TS Bùi Thị Ngọc Hiền, Phó trưởng Khoa
Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công.
PV: Theo bà, bối cảnh trong nước và quốc tế hiện nay đang tác động như thế nào đến công tác quản trị khu vực công ở Việt Nam?
TS Bùi Thị Ngọc Hiền: Chúng ta đang sống trong một giai đoạn mà những thay đổi mang tính bước ngoặt xảy ra đồng thời trên nhiều phương diện. Trên thế giới, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với nòng cốt là chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và kết nối dữ liệu toàn cầu đang tái định hình mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Người dân ngày càng kỳ vọng cao hơn vào Chính phủ, họ muốn được phục vụ nhanh, minh bạch, chính xác và thuận tiện như khi sử dụng các dịch vụ của khu vực tư nhân. Điều đó buộc khu vực công phải chuyển mình để bắt kịp.
Ở Việt Nam, bối cảnh đó còn được tô đậm thêm bởi những cải cách có tính lịch sử. Cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, khởi động từ cuối năm 2024 và hoàn thành căn bản trong năm 2025, đặc biệt là việc triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp từ ngày 01/7/2025 trên phạm vi toàn quốc. Cấp huyện không còn, xã - phường - đặc khu trở thành cấp chính quyền cơ sở trực tiếp tiếp xúc với người dân và chịu trách nhiệm xử lý phần lớn các thủ tục hành chính. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ và cải cách hành chính sâu rộng, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải đảm đương thêm nhiều nhiệm vụ mới, đòi hỏi năng lực, tư duy và phương thức làm việc hoàn toàn khác trước.
Điều đó có nghĩa là, từ chỗ chỉ thực thi những gì cấp trên giao, cán bộ, công chức cấp xã giờ đây phải tự ra quyết định trong phạm vi thẩm quyền rộng hơn rất nhiều. Khu vực công đang phải chuyển dịch từ tư duy quản lý - kiểm soát sang tư duy phục vụ - kiến tạo. Đây là một thay đổi căn bản về triết lý quản trị, không chỉ là thay đổi về cơ cấu tổ chức hay quy trình nghiệp vụ.
Một thay đổi quan trọng nữa là đội ngũ cán bộ, công chức không thể chỉ làm việc theo mệnh lệnh, chỉ thị hay kế hoạch của cấp trên. Trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, với khối lượng công việc lớn hơn, thẩm quyền rộng hơn và áp lực từ người dân trực tiếp hơn, cán bộ, công chức phải dám làm, dám chịu trách nhiệm và biết cách quyết định đúng đắn ngay cả khi không có ai chỉ đạo từng bước. Đây là bản lĩnh, và bản lĩnh đó phải được hình thành từ quá trình đào tạo, không thể chờ đến khi va chạm thực tế mới học.
PV: Trong bối cảnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức cần phải có những năng lực gì để đáp ứng yêu cầu mới, thưa bà?
TS Bùi Thị Ngọc Hiền: Tôi muốn nhấn mạnh ba nhóm năng lực cốt lõi mà một cán bộ, công chức cấp xã thời kỳ này cần phải có.
Thứ nhất, tư duy phục vụ và hỗ trợ. Đây không chỉ là thái độ, mà là một năng lực thực sự. Cán bộ, công chức phải hiểu rằng người dân là chủ thể trung tâm, không phải là đối tượng được quản lý. Tư duy đó phải thể hiện qua từng giao tiếp, từng quyết định hành chính, từng lần hướng dẫn thủ tục cho người dân. Thực tế cho thấy, tỷ lệ hài lòng của người dân trong giải quyết thủ tục hành chính rất cao tại nhiều địa phương triển khai mô hình chính quyền thân thiện (nhiều địa phương đã đạt 97% - 98%). Đây là minh chứng rõ ràng cho thấy khi cán bộ, công chức thay đổi tư duy, kết quả sẽ thay đổi.
Thứ hai, năng lực số. Chuyển đổi số không dừng lại ở việc biết dùng máy tính hay tra cứu thông tin. Cán bộ, công chức cần biết vận hành các phần mềm quản lý hành chính, xử lý hồ sơ trực tuyến, khai thác và bảo vệ dữ liệu, thậm chí hiểu đủ để giải thích và hướng dẫn cho người dân lớn tuổi hoặc ở vùng sâu, vùng xa chưa quen với môi trường số. Đây là một đòi hỏi không thể né tránh khi chính phủ số đang trở thành xương sống của nền hành chính hiện đại.
Thứ ba, năng lực đồng kiến tạo và huy động sự tham gia. Trong mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, cán bộ cấp xã không thể chỉ trông chờ chỉ đạo từ trên xuống rồi thực thi. Họ phải biết lắng nghe, tổng hợp nguyện vọng của người dân, kết nối cộng đồng và tham mưu chính sách phù hợp với đặc thù địa phương. Kỹ năng tổ chức đối thoại, vận động quần chúng, xây dựng sự đồng thuận - thực chất là nền tảng để chính sách đi vào cuộc sống.
PV: Theo bà, những thay đổi đó đặt ra yêu cầu gì đối với nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay?
TS Bùi Thị Ngọc Hiền: Tôi cho rằng cần nhìn nhận công tác đào tạo, bồi dưỡng ở hai tầng: đào tạo cơ bản và bồi dưỡng thường xuyên. Hai tầng này phải bổ sung cho nhau, chứ không thể thay thế nhau.
Đào tạo cơ bản phải đảm bảo cho cán bộ, công chức có nền tảng kiến thức pháp luật, hành chính công, quản trị địa phương đủ vững để có thể làm việc độc lập. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh hơn là triết lý đào tạo phải thay đổi: cán bộ, công chức không chỉ cần biết "làm như thế nào" mà phải thấu hiểu "vì sao làm như thế". Khi hiểu được mục đích và tinh thần của quy định, họ mới có thể linh hoạt xử lý những tình huống phát sinh, mới dám chủ động sáng tạo trong phạm vi thẩm quyền của mình. Đây là sự khác biệt căn bản giữa một công chức thực thi và một công chức kiến tạo.
Với hoạt động bồi dưỡng, cần xác định đây là hoạt động thường xuyên, cập nhật liên tục để đáp ứng yêu cầu của thực tế. Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 được ban hành đã đánh dấu bước chuyển quan trọng khi pháp luật chính thức từ bỏ tư duy "đào tạo bổ sung" để tiệm cận mô hình "phát triển năng lực gắn với vị trí việc làm". Điều đó có nghĩa là: mỗi chức danh, vị trí phải có bộ tiêu chuẩn năng lực riêng và lộ trình bồi dưỡng riêng, thay vì cùng học một chương trình chung chung. Vì vậy, cần cá thể hóa lộ trình học tập, mỗi vị trí việc làm cần có lộ trình riêng, kết hợp giữa lý thuyết, tình huống thực tiễn và huấn luyện tại chỗ.
Bên cạnh đó, cần gắn nội dung bồi dưỡng với thực tiễn địa phương. Chương trình bồi dưỡng cần được thiết kế đủ linh hoạt để cán bộ, công chức ở miền núi, vùng đặc khu kinh tế hay đô thị lớn đều tìm thấy điều mình cần. Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 đã đề cập đến bồi dưỡng chuyên sâu về kinh tế số nông thôn, du lịch cộng đồng, quản trị rủi ro và truyền thông chính sách - đây là những nội dung gắn chặt với thực tiễn địa phương mà giáo trình chuẩn hóa khó bao quát hết.
PV: Về hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng có cần thay đổi không? Theo bà, nếu có thì nên được thay đổi theo hướng nào?
TS Bùi Thị Ngọc Hiền: Theo tôi, không chỉ cần mà bắt buộc phải thay đổi, và thay đổi triệt để.
Về hình thức tổ chức:
Theo Quyết định số 700/QĐ-TTg, các khóa bồi dưỡng được thiết kế linh hoạt từ 02 đến 05 ngày, có thể tổ chức ngay tại địa phương hoặc qua nền tảng số. Đây là hướng đi đúng - tránh để cán bộ, công chức xa rời công việc quá lâu trong giai đoạn tổ chức bộ máy đang hoạt động với cường độ cao sau sắp xếp. Ngoài ra, một số hình thức học tập thường xuyên khác có thể áp dụng phù hợp theo điều kiện của từng địa phương, cụ thể như:
Một là, học qua thực địa và thực tập chính sách. Cán bộ, công chức cấp xã được cử đến học hỏi trực tiếp từ những địa phương làm tốt, hoặc theo sát các cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong quá trình xử lý công việc thực tế. Đây là hình thức học rất hiệu quả nhưng hiện còn chưa được áp dụng bài bản.
Hai là, học theo cộng đồng thực hành. Nhóm cán bộ, công chức cùng chức danh ở các xã trong một tỉnh định kỳ gặp nhau, trực tiếp hoặc trực tuyến, để chia sẻ kinh nghiệm, tháo gỡ khó khăn, phổ biến cách làm hay. Đây là kênh học hỏi đồng đẳng, chi phí thấp nhưng hiệu quả cao, đang được nhiều nước áp dụng trong phát triển công chức địa phương.
Ba là, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong cá thể hóa học tập. Nền tảng "Bình dân học vụ số" theo Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 đã tích hợp AI để cá nhân hóa nội dung học, bảo đảm trải nghiệm phù hợp với trình độ và nhu cầu của từng người dùng. Mục tiêu đến hết năm 2026 là 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng tốt các nền tảng, dịch vụ số phục vụ công việc. Đây là xu hướng tất yếu và cần được đẩy mạnh.
Về phương pháp giảng dạy:
Một là, phương pháp giảng dạy phải chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành năng lực thực thi. Lớp học theo kiểu giảng viên đọc - học viên chép đã không còn phù hợp. Người học cần được đặt vào các tình huống thực tế, được phân tích và giải quyết vấn đề cùng nhau, được mắc sai sót trong môi trường an toàn và rút ra bài học kinh nghiệm. Phương pháp tình huống, đóng vai, học từ thực địa và mô phỏng nghiệp vụ cần trở thành phương thức chủ đạo.
Hai là, phương pháp giảng dạy phải chuyển từ truyền thụ một chiều sang gợi mở và dẫn dắt. Giảng viên không còn là người duy nhất nắm chân lý. Họ cần là người đặt câu hỏi khiến học viên phải suy nghĩ, người kết nối kinh nghiệm thực tiễn với lý thuyết, người tạo ra môi trường để trao đổi và phản biện sôi nổi.
Ba là, cần chú trọng giải quyết các tình huống phát sinh trực tiếp từ thực tiễn địa phương. Mỗi xã, mỗi phường có đặc thù riêng về địa lý, dân số, văn hóa, ngành nghề. Nội dung bồi dưỡng cần được thiết kế đủ linh hoạt để cán bộ, công chức ở miền núi hay đô thị lớn đều tìm thấy điều mình cần, chứ không phải áp dụng một giáo trình cứng nhắc cho tất cả.
PV: Để thực hiện được những thay đổi trên, cần có những điều kiện đảm bảo gì, thưa bà?
TS Bùi Thị Ngọc Hiền: Có ba điều kiện nền tảng cần được đảm bảo đồng bộ: khung chính sách và thể chế; đội ngũ giảng viên; nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ.
Khung chính sách và thể chế:
Về chính sách, chúng ta đang khá thuận lợi so với nhiều giai đoạn trước. Hệ thống thể chế đã được hoàn thiện đáng kể: Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Nghị định số 171/2025/NĐ-CP, Quyết định số 700/QĐ-TTg và Chỉ thị số 14/CT-TTg tạo thành một khung pháp lý tương đối đồng bộ. Lần đầu tiên khái niệm "học tập thường xuyên" của công chức được quy định; có quy định về công nhận kết quả học tập qua hình thức trực tuyến; đặc biệt là đào tạo đã được gắn với lộ trình phát triển công chức.
Nhưng khung pháp lý dù tốt đến đâu cũng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là cơ chế gắn kết quả đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng, đánh giá và quy hoạch cán bộ. Hiện nay, tình trạng "học để hoàn thành chỉ tiêu, để có chứng chỉ đúng quy định" vẫn còn khá phổ biến.
Thời gian tới, cần bổ sung cơ chế kiểm định chất lượng đầu ra (đánh giá sau đào tạo, bồi dưỡng), không phải kiểm tra kiến thức qua bài thi mà là đánh giá năng lực thực thi sau khóa học: Cán bộ, công chức xử lý hồ sơ nhanh hơn không? Phản ánh của người dân giảm không? Sáng kiến tại cơ sở có nhiều hơn không? Đây là thước đo thực chất mà kết quả đào tạo, bồi dưỡng cần hướng tới. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế gắn kết quả học tập với bổ nhiệm, đề bạt và chế độ đãi ngộ để tạo động lực thực chất cho cán bộ, công chức.
Đội ngũ giảng viên:
Đây là khâu mà tôi cho là quyết định trực tiếp đến chất lượng đầu ra. Cho dù chương trình, nội dung có được thiết kế tốt đến đâu, nếu giảng viên không đủ năng lực thì hoạt động đào tạo, bồi dưỡng vẫn không mang lại hiệu quả.
Giảng viên không thể chỉ giỏi về lý thuyết, họ phải có kinh nghiệm thực tiễn, có khả năng chuyển hóa lý thuyết thành bài học sát với công việc hàng ngày của cán bộ cơ sở. Quyết định số 700/QĐ-TTg có đề cập đến việc đưa giảng viên từ các cơ sở đào tạo ở trung ương về trực tiếp tham gia giảng dạy tại địa phương - đây là hướng đi đúng, cần triển khai nghiêm túc và đi kèm cơ chế, chính sách hấp dẫn để thu hút giảng viên giỏi. Về lâu dài, cần xây dựng đội ngũ giảng viên thực hành chuyên nghiệp, bao gồm cả các chuyên gia, lãnh đạo có kinh nghiệm thực tiễn từ khu vực công và khu vực tư.
Cơ chế, chính sách phải đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân người tài. Hiện nay, chế độ đãi ngộ cho giảng viên các cơ sở đào tạo cán bộ còn nhiều bất cập so với mặt bằng thu nhập của thị trường lao động chất lượng cao. Nếu không giải quyết được vấn đề này, nguy cơ chảy máu chất xám trong đội ngũ giảng viên sẽ ngày càng nghiêm trọng.
Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ:
Nhà nước đã và đang đầu tư cho hệ thống học viện, trường đào tạo cán bộ, công chức từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh cần bồi dưỡng số lượng lớn cán bộ, công chức cấp xã trên phạm vi cả nước - hàng trăm nghìn người - trong thời gian ngắn, nếu chỉ dựa vào ngân sách là chưa đủ. Cần đa dạng hóa nguồn lực, trong đó có hình thức hợp tác công - tư trong đào tạo, bồi dưỡng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để giảm chi phí và tăng khả năng tiếp cận của cán bộ ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.
Hợp tác công - tư trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là hướng đi tất yếu, nhưng cần được thiết kế bài bản, không phải chỉ là "mời doanh nghiệp tài trợ kinh phí". Nghị định số 171/2025/NĐ-CP và Thông tư số 03/2026/TT-BNV đã tạo ra cơ sở pháp lý cho hình thức ký hợp đồng với các tổ chức có năng lực đào tạo. Điều cần làm là xây dựng bộ tiêu chuẩn kiểm định đối tác và cơ chế thanh toán theo kết quả đầu ra. Theo đó, tôi muốn nhấn mạnh hai hình thức hợp tác có giá trị thực chất:
Một là, doanh nghiệp tham gia bồi dưỡng, tập huấn. Các tập đoàn công nghệ lớn như FPT, Viettel, VNPT có thể cử chuyên gia đào tạo kỹ năng số, vận hành nền tảng chính phủ điện tử, bảo mật dữ liệu. Các doanh nghiệp logistic, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch... có thể tham gia bồi dưỡng nội dung về kinh tế địa phương. Đây là nguồn kiến thức thực tiễn mà các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công lập khó có được.
Hai là, hợp tác xây dựng hạ tầng học tập số. Khu vực tư nhân, đặc biệt là các công ty EdTech, có thể đóng vai trò xây dựng và vận hành hệ thống quản lý học tập quốc gia, cung cấp học liệu số chất lượng cao, tích hợp AI cá thể hóa trải nghiệm học. Đây chính là triết lý đằng sau nền tảng "Bình dân học vụ số" mà Chỉ thị số 14/CT-TTg hướng tới.
PV: Vậy thông điệp cuối cùng bà muốn gửi gắm đến những người làm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay là gì?
TS Bùi Thị Ngọc Hiền: Thông điệp tôi muốn truyền tải là: đừng đào tạo, bồi dưỡng để hoàn thành chỉ tiêu - hãy đào tạo, bồi dưỡng để thay đổi thực sự. Một khóa học ngắn ngày nhưng giúp cán bộ, công chức về địa phương xử lý được một vướng mắc thực tế, giao tiếp tốt hơn với người dân, hay mạnh dạn đưa ra một sáng kiến nhỏ - như vậy là thành công. Ngược lại, nếu học xong, bằng cấp đầy đủ mà cán bộ, công chức vẫn làm việc theo quán tính cũ, vẫn sợ trách nhiệm, vẫn coi người dân là đối tượng quản lý - thì chúng ta đã lãng phí nguồn lực xã hội.
Đây là thời điểm mà cải cách thực sự đang diễn ra, không phải trên giấy tờ. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chính là người hiện thực hóa những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đến từng người dân. Trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng là phải đồng hành xứng đáng với sứ mệnh lịch sử đó.
PV: Xin trân trọng cảm ơn TS Bùi Thị Ngọc Hiền về những chia sẻ rất tâm huyết!
Phạm Hồng (thực hiện)
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả