Long từ một tổ hợp dệt nhuộm tư nhân xuất phát từ làng nghề truyền thống Phương La thành hệ sinh thái doanh nghiệp đa ngành. Trong đó, lĩnh vực dệt may, đặc biệt là sản xuất khăn bông và sợi dệt, luôn được xác định là nền tảng cốt lõi gắn với bản sắc nghề truyền thống của quê hương. Doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ hiện đại từ Italy, Đức, Nhật Bản, hợp tác với các đối tác quốc tế để sản xuất và xuất khẩu khăn bông cao cấp sang Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu, đồng thời liên tục mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Bên cạnh dệt may, Bitexco Nam Long còn phát triển sang các lĩnh vực sản xuất nước sạch và đồ gỗ cao cấp, góp phần tạo việc làm cho gần 3.000 lao động trực tiếp và nhiều lao động tại các làng nghề. Doanh nghiệp cũng tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, hỗ trợ người nghèo, xây dựng quỹ khuyến học và thực hiện nhiều hoạt động cộng đồng ý nghĩa.

Bài viết nhấn mạnh trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ, ngành dệt may Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới công nghệ, phát triển bền vững, chuyển đổi số và nâng cao giá trị gia tăng. Với tinh thần đó, Bitexco Nam Long khẳng định sẽ tiếp tục đồng hành cùng ngành dệt may và sự phát triển của đất nước, góp phần xây dựng một Việt Nam thịnh vượng, hội nhập và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

** Trong tham luận: “Doanh nghiệp FDI trong kỷ nguyên vươn mình: Đồng hành cùng Việt Nam trong mô hình tăng trưởng bền vững”, bà Lê Thị Hồng Nhi - Phó Tổng Giám đốc Truyền thông, Đối ngoại và Phát triển bền vững Unilever Việt Nam nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp FDI trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam. Từ thực tiễn hoạt động của Unilever Việt Nam, tác giả cho rằng vai trò của doanh nghiệp FDI hiện nay không chỉ dừng ở đầu tư, sản xuất hay tạo việc làm, mà còn phải tạo ra giá trị dài hạn cho nền kinh tế thông qua nâng cao năng lực chuỗi cung ứng, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy phát triển bền vững. Sau hơn 30 năm hoạt động tại Việt Nam, Unilever đã đầu tư hơn 200 triệu USD, xây dựng hệ thống nhà máy, mạng lưới phân phối rộng khắp và tạo hàng chục nghìn việc làm trực tiếp, gián tiếp, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng và an sinh xã hội.

Bà Lê Thị Hồng Nhi - Phó Tổng Giám đốc Truyền thông, Đối ngoại và Phát triển bền vững Unilever Việt Nam

Bà Lê Thị Hồng Nhi cũng nhấn mạnh phát triển bền vững là động lực tạo giá trị dài hạn, không chỉ là yêu cầu tuân thủ. Unilever cam kết tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong các mục tiêu Net Zero, kinh tế tuần hoàn nhựa, bảo vệ môi trường, cải thiện sinh kế và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, doanh nghiệp đề xuất tăng cường hợp tác công - tư thông qua cải cách thủ tục hành chính, mở rộng cơ chế ưu đãi cho đầu tư xanh và phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

** Bà Nguyễn Thị Nga - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nước khoáng Khánh Hòa trình bày tham luận: “Doanh nhân nữ Việt Nam: Bản lĩnh “ngọc trong đá” và sứ mệnh dẫn dắt trong kỷ nguyên vươn mình”.

Bà Nguyễn Thị Nga - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nước khoáng Khánh Hòa trình bày tham luận

Là một nữ CEO của Vikoda, tác giả cho rằng phụ nữ khi tham gia vào kinh doanh không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, mà còn góp phần định hình một hệ giá trị mới cho doanh nghiệp Việt Nam: bền vững hơn - nhân văn hơn - và kỷ luật hơn. Vikoda theo đuổi triết lý “Ngọc trong đá”, đây không chỉ là triết lý kinh doanh, mà còn là triết lý sống.

“Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tôi tin rằng doanh nhân nữ không chỉ dừng lại ở vai trò “tham gia”, mà cần trở thành lực lượng dẫn dắt - dẫn dắt bằng trí tuệ, bằng kỷ luật, bằng những doanh nghiệp tử tế và bằng những thương hiệu Việt đủ sức vươn ra thế giới. Nếu trong quá khứ, phụ nữ Việt Nam góp phần giữ nước bằng lòng dũng cảm, thì hôm nay, chúng ta hoàn toàn có thể góp phần nâng tầm đất nước bằng năng lực quản trị và bản lĩnh doanh nhân. Tôi tin rằng khi phụ nữ Việt Nam mang trong mình tinh thần “Ngọc trong đá” - không ngừng học tập, không ngừng rèn luyện, không ngừng nâng chuẩn - thì không chỉ tạo nên thành công cho riêng mình, mà còn góp phần định vị một Việt Nam mới trên bản đồ thế giới”, bà Nguyễn Thị Nga chia sẻ.

** Tham luận: “Acecook Việt Nam: Kết nối toàn cầu - Đồng hành phát triển bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, do ông Phạm Trung Thành - Trưởng ban Đối ngoại Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam trình bày, khẳng định Acecook Việt Nam không chỉ là doanh nghiệp FDI của Nhật Bản mà đã trở thành một phần gắn bó với đời sống người Việt sau hơn 30 năm hoạt động tại Việt Nam. Với triết lý “Cook Happiness”, doanh nghiệp đã xây dựng hệ thống nhà máy hiện đại trên cả nước, cung cấp hàng tỷ sản phẩm mỗi năm và sở hữu nhiều thương hiệu quen thuộc như Hảo Hảo, Đệ Nhất, Phú Hương hay Hằng Nga. Acecook hiện giữ vị trí dẫn đầu thị trường mì ăn liền Việt Nam với 37,7% thị phần, doanh thu năm 2025 đạt hơn 15.000 tỷ đồng và xuất khẩu sản phẩm tới hơn 40 quốc gia, góp phần quảng bá ẩm thực Việt Nam ra thế giới.

Ông Phạm Trung Thành - Trưởng ban Đối ngoại Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam

Ông Phạm Trung Thành nhấn mạnh vai trò của Acecook trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kết nối chuỗi cung ứng và chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn quản lý Nhật Bản cho doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời, doanh nghiệp tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội với nhiều chương trình giáo dục, hỗ trợ trẻ em khó khăn, cứu trợ thiên tai, dịch bệnh và các hoạt động cộng đồng với tổng ngân sách CSR hơn 115 tỷ đồng giai đoạn 2021-2025.

Trong định hướng phát triển thời gian tới, Acecook cam kết tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, xây dựng trung tâm nghiên cứu phát triển và thúc đẩy chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh khối, giảm phát thải CO₂ và thay thế bao bì nhựa bằng vật liệu thân thiện môi trường. Qua đó, Acecook khẳng định mong muốn đồng hành lâu dài cùng Việt Nam trong hành trình phát triển bền vững và hội nhập toàn cầu.

** Tại phiên thứ 4: “Hợp lực khoa học - Doanh nhân - Giáo dục - Văn hóa dân tộc”, bà Lê Thị Huyền Trang - Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Doanh nhân Việt Nam - ASEAN, Hội Nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á - Việt Nam trình bày tham luận với chủ đề: “Văn hóa dân tộc và đạo đức doanh nhân trong thời kỳ toàn cầu hóa: Từ nền tảng giá trị đến sức mạnh cạnh tranh quốc gia”.

Tác giả khẳng định văn hóa dân tộc và đạo đức doanh nhân là nền tảng nội sinh quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Trong đó, ba giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam gồm trọng chữ tín, tinh thần cộng đồng và khả năng thích ứng bền bỉ được xem là những yếu tố có ý nghĩa trực tiếp đối với doanh nghiệp. Chữ tín giúp xây dựng niềm tin, giảm chi phí giao dịch và tạo nền tảng hợp tác dài hạn; tinh thần cộng đồng tạo nên vốn xã hội nội bộ và tăng khả năng chống chịu của tổ chức; còn sự linh hoạt chỉ bền vững khi gắn với các chuẩn mực minh bạch, công bằng và trách nhiệm.

Bà Lê Thị Huyền Trang tại Diễn đàn

Bà Lê Thị Huyền Trang đồng thời nhấn mạnh, đạo đức doanh nhân là “hạ tầng mềm” của năng lực cạnh tranh quốc gia. Đạo đức không chỉ mang ý nghĩa đạo lý mà còn góp phần giảm chi phí kiểm soát, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và củng cố môi trường đầu tư. Những biểu hiện cụ thể như minh bạch tài chính, tôn trọng người lao động, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường chính là thước đo uy tín và sức bền của doanh nghiệp, đặc biệt trong khủng hoảng.

Tác giả cho rằng sự phát triển của Việt Nam đòi hỏi sự kết hợp giữa Nhà nước kiến tạo với doanh nhân tự kiến tạo, giữa thể chế minh bạch và chuẩn mực đạo đức. Qua đó, bài viết khẳng định “vươn mình” không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn là sự trưởng thành về giá trị, tạo nền tảng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế quốc gia trong thế kỷ XXI.

** Ông Nguyễn Xuân Tự - Phó Vụ trưởng Vụ Công chức, Viên chức, Bộ Nội vụ trình bày tham luận: “Chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong nền công vụ”, trong đó đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp:

Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước. Theo đó, cần tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm, định hướng lớn trong các Nghị quyết chiến lược thành chính sách khả thi, tập trung vào việc xác lập vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng trong công tác nhân tài. Các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cần đề cao trách nhiệm trong phát hiện, tạo điều kiện và sử dụng nhân tài như một động lực chiến lược để thúc đẩy khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Ông Nguyễn Xuân Tự - Phó Vụ trưởng Vụ Công chức, Viên chức, Bộ Nội vụ

Hai là, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài cho cả khu vực công và khu vực tư, trong đó, tập trung vào các nội dung trọng tâm như:

(1) Xác định tiêu chí nhận diện nhân tài cấp quốc gia theo 03 nhóm đối tượng: Người Việt Nam ở trong nước; Người Việt Nam ở nước ngoài; Người nước ngoài:

(2) Phát hiện và thu hút nhân tài theo nhóm đối tượng: Thực hiện cơ chế phát hiện chủ động, liên thông, đa kênh, kết hợp giữa đề xuất từ tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng chuyên gia và dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở chuyên ngành. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để xây dựng bản đồ tài năng, phát hiện các cá nhân tiềm năng theo ngành, lĩnh vực, địa phương.

(3) Trọng dụng và đãi ngộ nhân tài: Chính sách đãi ngộ phải gắn với mức độ đóng góp và vai trò chiến lược, bao gồm: tiền lương vượt trội, ưu đãi thuế thu nhập, hỗ trợ nhà ở, môi trường làm việc chất lượng cao, cơ hội học thuật, nghiên cứu, chính sách,… Đồng thời, cần tạo điều kiện để nhân tài được tham gia vào các dự án, chương trình quốc gia; được đề xuất, phản biện và tham mưu chính sách; được vinh danh và bảo vệ danh tiếng. Đối với khu vực tư, cần có cơ chế khuyến khích, vinh danh nhân tài ngoài nhà nước; cho phép doanh nghiệp tư “đặt hàng” các viện, trường; ban hành các giải thưởng, danh hiệu cấp quốc gia cho đổi mới sáng tạo, công nghệ, khởi nghiệp và chuyển giao tri thức.

Ba là, các Bộ, cơ quan Trung ương triển khai các nhiệm vụ được giao về thu hút và trọng dụng nhân tài theo phân công của cấp có thẩm quyền.

** Ông Nguyễn Văn Khương - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục và Môi trường trình bày tham luận với chủ đề: “Mô hình hệ sinh thái hợp tác “5 nhà” cho phát triển bền vững tại Việt Nam”.

Tác giả khái quát mô hình này bao gồm 5 chủ thể trung tâm: (1) Nhà nước; (2) Nhà khoa học; (3) Nhà đầu tư; (4) Nhà doanh nghiệp và hệ thống hợp tác xã; (5) Nhà dân và cộng đồng xã hội.

Điểm cốt lõi của mô hình không chỉ nằm ở việc mở rộng số lượng chủ thể tham gia, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc toàn diện hệ sinh thái phát triển. Trong đó, mỗi “nhà” không tồn tại độc lập, mà được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất về thể chế, công nghệ, dữ liệu và lợi ích.

Điểm đặc biệt của mô hình “5 nhà” là khả năng khắc phục những hạn chế căn bản của mô hình “3 nhà” trước đây.

Ông Nguyễn Văn Khương (thứ 3 từ trái sang) được vinh danh tại chương trình

Từ góc độ phát triển bền vững, mô hình “5 nhà” mang lại ba giá trị cốt lõi.

Một là, bền vững về kinh tế, thông qua việc hình thành chuỗi giá trị liên thông từ cá nhân, hộ kinh doanh đến doanh nghiệp quy mô lớn; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động.

Hai là, bền vững về xã hội, khi mô hình mở rộng cơ hội tham gia thị trường cho người dân, góp phần giảm bất bình đẳng, tăng cường niềm tin và củng cố sự đồng thuận xã hội.

Ba là, bền vững về thể chế, với định hướng chuyển từ mô hình quản lý thiên về “kiểm soát - xử phạt” sang “kiến tạo - hỗ trợ - cùng phát triển”; đồng thời xây dựng nền tảng thể chế số minh bạch, hiệu quả và hiện đại hơn.

Từ những phân tích trên, tác giả khẳng định rằng: “Mô hình hợp tác 5 nhà không chỉ là một sáng kiến về tổ chức, mà là một bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển - từ phát triển đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái; từ quản lý hành chính sang kiến tạo giá trị; từ kinh tế truyền thống sang kinh tế số và kinh tế bền vững”.

** Ông Phan Dương - Giám đốc Quỹ Xã hội Phan Anh với tham luận: “Gìn giữ ký ức lịch sử trong kỷ nguyên số: Từ trách nhiệm xã hội đến khát vọng phát triển bền vững”, nhấn mạnh vai trò của việc gìn giữ ký ức lịch sử trong kỷ nguyên số như một trách nhiệm xã hội gắn với khát vọng phát triển bền vững của đất nước. Quỹ Xã hội Phan Anh, được thành lập từ năm 2020, không chỉ triển khai các hoạt động hỗ trợ giáo dục, học bổng cho học sinh khó khăn mà còn mở rộng sang các dự án phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường tín chỉ carbon theo tiêu chuẩn quốc tế.

Ông Phan Dương - Giám đốc Quỹ Xã hội Phan Anh

Điểm nhấn của tham luận là dự án “Lịch sử và Ký ức - Ứng dụng công nghệ Blockchain” được triển khai từ năm 2025 với sự phối hợp của nhiều tổ chức lịch sử, cựu chiến binh và doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước. Dự án hướng tới lưu giữ, bảo vệ ký ức lịch sử của các thế hệ đi trước, đồng thời chuyển hóa ký ức chiến tranh thành nền tảng đối thoại, góp phần xây dựng hòa bình, sự thấu hiểu và phát triển bền vững.

Ông Phan Dương cũng cảnh báo những thách thức của thời đại số và trí tuệ nhân tạo khi ranh giới giữa thật và giả ngày càng mong manh, tiềm ẩn nguy cơ bóp méo lịch sử và suy giảm niềm tin xã hội. Trước thực tế đó, Blockchain được lựa chọn như một giải pháp công nghệ nhằm bảo đảm tính minh bạch, xác thực và khả năng truy vết của dữ liệu lịch sử. Qua đó, tác giả khẳng định phát triển trong kỷ nguyên số không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn là khả năng gìn giữ các giá trị cốt lõi của dân tộc, kết hợp hài hòa giữa công nghệ hiện đại và di sản lịch sử để xây dựng một Việt Nam nhân văn, bền vững và thịnh vượng.

** Diễn đàn cũng tổ chức vinh danh các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong lĩnh vực khoa học và kinh doanh đã có những đóng góp xuất sắc cho sự phát triển kinh tế và an sinh xã hội của đất nước. 

Dưới là một hình ảnh tôn vinh các tập thể, cá nhân tiêu biểu:

Ban Tổ chức và các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Nhóm PV

Bài viết cùng tác giả