Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề dân tộc trên không gian mạng hiện nay

Ngày đăng: 15/06/2026   16:37
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, kích động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài viết phân tích vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong việc tạo dựng sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước, đồng thời nâng cao khả năng “miễn dịch thông tin” trước các luận điệu sai trái trên không gian mạng. Trên cơ sở đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra, bài viết đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Từ khóa: Đại đoàn kết toàn dân tộc; đấu tranh; không gian mạng; phản bác luận điệu xuyên tạc; thế lực thù địch.

Abstract: In the context of digital transformation and the rapid development of cyberspace, hostile forces have increasingly exploited ethnic issues to distort the Party’s and the State’s policies, incite division, and undermine the great national unity bloc. This article analyzes the role of national unity in fostering social consensus, strengthening the trust of ethnic communities in the Party and the State, and enhancing society’s “information immunity” against false and misleading narratives in cyberspace. Based on an assessment of the current situation and emerging challenges, the article proposes several orientations and solutions to promote the strength of the great national unity bloc, maintain political stability, and contribute to safeguarding the Party’s ideological foundation in the new context.

Keywords: Great national unity; struggle; cyberspace; refutation of distorted narratives; hostile forces.

Đặt vấn đề

Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là nguồn sức mạnh to lớn bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong suốt quá trình cách mạng, khối đại đoàn kết giữa các dân tộc luôn được củng cố và phát huy, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đồng thuận xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững đất nước. Đặc biệt, đối với Việt Nam với 54 dân tộc cùng sinh sống (trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với hơn 14 triệu người, chiếm khoảng hơn 14,3% dân số cả nước), đoàn kết dân tộc không chỉ là yêu cầu chính trị, đồng thời còn là nhân tố quyết định sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đang gia tăng hoạt động chống phá trên không gian mạng. Một trong những thủ đoạn thường xuyên được sử dụng là lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, quyền con người và những khó khăn cục bộ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực tiễn cho thấy, nhiều thông tin sai sự thật được lan truyền với tốc độ nhanh trên các nền tảng số, tác động trực tiếp đến nhận thức của một bộ phận người dân, đặc biệt tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Trong bối cảnh đó, việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là giải pháp phát triển xã hội mà còn là “lá chắn” vững chắc để nâng cao sức mạnh của cộng đồng trước các luận điệu xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị và tăng cường niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

1. Cơ sở lý luận về đại đoàn kết toàn dân tộc và đấu tranh phản bác thông tin xuyên tạc trên không gian mạng

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực, là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”. Quan điểm này tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển, xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược lâu dài, là nhân tố quan trọng bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Trong điều kiện Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc cùng sinh sống, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ thể hiện ở sự bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển mà còn là sự thống nhất về lợi ích quốc gia, dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Thực tiễn hơn 96 năm lãnh đạo cách mạng cho thấy mọi âm mưu chia rẽ dân tộc đều bị thất bại khi khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc.

Từ góc độ lý luận truyền thông và an ninh phi truyền thống, không gian mạng hiện nay đã trở thành một môi trường xã hội đặc biệt, nơi thông tin được lan truyền với tốc độ nhanh và phạm vi rộng. Bên cạnh những giá trị tích cực, không gian mạng cũng là địa bàn để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các hoạt động này thường được thực hiện thông qua mạng xã hội, nền tảng truyền thông xuyên biên giới và các hình thức truyền thông số khó kiểm soát.

Về phương diện lý luận, đấu tranh phản bác thông tin xuyên tạc trên không gian mạng là quá trình sử dụng các căn cứ khoa học, pháp lý và thực tiễn nhằm nhận diện, bác bỏ các quan điểm sai trái, bảo vệ sự thật khách quan và củng cố niềm tin xã hội. Trong đó, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xem là “lá chắn xã hội” quan trọng, tạo nên sức đề kháng cộng đồng trước các thông tin xấu độc. Khi đồng bào các dân tộc được bảo đảm quyền lợi chính đáng, được thụ hưởng các chính sách phát triển và có niềm tin vào Đảng, Nhà nước, các luận điệu xuyên tạc sẽ khó có điều kiện tác động và lan rộng.

Do đó, xét từ cả góc độ lý luận chính trị, dân tộc học và truyền thông hiện đại, việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc chính là cơ sở nền tảng để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các thông tin xuyên tạc về vấn đề dân tộc trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

2. Vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc trong đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề dân tộc

Đại đoàn kết toàn dân tộc là phương thức để tập hợp, tổ chức và phát huy cao độ sức mạnh của toàn thể dân tộc, góp phần quyết định đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... nhờ sức đại đoàn kết mà cách mệnh thành công... nhờ sức đại đoàn kết mà kháng chiến sẽ thắng lợi”; “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”.

Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam, đồng thời còn là nhân tố nền tảng bảo đảm an ninh, trật tự trong mọi giai đoạn phát triển đất nước. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giữ vững ổn định chính trị và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn cho thấy, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là nguồn sức mạnh nội sinh bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước mà còn là nhân tố đặc biệt quan trọng trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về vấn đề dân tộc trên không gian mạng hiện nay. Cụ thể:

Một là, khối đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Khi đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được cải thiện thông qua các chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 (Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ), niềm tin xã hội được tăng cường, từ đó làm giảm khả năng tác động của các thông tin sai trái, xuyên tạc.

Hai là, đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên sức đề kháng xã hội trước các luận điệu chia rẽ dân tộc. Các thế lực thù địch thường lợi dụng những khó khăn cục bộ, những vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo hoặc quyền con người để kích động tâm lý bất mãn và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, khi các dân tộc cùng chia sẻ lợi ích phát triển, cùng tham gia vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các luận điệu xuyên tạc sẽ khó có điều kiện thâm nhập và lan rộng trong cộng đồng.

Ba là, đại đoàn kết toàn dân tộc còn là cơ sở để phát huy vai trò của hệ thống chính trị, đội ngũ người có uy tín, già làng, trưởng bản và các tổ chức đoàn thể trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội. Đây là lực lượng quan trọng giúp truyền tải thông tin chính thống, nâng cao nhận thức của người dân về chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời kịp thời phát hiện, đấu tranh và phản bác các thông tin sai sự thật trên không gian mạng.

Bốn là, khối đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn cho thấy, ở những địa phương thực hiện tốt công tác dân tộc, phát huy vai trò chủ thể của đồng bào dân tộc thiểu số và xây dựng được sự đồng thuận xã hội cao, các âm mưu kích động chia rẽ dân tộc đều không đạt được mục tiêu đề ra.

Như vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp chiến lược trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về vấn đề dân tộc. Việc tiếp tục củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ góp phần nâng cao “sức mạnh xã hội” trước các thông tin xấu độc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị và tạo động lực cho phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ chuyển đổi số.

3. Các luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng và kết quả củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng truyền thông số, không gian mạng đã trở thành một trong những địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng để chống phá Việt Nam. Trong đó, vấn đề dân tộc luôn được xác định là một trong những mũi nhọn tấn công nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Các luận điệu xuyên tạc chủ yếu tập trung vào ba nhóm nội dung, như: (1) Xuyên tạc chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, cho rằng Việt Nam “phân biệt đối xử”, “hạn chế quyền phát triển” của đồng bào dân tộc thiểu số. (2) Lợi dụng những khó khăn cục bộ, các vụ việc khiếu kiện, tranh chấp đất đai hoặc các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để quy kết thành “vấn đề dân tộc”, từ đó kích động tâm lý bất mãn trong một bộ phận người dân. (3) Cổ súy tư tưởng ly khai, tự trị dân tộc, xuyên tạc lịch sử quan hệ giữa các dân tộc, phủ nhận thành quả của chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam.

Tuy nhiên, những luận điệu xuyên tạc đó không thể phủ nhận những thành tựu to lớn trong thực hiện chính sách dân tộc và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế được đầu tư đồng bộ; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh (3 - 4%/năm); chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe và đời sống văn hóa,… không ngừng được nâng cao. Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 đã và đang tạo động lực quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.

Bên cạnh đó, công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục đạt nhiều kết quả nổi bật. Hàng chục nghìn người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đã phát huy vai trò nòng cốt trong tuyên truyền, vận động quần chúng; các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai sâu rộng. Nhiều địa phương như Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Đắk Lắk, Gia Lai, Quảng Ngãi,… đã xây dựng hiệu quả các mô hình phát huy vai trò người có uy tín, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và đấu tranh phản bác thông tin sai trái ngay từ cơ sở.

Có thể khẳng định rằng, mặc dù các thế lực thù địch liên tục đổi mới phương thức chống phá trên không gian mạng, nhưng những thành tựu thực tiễn trong phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cùng với việc không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đã tạo nên nền tảng chính trị - xã hội vững chắc. Đây chính là nhân tố quyết định làm thất bại các âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay.

4. Những vấn đề đặt ra

Mặc dù việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về vấn đề dân tộc trên không gian mạng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết:

Thứ nhất, sự phát triển nhanh chóng của internet, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới đã làm gia tăng nguy cơ lan truyền thông tin sai sự thật, tin giả và các nội dung xuyên tạc về vấn đề dân tộc. Các thế lực thù địch ngày càng sử dụng nhiều phương thức tinh vi hơn, như: cắt ghép hình ảnh, làm giả video, lợi dụng thuật toán mạng xã hội để khuếch đại thông tin sai lệch, gây khó khăn cho công tác nhận diện và đấu tranh phản bác.

Thứ hai, trình độ tiếp cận thông tin và kỹ năng số của một bộ phận người dân, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn hạn chế. Điều này làm gia tăng nguy cơ tiếp nhận và chia sẻ các thông tin thiếu kiểm chứng, tạo điều kiện để các luận điệu xuyên tạc tác động đến nhận thức xã hội.

Thứ ba, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, những khó khăn về sinh kế, việc làm, giáo dục và tiếp cận dịch vụ công ở một số địa bàn còn hạn chế. Đây là những vấn đề mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để bóp méo sự thật, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, từ đó kích động tâm lý bất mãn và chia rẽ dân tộc.

Thứ tư, công tác truyền thông chính sách trên môi trường số ở một số nơi chưa thực sự chủ động, nội dung tuyên truyền chưa đủ sức hấp dẫn và chưa theo kịp tốc độ lan truyền của thông tin xấu độc. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong đấu tranh phản bác thông tin sai trái có lúc, có nơi còn thiếu đồng bộ.

Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với nâng cao dân trí số, tăng cường truyền thông chính sách, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng và xây dựng môi trường thông tin lành mạnh nhằm nâng cao sức đề kháng xã hội trước các luận điệu xuyên tạc về vấn đề dân tộc trên không gian mạng.

5. Định hướng và giải pháp

Một là, cần tiếp tục thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta theo hướng phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc triển khai đồng bộ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 cần gắn với nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của người dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, qua đó củng cố niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước.

Hai là, đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách trên môi trường số. Các cơ quan chức năng cần đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền theo hướng ngắn gọn, dễ tiếp cận, phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của từng dân tộc. Việc ứng dụng nền tảng số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo và các công cụ truyền thông hiện đại sẽ góp phần lan tỏa thông tin chính thống, kịp thời định hướng dư luận xã hội và nâng cao khả năng nhận diện thông tin sai trái.

Ba là, tăng cường giáo dục pháp luật, nâng cao dân trí số và kỹ năng tiếp cận thông tin cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là giải pháp căn cơ nhằm xây dựng “sức đề kháng thông tin” trong cộng đồng, giúp người dân chủ động sàng lọc, kiểm chứng và phản bác các nội dung xuyên tạc trên không gian mạng.

Bốn là, cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo và các tổ chức đoàn thể trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Đây là lực lượng có ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc từ cơ sở.

Năm là, cần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan làm công tác dân tộc, cơ quan báo chí, lực lượng an ninh mạng và chính quyền địa phương trong việc phát hiện, xử lý và đấu tranh phản bác các thông tin sai trái. Việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường đoàn kết dân tộc và bảo đảm an ninh thông tin sẽ tạo nền tảng vững chắc để giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước ta trong thời kỳ chuyển đổi số hiện nay.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về vấn đề dân tộc. Nghiên cứu cho thấy đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là nguồn sức mạnh nội sinh bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội mà còn tạo nên “sức đề kháng xã hội” trước các thông tin sai trái, thù địch. Những thành tựu đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc đã góp phần củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước ta. Trong thời gian tới, cần tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao dân trí số, tăng cường truyền thông chính sách và phát huy vai trò của cộng đồng nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững chắc./.

------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, tập II, Nxb CTQG-ST, H.2021.

2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

3. Bộ Chính trị, Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.

4. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.

5. Vũ Trường Giang (2026), Công tác dân tộc của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, https://lyluanchinhtri.vn/cong-tac-dan-toc-cua-he-thong-chinh-tri-o-viet-nam-hien-nay-13538.html.

6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H.1996.

7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011.

8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG-ST, H.2011.

9. Nguyễn Viết Sơn (2025), Nâng cao nhận thức của đội ngũ phóng viên, biên tập viên trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich/-/2018/1088602/nang-cao-nhan-thuc-cua-doi-ngu-phong-vien%2C-bien-tap-vien-trong-cong-tac-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang%2C-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai%2C-thu-dich-trong-giai-doan-hien-nay.aspx.

10. Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG-ST, H.2022. 

Đại tá, TS Hoàng Ngọc Nguyễn Hồng - Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an

Bài viết cùng tác giả