Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Hai mục tiêu 100 năm - Sự hiện thực niềm tin và khát vọng

Ngày đăng: 11/06/2026   15:13
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Hai mục tiêu 100 năm được Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra là những mục tiêu được đặt ra dựa trên lý luận, thực tiễn đã kiểm nghiệm có hiệu quả cao và được xây dựng qua sự phân tích sâu kỹ những thuận lợi, điểm mạnh có thể phát huy và cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức, trở ngại cần phải kiên quyết khắc phục, vượt qua. Đây là khát vọng mang sức sống hiện thực được hình thành, bồi đắp bằng luận cứ khoa học về lộ trình hướng đích được dự liệu rõ ràng. Khát vọng này hoàn toàn phù hợp với mong muốn, nguyện vọng là xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn, phấn đấu thực hiện, là điều không ai có thể phủ nhận.

Summary: The two centenary goals by the 13th Party Congress are objectives set based on proven theory and practice, developed through in-depth analysis of advantages and strengths that can be leveraged, and carefully considered difficulties, challenges, and obstacles that must be resolutely overcome. These aspirations, imbued with real vitality, are built upon scientific arguments regarding a clearly defined roadmap towards the goal. This aspiration is entirely consistent with the desire and aspiration to build the country along the socialist path chosen and pursued by President Ho Chi Minh, the Party, and the Vietnamese people. This is undeniable.

Từ khóa: Hai mục tiêu 100 năm; khát vọng; niềm tin.

Key words: Two centenary goals; Aspiration; Belief.


1. Hai mục tiêu 100 năm - tiếp nối khát vọng lịch sử

Với vị thế, uy tín và cơ đồ đã giành được qua 40 năm đổi mới, Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định quyết tâm hàng đầu của Việt Nam trong kỷ nguyên mới là thực hiện thành công hai mục tiêu 100 năm mà Đại hội lần thứ XIII đã đề ra. Thứ nhất, mục tiêu kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, mục tiêu kỷ niệm 100 năm thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Hai mục tiêu 100 năm hướng đích đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam là nước phát triển, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, tạo nền tảng vững chắc hiện thực chủ nghĩa xã hội thành công. Hai mục tiêu 100 năm thể hiện tầm nhìn chiến lược, là định hướng cho mọi hoạt động xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang quyết tâm thực hiện.

Hai mục tiêu 100 năm là sự kết nối và hiện thực hóa khát vọng phồn thịnh, hùng cường của dân tộc.

Lịch sử dân tộc Việt Nam cho thấy, nối tiếp truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước, không cam chịu làm thân phận nô lệ, Nhân dân ta đã liên tiếp đấu tranh qua nhiều phong trào yêu nước: từ con đường cứu nước của các sĩ phu, các cuộc khởi nghĩa nông dân cho đến con đường cách mạng tư sản nhưng do thiếu một đường lối cách mạng đúng, các phong trào đó đã không thành công. Chỉ đến khi với khát vọng đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, trẻ em được cắp sách đến trường, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: con đường cách mạng vô sản, đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối của cách mạng Việt Nam. Đây là con đường đáp ứng yêu cầu cấp thiết của dân tộc và nguyện vọng tha thiết của Nhân dân.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng, con đường của cách mạng Việt Nam nhằm hiện thực hóa khát vọng giải phóng dân tộc, đi tới xây dựng đất nước ngày càng to đẹp hơn, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Trên con đường thực hiện khát vọng đó, chúng ta đã phải vượt qua rất nhiều chông gai, thách thức, sự phá hoại quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng và thực hiện sáng tạo đồng thời hai nhiệm vụ: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vừa chi viện cho miền Nam vừa xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc vào năm 1975.

Đất nước hòa bình, thống nhất, bước vào công cuộc đổi mới đến nay, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành ý Đảng, lòng dân tạo sức mạnh tổng hợp đưa đất nước vươn mình phát triển. Qua 14 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhiều định hướng chiến lược, nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thịnh vượng của dân tộc. Với tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường cùng với sự đồng lòng của Nhân dân Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài sẽ là nguồn lực to lớn thúc đẩy quá trình thực hiện hai mục tiêu hướng đến mốc 100 năm thành lập Đảng năm 2030 và 100 năm thành lập nước năm 2045. Như vậy, hai mục tiêu 100 năm không những thể hiện ý chí, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân mà còn là sự kêt nối và hiện thực hóa khát vọng phồn thịnh, hùng cường của dân tộc từ quá khứ đến tương lai.

Hai mục tiêu 100 năm là sự kế thừa lý luận, hiện thực những mục tiêu, chủ trương, phương hướng phát triển đất nước đã được xác định từ các kỳ Đại hội Đảng.

Mỗi kỳ Đại hội của Đảng không chỉ là một dấu mốc quan trọng thể hiện sự trưởng thành, vững mạnh mà còn là sự kế thừa, bổ sung lý luận mới và hiện thực những mục tiêu, chủ trương, phương hướng phát triển đất nước đã được xác định. Đây chính là mục tiêu tiếp nối mục tiêu của các kỳ Đại hội Đảng. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhân dân Việt Nam đã giành được độc lập dân tộc, thực sự trở thành người làm chủ vận mệnh, tương lai của chính mình. Khi đất nước được thống nhất, khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu, tập trung lãnh đạo từng bước được khôi phục kinh tế - xã hội qua triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm từ 1976 đến 1980 và từ 1981 đến 1985. Để khắc phục những hạn chế, bất cập của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, sự khủng hoảng kinh tế - xã hội sau những năm chiến tranh, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã phân tích sâu sắc tình hình đất nước đề ra đường lối đổi mới toàn diện đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn lịch sử. Đường lối đổi mới ra đời, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.

Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết về những vấn đề hệ trọng của Đảng và mục tiêu phát triển của đất nước mà đặc biệt nhất là những nội dung cơ bản, cốt lõi được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011). Nhờ những chủ trương, quyết sách lãnh đạo kịp thời, Việt Nam đã vượt qua thách thức từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, kiên định, tiếp tục vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc điểm của Việt Nam. Đồng thời, mục tiêu, con đường, mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng được Đảng xác định rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Thực tế, từ Đại hội VI đến Đại hội XIV của Đảng là quá trình liên tục bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng để hiện thực hóa những mục tiêu cụ thể tạo cơ sở đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Một trong những minh chứng sinh động nhất của việc kế thừa lý luận ở các Đại hội trước, hiện thực các mục tiêu được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII, Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở kế thừa bài học kinh nghiệm, lý luận, thực tiễn của các kỳ Đại hội Đảng, Đại hội XIII đã đề ra các mục tiêu cụ thể phát triển đất nước: Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp với GDP bình quân đầu người ước đạt 4.700 - 5.000 USD/năm. Đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, GDP bình quân đầu khoảng 7.500 USD/năm. Đến năm 2045, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, GDP bình quân đầu người trên 12.535 USD/năm. Đại hội XIV của Đảng thể hiện rõ sự kiên định đi đôi với đổi mới, bổ sung, phát triển không ngừng về tư duy lý luận - một lần nữa cho thấy việc xác định các mục tiêu cụ thể theo các tiêu chí mới là sự phát triển về lý luận, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội XIV không chỉ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng mà còn tổng kết lý luận 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới; đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2026 - 2031, khẳng định tiếp tục hiện thức hóa mục tiêu, phương hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây cũng là một dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng, Nhà nước Việt Nam, có ý nghĩa định hướng về tương lai, đẩy mạnh toàn diện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Hai mục tiêu 100 năm là sự kế thừa lý luận, thực tiễn, mục tiêu nối tiếp mục tiêu của các kỳ Đại hội Đảng, theo nguyên tắc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; kiên định và đổi mới; kế thừa và phát triển, lắng nghe, tham khảo, tiếp thu các ý kiến đóng góp dân chủ của các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ, đảng viên, nhân dân. Hai mục tiêu 100 năm là kết tinh trí tuệ, sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, được đề ra trên cơ sở khoa học và khả thi, phù hợp với thực tiễn trong kỷ nguyên mới của đất nước; đồng thời tham khảo, học hỏi từ kinh nghiệm của các nước về những chuẩn mực phát triển chung của thế giới. Hai mục tiêu 100 năm có ý nghĩa là phương hướng, nhiệm vụ hết sức quan trọng để xác định giải pháp xây dựng, phát triển đất nước bảo đảm tính đồng bộ đáp ứng được các yêu cầu lâu dài, vừa có trọng tâm, đột phá chiến lược cần tập trung triển khai thực hiện, đảm bảo thống nhất từ nhận thức cho đến hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ nay đến giữa thế kỷ XXI. 

Hai mục tiêu 100 năm được xác định trên cơ sở kết quả thành quả cách mạng và 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thành quả cách mạng không những phản ánh chiều dài của một hành trình đầy gian khổ, sáng tạo, phát triển mà còn là những chiến thắng của cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, từ việc chuyển kịp thời cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang công cuộc đổi mới toàn diện khiến một đất nước nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia có vị thế, uy tín cao trên trường quốc tế. Tổng kết những bài học kinh nghiệm đó, giúp chúng ta có tầm nhìn, định hướng, hành động đúng trong xác định hai mục tiêu chiến lược 100 năm.

Qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế phát triển và tăng trưởng liên tục, từ một nước thiếu lương thực đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới; đứng trong nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới; xếp thứ 4 về quy mô kinh tế trong khu vực ASEAN-6, nhưng đứng thứ nhất về tốc độ tăng trưởng. Văn kiện Nghị quyết Đại hội XIV khẳng định: “Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi nhiều biến động không thuận từ môi trường quốc tế, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2025 đạt khoảng 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, đạt tương ứng trên 510 tỉ USD và trên 5.000 USD/người”1. Chất lượng dân số từng bước được nâng cao gắn với sự chăm lo đầu tư phát triển các ngành y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ. Việt Nam được Ngân hàng thế giới đánh giá là quốc gia tiên phong trong đổi mới giáo dục vì sự phát triển ấn tượng ở lĩnh vực này.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa thế giới, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo nên một trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc - ngoại giao cây tre Việt Nam, vừa mềm mại, uyển chuyển nhưng quyết liệt, kiên cường bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Theo Văn kiện Đại hội XIV, tính đến tháng 10/2024, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 FTA với trên 60 quốc gia, đối tác lớn trên toàn cầu và liên kết kinh tế song phương, đa phương, khu vực và liên khu vực. Môi trường chính trị, xã hội an ninh, trật tự ổn định tạo ra môi trường thuận lợi để triển khai thỏa thuận hợp tác ký kết trên tất cả các mặt. Đây là minh chứng cho sự phát triển vượt bậc và khẳng định vị thế mới của Việt Nam trên thế giới. Thực tiễn đó khẳng định: chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Như vậy, Việt Nam đã tích lũy được nền tảng thế, lực và hội tụ đủ điều kiện cần thiết để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm.

2. Hai mục tiêu 100 năm - tầm nhìn thời đại

Đường lối lãnh đạo của Đảng quyết định mục tiêu, nhiệm vụ lâu dài thì gọi là tầm nhìn và quyết định mục tiêu, nhiệm vụ trong thời gian ngắn thì có thể gọi là sách lược. Mỗi kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng sẽ quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước với mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và thành tựu đạt được ở nhiệm kỳ đó sẽ là tiền đề cho nhiệm kỳ sau phát triển trên con đường chủ nghĩa xã hội mà Nhân dân lựa chọn. Trên cơ sở đó, tầm nhìn của Đảng chỉ ra nội dung, xác định mục tiêu, định hướng phát triển đất nước trong tương lai, với những chặng đường liên tục theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Còn định hướng là định dạng, hướng phát triển của đất nước với mục tiêu cụ thể, với một kế hoạch cụ thể với thời gian 5 năm, 10 năm tới. Có thể thấy, tầm nhìn và định hướng có tính độc lập tương đối, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, tầm nhìn đến đâu thì sẽ hoạch định phương hướng phát triển tương ứng đến đó.

Tầm nhìn và định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội qua các kỳ Đại hội được Đảng ta vạch rõ với những chặng đường, mốc thời gian liên tục, mục tiêu rõ ràng. Cụ thể như Đại hội XIII nêu rõ là chặng đường 5 năm, 10 năm và tầm nhìn đến năm 2045, đây là những cột mốc quan trọng, phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Việc xác định đúng tầm nhìn, định hướng phát triển của đất nước sẽ có vai trò tạo nên sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng, hành động, đoàn kết trong Đảng, Nhân dân, các lực lượng xã hội nhằm phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc vượt qua mọi khó khăn, gian khổ thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Cơ sở khoa học để Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước trong những chặng đường tới là phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực tiễn của thế giới, điều kiện trong đất nước; là biểu hiện khát vọng, ý chí quyết tâm phấn đấu của Đảng, Nhân dân ta.

Chủ nghĩa Mác - Lênin mới phác họa chung, đưa ra hai hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội là quá độ trực tiếp và gián tiếp, song chưa bàn về một mô hình cụ thể. Thời kỳ C.Mác, Ph.Ăngghen đã đưa ra hình thức quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ những nước tư bản phát triển nên thời gian diễn ra sẽ ngắn, không phải trải qua nhiều chặng đường. Thời kỳ V.I.Lênin, trên cơ sở kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen đã chỉ ra hình thức quá độ gián tiếp, thời gian diễn ra dài, trải qua nhiều chặng đường, mà các ông gọi là bắc những chiếc cầu nhỏ để đi lên chủ nghĩa xã hội. Những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, nhất là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như ở Việt Nam thì chưa được đề cập, đòi hỏi các đảng cộng sản cần bổ sung làm rõ. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Việt Nam vẫn là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội, do đó, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vừa mang tính phổ biến theo xu thế phát triển chung của lịch sử nhân loại, vừa mang tính đặc thù là một nước có điểm xuất phát thấp, lại phải khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh.

Hiện thực hóa tầm nhìn, định hướng phát triển qua 14 kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước trải qua 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quy mô, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước được nâng lên: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là động lực quan trọng để đất nước ta vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới. Mỗi kỳ Đại hội Đảng đều là những đấu mốc quan trọng về sự phát triển của Đảng, của đất nước và của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng, Nhà nước phải đưa ra tầm nhìn, thông qua và quyết định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước định kỳ 5 năm, 10 năm, tới thời gian kế tiếp là cần thiết.

Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa điều này thành những dấu mốc thời gian, các mục tiêu là đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 đã xác định 12 định hướng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu phát triển tổng quát trong nhiệm kỳ 2021 - 2025 và những năm tiếp theo là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”2.

Với tầm nhìn dài hạn, Đại hội XIV đi sâu đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII; tổng kết 40 năm công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; rút ra những bài học quan trọng; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong 5 năm từ 2026 - 2030; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm từ 2021 - 2030. Đảng ta đã quyết định chủ trương triển khai tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ 1930 - 2030; định hướng cho giai đoạn 100 năm tiếp theo từ 2030 - 2130. Đây là những vấn đề chiến lược, đặt nền tảng, dấu mốc có ý nghĩa định hướng tương lai và khích lệ, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, khẳng định tầm nhìn với những mục tiêu là phù hợp thực tiễn Việt Nam, xu thế phát triển của thời đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Hiện nay, toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc như cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại ngày càng quyết liệt, vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh tiềm ẩn nhiều bất ổn, gây ra nhiều đảo lộn, phức tạp về mọi mặt của các quốc gia trên thế giới, nhất là các xung đột quân sự Nga - Ucraine, Mỹ, Israel - Iran. Các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Nhân dân, Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trước tình hình đó, chúng ta đã triển khai Chương trình hành động thực hiện Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; đồng thời Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) xác định quyết tâm hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm của đất nước, bằng những quyết sách và hành động cụ thể, quyết liệt. Ngày 04/3/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm, chủ trì triển khai các nội dung, nhiệm vụ tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam 1930 - 2030, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo 2030 - 2130 và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là hoạt động phục vụ cho kỷ niệm mà còn chuẩn bị cơ sở lý luận, thực tiễn cho các quyết sách chiến lược hướng đích năm 2045, định hướng đến năm 2130. Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ cần đúc rút được những bài học mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam, xây dựng các hướng dẫn, kế hoạch tổng thể cho cả giai đoạn, định rõ thời hạn hoàn thành của từng phần việc đã được phân kỳ thực hiện theo phương châm “6 rõ”. Việc xác định rõ các mốc thời gian không chỉ theo quý mà phải theo từng tháng, tuần, ngày bằng kế hoạch cụ thể, có cơ chế kiểm soát tiến độ thực hiện.

3. Giải pháp đấu tranh chống các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch và hiện thực hóa thành công hai mục tiêu 100 năm

Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Họ cho rằng đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc Việt Nam đến đường cùng, ngõ cụt”; “Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”, kiên định với “chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” là “lạc nhịp”, “lỗi thời”. Thủ đoạn của họ thường tập trung lợi dụng khoa học công nghệ tạo dựng, cắt ghép hình ảnh xuyên tạc bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng, sử dụng thông tin sai sự thật để “lập lờ đánh lận con đen” về tình hình đất nước, rồi tung lên các nền tảng mạng xã hội và một số website, tờ báo nước ngoài có tư tưởng chống phá Việt Nam. Cụ thể, trong bài “Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của Đảng Cộng sản” trên trang Vietnamthoibao.org của Thanh Phương tháng 02/2026 xuyên tạc về mức tăng trưởng 10% giai đoạn 2026-2030 của Đảng, Nhà nước Việt Nam, hoặc như bài “Thực dân, Phát xít và Cộng sản - chủ nghĩa nào tệ hại hơn?” của Luật sư Đào Tăng Dực trên trang Saigonnhonew.com tháng 02/2026 cho rằng “độc tài Cộng sản là hiểm họa lớn lao nhất cho các dân tộc trên thế giới” mà Việt Nam là ví dụ điển hình. Nguy hiểm hơn, khi họ trắng trợn rêu rao nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là “gánh nặng”, “hậu quả” trong bài “Nhìn lại chủ nghĩa Mác - Lênin” trên trang Thongluan.blog của Nguyễn Gia Kiểng, từ đó kêu gọi đòi bỏ “Điều 4 Hiến pháp”, “mở cửa cho tự do chính trị” trong bài “Muốn giải phóng sức dân: Hãy Bỏ Điều 4 Hiến Pháp, Từ Bỏ Độc Đảng Để Xây Dựng Việt Nam Dân Chủ, Hùng Cường” trên trang Anhemdanchu.org của Bùi Thị Trang. Đây chỉ là những lời lẽ, luận điểm sai sự thật về con đường, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động, không đại diện cho một tổ chức hợp pháp, cho Nhân dân, mà chỉ là “ý kiến” cá nhân, nhóm người chống đối lại cả dân tộc Việt Nam.

Bởi vậy, cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ bằng một số giải pháp sau:

Thứ nhất, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục giữ vững mục tiêu phát triển, hướng đích đến năm 2045 và 100 năm tiếp theo đến năm 2130. Tiếp tục tự chủ về đường lối, kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết, tập trung phát triển kinh tế, xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Phát huy truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân, luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, “dân thụ hưởng”, Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là yếu tố then chốt để đạt được hai mục tiêu 100 năm đã đề ra.

Thứ hai, thực hiện tốt công tác giáo dục, tuyên truyền tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, khơi dậy khát vọng cống hiến, ý chí không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu, quyết tâm phát triển, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai, trái và những luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, giữ vững ổn định chính trị, xã hội.

Thứ ba, phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp trong tổ chức thực hiện quyết liệt hai mục tiêu 100 năm, nhất là bám sát Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng để xây dựng, triển khai bằng được chương trình công tác hằng năm, quý, tháng, tuần theo sát đúng kế hoạch của cấp mình để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả toàn diện mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc phát huy mọi nguồn lực, động lực tạo đột phá đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả công việc đã đề ra, nhất là sau sáp nhập tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị.

Kế thừa chặng đường vinh quang dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Nhân dân Việt Nam khẳng định dù các thế lực thù địch có dùng mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi nhất để chống phá, phủ nhận hai mục tiêu 100 năm của Đảng, Nhà nước Việt Nam thì cũng chỉ là ý kiến của một cá nhân, nhóm người, không đại diện cho ai và chẳng thể hướng lái dư luận xã hội đi ngược lại với niềm tin, sức mạnh của cả dân tộc Việt Nam. Vì niềm tin của Nhân dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam được vun đắp ngày càng bền chặt từ năm 1930 đến nay, với những thành tựu trong đấu tranh cách mạng giành chính quyền, kháng chiến kiến quốc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và trong tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước có được cơ đồ, vị thế như ngày nay. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng sẽ hiện thực hóa thành công hai mục tiêu 100 năm và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.

--------------------------------------

Chú thích:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.18.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQG-ST, H.2021, tr.35 - 36.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập II, Nxb CTQG-ST, H.2021.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb CTQG-ST, H.2026.

3. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 37, Nxb CTQG-ST, H.2025, tr.493.

4. Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG-ST, H.2022.

5. Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2014.

Thượng tá, TS Đỗ Tiến Dũng, Phó Chính ủy Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Quân khu 1

Thượng úy Phạm Văn Hiếu, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Quân khu 1

.

Bài viết cùng tác giả