Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; giá trị lý luận, thực tiễn; hệ thống chính trị.
Abstract: The views of the Communist Party of Vietnam on the political system constitute an important component of the theoretical framework on socialism and the path toward socialism in Vietnam. This article analyzes the foundations underlying the formation of the Party’s views and clarifies the fundamental contents of its perspective on Vietnam’s political system. On that basis, it examines the theoretical and practical values of this system of views in the current context.
Keywords: Communist Party of Vietnam; theoretical and practical values; political system.
![]()
1. Đặt vấn đề
Hệ thống chính trị giữ vị trí trung tâm trong tổ chức và thực thi quyền lực chính trị, bảo đảm sự vận hành của chế độ và định hướng phát triển xã hội. Đối với các quốc gia xây dựng chủ nghĩa xã hội, hệ thống chính trị không chỉ là công cụ tổ chức quyền lực nhà nước mà còn là phương thức hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân, duy trì ổn định chính trị và tạo động lực cho phát triển đất nước. Thực tiễn thế giới cho thấy sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc không chỉ vào nguồn lực kinh tế mà còn vào năng lực tổ chức, quản trị và tự đổi mới của hệ thống chính trị.
Ở Việt Nam, quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị gắn liền với tiến trình phát triển của cách mạng và sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tổng kết thực tiễn trong nước, quốc tế, Đảng ta từng bước hình thành hệ thống quan điểm ngày càng hoàn chỉnh về hệ thống chính trị. Qua 40 năm đổi mới, việc từng bước hoàn thiện hệ thống chính trị đã góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng và mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, tác động của hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, đổi mới quản trị quốc gia và yêu cầu kiểm soát quyền lực ngày càng cao, hệ thống chính trị tiếp tục đứng trước đòi hỏi phải hoàn thiện cả về tổ chức, cơ chế vận hành và phương thức lãnh đạo.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị
2.1. Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác - Lênin đặt nền tảng khoa học về chính trị và tổ chức quyền lực trong xã hội có giai cấp. Mặc dù chưa sử dụng trực tiếp thuật ngữ “hệ thống chính trị” theo nội hàm hiện đại, nhưng các nhà kinh điển đã xây dựng một hệ thống luận điểm có giá trị về mối quan hệ giữa quyền lực chính trị với cơ sở kinh tế, giữa nhà nước với lợi ích giai cấp và giữa tổ chức chính trị với mục tiêu phát triển xã hội. Trên cơ sở học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác xác lập nguyên lý phương pháp luận có ý nghĩa nền tảng: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”(1). Kế thừa và phát triển tư tưởng đó, Ph.Ăngghen khẳng định: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác”(2); V.I.Lênin tiếp tục luận giải: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được”(3). Những luận điểm này đặt cơ sở lý luận cho việc xác định hệ thống chính trị không chỉ là tập hợp các thiết chế tổ chức quyền lực mà còn là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của lực lượng cầm quyền.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã bổ sung chiều sâu nhân văn và thực tiễn Việt Nam cho nhận thức về hệ thống chính trị. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin cung cấp cơ sở lý luận về quyền lực chính trị thì tư tưởng Hồ Chí Minh đặt nhân dân vào vị trí trung tâm của toàn bộ cấu trúc quyền lực. Quan điểm cốt lõi của Người là quyền lực nhà nước phải xuất phát từ nhân dân và phục vụ nhân dân. Trong bài Dân vận (1949), Người khẳng định: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4). Đồng thời Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(5). Từ quan điểm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập cấu trúc đặc trưng của hệ thống chính trị Việt Nam gồm: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Mặt trận cùng các đoàn thể làm cầu nối với Nhân dân.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn xây dựng hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa cho thấy sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của chế độ. Mô hình Liên Xô từng tạo ra năng lực tổ chức và huy động nguồn lực lớn cho xây dựng đất nước, nhưng những hạn chế trong cơ chế vận hành, tình trạng tập trung quyền lực, hành chính hóa và đặc biệt là sai lầm về đường lối trong giai đoạn cải tổ đã dẫn tới sự tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Trong khi đó, kinh nghiệm cải cách ở Trung Quốc, cập nhật hóa mô hình ở Cuba và đổi mới ở Lào cho thấy giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền phải gắn với năng lực tự đổi mới, hoàn thiện thể chế, tinh gọn tổ chức bộ máy và tăng cường kiểm soát quyền lực. Những kinh nghiệm đó trở thành cơ sở tham chiếu quan trọng để Đảng lựa chọn con đường đổi mới hệ thống chính trị phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Cùng với kinh nghiệm quốc tế, thực tiễn cách mạng Việt Nam là cơ sở trực tiếp và có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành quan điểm của Đảng về hệ thống chính trị. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam từng bước xây dựng một kiểu tổ chức quyền lực mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh năm 2011 khẳng định thắng lợi đó đã “lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do”(6). Tuy nhiên, trong giai đoạn vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, mô hình hệ thống chính trị ở nước ta cũng bộc lộ những hạn chế về tổ chức và quản lý. Từ thực tiễn đó, công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã mở ra bước chuyển quan trọng trong nhận thức và tổ chức hệ thống chính trị theo hướng phát huy dân chủ, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đồng thời, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới tiếp tục đặt ra đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống chính trị để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế. Cương lĩnh năm 2011 xác định mục tiêu xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là “xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”(7). Trên tinh thần đó, Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”(8), “hoàn thiện mô hình tổng thể và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”(9), đồng thời “hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực”(10).
3. Nội dung cơ bản trong quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị
Một là, quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị.
Quan niệm của Đảng ta về hệ thống chính trị được hình thành trong quá trình đổi mới tư duy lý luận về tổ chức quyền lực nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng. Trước thời kỳ đổi mới, mô hình tổ chức quyền lực ở nước ta chủ yếu được tiếp cận dưới khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”, nhấn mạnh bản chất giai cấp và chức năng bảo vệ chính quyền cách mạng. Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989), khi lần đầu Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “hệ thống chính trị” thay cho “hệ thống chuyên chính vô sản”. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về thuật ngữ mà là sự phát triển về chất trong tư duy lý luận của Đảng, chuyển từ tiếp cận quyền lực theo góc nhìn chuyên chính sang tiếp cận chỉnh thể chính trị - xã hội. Trên cơ sở đó, Đảng ta xác định hệ thống chính trị ở Việt Nam là chỉnh thể thống nhất các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Hai là, quan điểm của Đảng về bản chất, vị trí và vai trò của hệ thống chính trị.
Đảng ta xác định hệ thống chính trị Việt Nam là một chỉnh thể chính trị - xã hội mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc. Đây là ba thuộc tính cơ bản, phản ánh đặc trưng riêng của mô hình chính trị Việt Nam. Bản chất giai cấp công nhân của hệ thống chính trị trước hết được thể hiện thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(11). Từ bản chất đó, Đảng ta xác định hệ thống chính trị giữ vị trí trung tâm trong kiến trúc thượng tầng xã hội và thực hiện bốn vai trò cơ bản: là công cụ để nhân dân thực hiện quyền làm chủ; là nền tảng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là nhân tố giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và ổn định chính trị; đồng thời là lực lượng tổ chức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh năm 2011 xác định mục tiêu của toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là “xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”(12).
Ba là, quan điểm của Đảng về cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị.
Trên phương diện tổ chức, Đảng ta xác định hệ thống chính trị Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất gồm bốn thành tố cơ bản: Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các tổ chức chính trị - xã hội. Trong cấu trúc ấy, Đảng giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống và toàn xã hội; Nhà nước giữ vai trò trung tâm thực hiện quyền lực nhà nước và quản lý xã hội bằng pháp luật; Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò tập hợp quần chúng, phát huy dân chủ và thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Về cơ chế vận hành, Đảng ta xác định nguyên lý xuyên suốt là: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đây là nguyên lý phản ánh sự phân công chức năng giữa các thành tố trong hệ thống chính trị, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa lãnh đạo chính trị, quản lý hành chính và quyền lực nhân dân. Hội nghị Trung ương 5 khóa X nhấn mạnh yêu cầu: “Chú trọng đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, thông qua cơ chế ‘Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”(13).
Bốn là, quan điểm của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị.
Đảng ta xác định xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên, gắn chặt với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Đổi mới hệ thống chính trị không phải thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà nhằm nâng cao chất lượng tổ chức quyền lực, phát huy dân chủ và tăng hiệu quả quản trị quốc gia. Định hướng tổng thể được xác lập là đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị; lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm nhưng đồng thời từng bước đổi mới chính trị phù hợp với điều kiện đất nước. Nghị quyết số 18-NQ/TW (năm 2017) xác định mục tiêu: “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân”(14). Trọng tâm của quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị hiện nay gồm: xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
4. Giá trị lý luận và giá trị thực tiễn quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị
4.1. Giá trị lý luận
Quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị góp phần bổ sung và phát triển học thuyết mácxít về tổ chức và thực thi quyền lực chính trị trong điều kiện mới. Nếu cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin chủ yếu nhấn mạnh vai trò của nhà nước chuyên chính vô sản như công cụ tổ chức quyền lực của giai cấp công nhân thì Đảng ta đã phát triển thành nhận thức toàn diện hơn về một chỉnh thể quyền lực chính trị xã hội chủ nghĩa, trong đó các thành tố của hệ thống vừa thống nhất mục tiêu chính trị, vừa có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau trong quá trình vận hành. Mô hình “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trở thành bước phát triển lý luận quan trọng, làm rõ mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng, chức năng quản lý của Nhà nước và địa vị chủ thể của Nhân dân.
Quan điểm của Đảng ta tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất giữa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong chỉnh thể đó, hệ thống chính trị giữ vai trò bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, tổ chức thực hiện đường lối phát triển và tạo cơ chế phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Từ đó, lý luận về hệ thống chính trị trở thành bộ phận hữu cơ trong tổng thể lý luận đổi mới, góp phần khẳng định sự thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị.
Quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị làm sâu sắc hơn nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo đó, quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự thân của bộ máy công quyền mà thuộc về nhân dân và được thực hiện thông qua các thiết chế chính trị - pháp lý phù hợp. Điều này thể hiện sự phát triển nhận thức về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, phát huy giám sát xã hội và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Giá trị lý luận đó tiếp tục được khẳng định trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Văn kiện Đại hội XIV xác định Đại hội XIV là “Đại hội khởi đầu cho kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc”(15), đồng thời nhấn mạnh việc triển khai các quyết sách chiến lược nhằm tạo đột phá phát triển đất nước “trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”(16). Cùng với đó, Đại hội yêu cầu “kiểm điểm sâu sắc và toàn diện công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”(17). Những định hướng đó cho thấy hệ thống chính trị không chỉ được nhìn nhận như thiết chế bảo đảm ổn định chính trị mà còn là chủ thể tổ chức, dẫn dắt và kiến tạo phát triển quốc gia trong điều kiện mới.
4.2. Giá trị thực tiễn
Quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị là cơ sở trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Trên cơ sở các chủ trương của Đảng, quá trình đổi mới đã từng bước làm rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các cơ quan trong hệ thống; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức chính trị - xã hội. Việc xây dựng hệ thống chính trị được đặt trong mối quan hệ thống nhất với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm của Đảng về hệ thống chính trị tạo cơ sở thực tiễn bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khoản 2, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”(18). Trên nền tảng đó, quyền làm chủ của nhân dân từng bước được thể chế hóa thông qua Hiến pháp, pháp luật và các thiết chế dân chủ; nhân dân tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào quá trình quản lý nhà nước, giám sát quyền lực và xây dựng hệ thống chính trị. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” phản ánh bước phát triển mới trong việc hiện thực hóa dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị còn thể hiện ở khả năng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa “đã thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân ta đang xây dựng”, trong đó có các đặc trưng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, “Do Nhân dân làm chủ”, và “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”(19); đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân”(20).
Trong bối cảnh hiện nay, quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị còn có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan trọng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; tăng cường giám sát xã hội; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chính là minh chứng cho năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và sức sống của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
5. Kết luận
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam và yêu cầu phát triển đất nước trong từng thời kỳ. Hệ thống quan điểm đó từng bước hoàn thiện nhận thức về mô hình tổ chức, cơ chế vận hành và mối quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong bối cảnh Đại hội XIV xác định đây là “Đại hội khởi đầu cho kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc” và tạo đột phá phát triển đất nước “trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, việc tiếp tục quán triệt và hiện thực hóa quan điểm của Đảng về hệ thống chính trị có ý nghĩa quan trọng nhằm xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và tạo động lực cho phát triển đất nước nhanh, bền vững trong giai đoạn mới./.
-------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG-ST, H.1993, tr.15.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 22, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr.290-291.
(3) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb CTQG-ST, H.2005, tr.9.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.232.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.434.
(6), (7), (11), (12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.3-4, tr.88-89, tr.88, tr.21.
(8), (15), (17) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.144, tr.11-12, tr.9.
(9), (10), (16), (19), (20) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.283, tr.392, tr.199-200, tr.31-32, tr.100-101.
(18) Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, H.2013.
(13) Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 30/7/2007 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị.
(14) Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Nguyễn Trung Hiếu - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả