Summary: The staff of the Party Organization and Construction sector – the strategic advisory force on Party building, political system construction, organizational work, personnel, Party members, internal political security, and the protection and care of cadres' health at the Central level – need to be equipped with comprehensive digital capabilities to meet new demands. This article clarifies the role of developing digital capabilities in the specific context of Party work; assesses the current situation, identifies bottlenecks and challenges; and proposes several solutions to develop digital capabilities, contributing to building a modern, scientific, and professional Party Organization and Construction sector.
Từ khóa: năng lực số; chuyển đổi số; trí tuệ nhân tạo; tổ chức xây dựng Đảng; cán bộ; công tác cán bộ.
Key words: Digital capabilities; digital transformation; artificial intelligence; Party building organization; cadres; personnel work.
![]()
1. Mở đầu
Một trong tám nội dung xuyên suốt được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định là: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng”(1). Đây không chỉ là định hướng cho phát triển kinh tế - xã hội mà còn là yêu cầu cấp bách đối với hệ thống chính trị, trong đó có công tác xây dựng Đảng. Ngành Tổ chức xây dựng Đảng, với vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược, là khâu “then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, chịu trách nhiệm về tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ và bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, không thể đứng ngoài xu thế này. Trong bối cảnh dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo nên sự thay đổi căn bản phương thức quản trị xã hội, việc chuyển đổi từ phương thức làm việc truyền thống, thủ công là chủ yếu sang phương thức hiện đại dựa trên dữ liệu số là xu thế tất yếu và khách quan.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Vai trò của việc phát triển năng lực số cho cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng trong kỷ nguyên chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có công tác tổ chức xây dựng Đảng. Chính vì vậy, việc phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược rất quan trọng, cụ thể”
Một là, năng lực số giúp cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Việc sử dụng thành thạo các nền tảng số, hệ thống cơ sở dữ liệu, phần mềm quản lý cán bộ, đảng viên và các công cụ hỗ trợ phân tích dữ liệu giúp quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và khai thác thông tin được thực hiện nhanh chóng, chính xác, giảm thiểu sai sót và tiết kiệm thời gian. Đây cũng là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng công tác tham mưu về tổ chức bộ máy, cán bộ và xây dựng đội ngũ đảng viên.
Hai là, phát triển năng lực số góp phần thúc đẩy đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của các cơ quan tham mưu về tổ chức xây dựng Đảng. Trong môi trường số, các quyết định quản lý được hỗ trợ bởi dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích hiện đại, giúp nâng cao tính khoa học, kịp thời và chính xác trong quá trình hoạch định chủ trương, chính sách cũng như đánh giá cán bộ, tổ chức đảng.
Ba là, năng lực số giúp đội ngũ cán bộ thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo. Các công cụ AI hiện nay có khả năng hỗ trợ tổng hợp thông tin, phân tích dữ liệu, dự báo xu hướng và xử lý văn bản hành chính với hiệu quả cao. Cán bộ có năng lực số sẽ biết cách khai thác, sử dụng AI một cách hiệu quả, đồng thời nhận diện và kiểm soát những rủi ro phát sinh trong quá trình ứng dụng công nghệ mới, bảo đảm tính chính xác, khách quan và bảo mật thông tin.
Bốn là, phát triển năng lực số góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính số và Đảng số. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Cùng với đó , năng lực số còn giúp tăng cường tính minh bạch, công khai trong thực thi công vụ, nâng cao khả năng kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị và các cấp ủy đảng. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng quản trị, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức xây dựng Đảng.
Tuy nhiên, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ hỗ trợ; yếu tố quyết định sự thành bại của quá trình chuyển đổi số chính là con người. Thực tiễn cho thấy, nếu đội ngũ cán bộ không có đủ năng lực để làm chủ công nghệ, quá trình số hóa không những không mang lại hiệu quả mà còn có thể gây ra những rủi ro về an toàn thông tin hoặc sai lệch trong quy trình xử lý công việc.
Năng lực số đối với cán bộ ngành Tổ chức xây dựng Đảng không chỉ dừng lại ở kỹ năng sử dụng máy tính, soạn thảo văn bản hay vận hành các phần mềm văn phòng đơn thuần, nó mang hàm ý rộng hơn, sâu sắc hơn, gắn liền với nhiệm vụ chính trị và tính chất bảo mật của Đảng. Đó là sự tổng hòa kiến thức, kỹ năng, thái độ và bản lĩnh chính trị làm việc trong môi trường số. Cụ thể, năng lực này bao hàm tư duy số - khả năng tư duy dựa trên dữ liệu (data-driven mindset), sẵn sàng đổi mới quy trình làm việc cũ kỹ; kỹ năng thực thi - bao gồm khả năng thu thập, quản trị, phân tích dữ liệu, sử dụng các công cụ AI để hỗ trợ ra quyết định; và quan trọng hơn cả là văn hóa số cùng ý thức an ninh số. Cán bộ tổ chức phải biết tuân thủ các chuẩn mực đạo đức trên không gian mạng và bảo đảm tuyệt đối an toàn, bí mật thông tin theo quy định về bảo vệ chính trị nội bộ.
Thời gian qua, ngành Tổ chức xây dựng Đảng đã quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chuyển đổi số đã từng bước hiện thực hóa chiến lược số hóa, tạo nên những chuyển biến tích cực và căn bản trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý dựa trên nền tảng công nghệ. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức và cơ sở dữ liệu đảng viên đang dần được hoàn thiện và đưa vào khai thác. Nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã chủ động triển khai hiệu quả các phần mềm như: Sổ tay đảng viên điện tử; phần mềm chấm điểm đánh giá cán bộ, công chức; hệ thống quản lý đảng viên và chi bộ trực tuyến; phần mền điều hành tác nghiệp và quản lý văn bản Đảng; ứng dụng sinh hoạt “chi bộ điện tử”; phần mềm theo dõi công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng… Đội ngũ cán bộ, đặc biệt là lớp cán bộ trẻ, đã từng bước hình thành nền tảng năng lực số tương đối vững chắc, phần lớn đã sử dụng thành thạo các kỹ năng tin học văn phòng, thao tác tốt trên hệ thống quản lý văn bản điều hành, thực hiện chữ ký số và khai thác hiệu quả mạng Internet và các nền tảng trực tuyến phục vụ công tác chuyên môn. Tư duy về chuyển đổi số trong lãnh đạo, quản lý của ngành đã có sự chuyển biến tích cực, rõ nét, nhận thức được vai trò của chuyển đổi số đối với nâng cao chất lượng tham mưu, chuẩn hóa quy trình và tăng cường tính công khai, minh bạch trong công tác tổ chức cán bộ. Sự thay đổi này tạo nền tảng thuận lợi để thúc đẩy hiện đại hóa công tác Tổ chức xây dựng Đảng, đồng thời góp phần hình thành lực lượng cán bộ đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được năng lực số của đội ngũ cán bộ ngành Tổ chức xây dựng Đảng vẫn còn tồn tại những khoảng trống và bất cập. Phần lớn cán bộ mới chỉ dừng lại ở kỹ năng nhập liệu và tra cứu cơ bản. Các kỹ năng chuyên sâu như phân tích dữ liệu, tổng hợp báo cáo bằng công cụ hiện đại, đặc biệt kỹ năng ra quyết định dựa trên dữ liệu còn yếu. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hỗ trợ soạn thảo văn bản, dự báo xu hướng nhân sự hay rà soát hồ sơ còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, trình độ công nghệ không đồng đều giữa các cấp hành chính và các vùng miền tạo ra rào cản cho việc liên thông dữ liệu. Tại một số địa phương, cán bộ lớn tuổi vẫn còn tâm lý ngại thay đổi, sợ công nghệ, vẫn ưu tiên cách làm việc thủ công dựa trên hồ sơ giấy. Hơn nữa, dữ liệu ngành Tổ chức nhiều nơi còn phân tán, chưa được chuẩn hóa (làm sạch), dẫn đến việc cán bộ gặp khó khăn khi muốn áp dụng công nghệ để tổng hợp, phân tích. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc chưa có một chiến lược đào tạo năng lực số bài bản, chuyên biệt cho ngành; nội dung bồi dưỡng còn nặng lý thuyết, thiếu thực hành; hạ tầng kỹ thuật tại cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu vận hành các ứng dụng lớn.
2.2. Một số giải pháp phát triển năng lực số cho cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng trong kỷ nguyên chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo
Một là, phải thống nhất nhận thức và đổi mới tư duy trong toàn ngành.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đã chỉ rõ: “các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định rõ trách nhiệm, chủ động triển khai thực hiện. Người đứng đầu phải trực tiếp phụ trách, chỉ đạo; cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện”(2). Theo đó, cần quán triệt sâu sắc rằng chuyển đổi số không phải là trào lưu nhất thời mà là yếu tố quyết định sự sinh tồn và phát triển của tổ chức. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đóng vai trò là Thủ lĩnh số, tiên phong ứng dụng công nghệ trong chỉ đạo, điều hành để tạo sức lan tỏa. Cần xây dựng môi trường văn hóa số, nơi mà sự sáng tạo, đổi mới quy trình làm việc được khuyến khích, và những sai sót trong quá trình thử nghiệm công nghệ mới (trong phạm vi cho phép) được nhìn nhận một cách bao dung, khách quan, đa chiều để rút kinh nghiệm.
Hai là, Ban Tổ chức Trung ương cần nghiên cứu, sớm ban hành Khung năng lực số chuyên biệt dành riêng cho cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng.
Khung năng lực này cần cụ thể hóa các tiêu chuẩn về: Kỹ năng sử dụng phần mềm chuyên ngành; Kỹ năng quản trị và phân tích dữ liệu; Kỹ năng bảo mật thông tin và Kỹ năng ứng dụng AI trong hành chính công. Đây sẽ là thước đo chuẩn mực để phục vụ cho việc tuyển dụng (tuyển chọn), bố trí, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hằng năm, đảm bảo tính khoa học và thực chất.
Ba là, cần chuyển mạnh từ phương thức bồi dưỡng lý thuyết sang đào tạo kỹ năng thực hành (Learning by doing).
Các chương trình tập huấn cần tập trung vào các tình huống nghiệp vụ thực tế, ví dụ như: quy trình tra cứu và thẩm định hồ sơ trên môi trường số; cách sử dụng công cụ AI để tổng hợp thông tin nhân sự; phương pháp bảo vệ tài khoản và dữ liệu trước các cuộc tấn công mạng. Nên kết hợp linh hoạt giữa đào tạo trực tiếp và E-learning để cán bộ có thể tự học, tự nghiên cứu mọi lúc, mọi nơi, cập nhật liên tục những kiến thức công nghệ mới.
Bốn là, hiện đại hóa hạ tầng và chuẩn hóa dữ liệu.
Hiện đại hóa hạ tầng số và chuẩn hóa dữ liệu là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tạo nền tảng cho việc nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiện nay. Đây không chỉ là điều kiện kỹ thuật bảo đảm cho quá trình số hóa các hoạt động nghiệp vụ mà còn là cơ sở để khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý và ra quyết định. Với tinh thần đó, cần tập trung đầu tư, nâng cấp đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng hiện đại, an toàn và kết nối liên thông. Các cơ quan tổ chức xây dựng Đảng cần được trang bị hệ thống máy chủ, trung tâm dữ liệu, mạng truyền dẫn tốc độ cao, thiết bị đầu cuối và các nền tảng phần mềm đáp ứng yêu cầu xử lý khối lượng lớn thông tin trong môi trường số. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng điện toán đám mây, công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu trong toàn hệ thống. Cùng với hiện đại hóa hạ tầng, việc chuẩn hóa dữ liệu phải được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.
Hiện nay, dữ liệu về tổ chức bộ máy, cán bộ, đảng viên và các lĩnh vực liên quan còn phân tán, thiếu tính đồng bộ, gây khó khăn cho việc kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin. Vì vậy, cần xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn thống nhất về thu thập, cập nhật, lưu trữ và quản lý dữ liệu; bảo đảm tính đầy đủ, chính xác, nhất quán và kịp thời của thông tin. Việc hình thành các cơ sở dữ liệu dùng chung, liên thông giữa các cấp, các cơ quan trong hệ thống chính trị sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, đánh giá và sử dụng cán bộ. Bên cạnh đó, cần tăng cường các giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo mật dữ liệu. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với ngành tổ chức xây dựng Đảng bởi dữ liệu quản lý có tính chất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến công tác cán bộ và công tác xây dựng Đảng. Việc áp dụng các công nghệ bảo mật hiện đại, phân quyền truy cập chặt chẽ và kiểm soát rủi ro an ninh mạng sẽ góp phần bảo vệ an toàn cho hệ thống dữ liệu số. Thực hiện tốt giải pháp hiện đại hóa hạ tầng số và chuẩn hóa dữ liệu sẽ tạo môi trường làm việc số thuận lợi cho đội ngũ cán bộ ngành tổ chức xây dựng Đảng, nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong thực thi nhiệm vụ. Đồng thời, đây cũng là tiền đề quan trọng để xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số đồng bộ, phục vụ hiệu quả công tác tham mưu chiến lược, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tổ chức xây dựng Đảng trong giai đoạn mới.
Năm là, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách để tạo động lực cho cán bộ.
Cần có cơ chế khuyến khích, đãi ngộ xứng đáng đối với những cán bộ có sáng kiến chuyển đổi số hiệu quả. Đưa tiêu chí năng lực số vào nội dung đánh giá hoàn thành nhiệm vụ và là một trong những điều kiện khi xem xét quy hoạch, bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế thu hút các chuyên gia công nghệ giỏi, có bản lĩnh chính trị vững vàng về làm việc trong ngành Tổ chức xây dựng Đảng để tạo hạt nhân nòng cốt thúc đẩy quá trình chuyển đổi số.
3. Kết luận
Phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ ngành Tổ chức xây dựng Đảng là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự quyết tâm chính trị cao, sự đầu tư bài bản và lộ trình khoa học. Trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo, người cán bộ làm công tác tổ chức không chỉ cần có trái tim nóng (phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị) và cái đầu lạnh (nguyên tắc, kỷ luật) mà còn cần được trang bị thêm kỹ năng số sắc bén. Chỉ khi đội ngũ cán bộ làm chủ được công nghệ, công tác xây dựng Đảng mới thực sự trở nên minh bạch hơn, khoa học hơn và hiệu quả hơn, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
----------------------
Ghi chú:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.31.
2. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn Toàn văn, Nghị quyết 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Trung tá ThS Nguyễn Hoài Nam - Khoa Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Học viện Chính trị
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả