Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người và vận dụng trong phát huy nhân tố con người phục vụ chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong giai đoạn hiện nay

Ngày đăng: 29/06/2026   13:18
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số ở Việt Nam hiện nay. Thành phố Hà Nội là một trong các địa phương đi đầu của cả nước trong triển khai chuyển đổi số, trong đó các xã, phường giữ vai trò trực tiếp tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ công cho người dân. Trên cơ sở phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người với tư cách là chủ thể của hoạt động thực tiễn, chủ thể sáng tạo lịch sử và mục tiêu của sự phát triển xã hội, bài viết làm rõ vai trò của nhân tố con người trong chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người phục vụ chuyển đổi số đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: con người; chủ nghĩa Mác; chuyển đổi số; nhân tố con người.

Abstract: Digital transformation has become an objective requirement in the process of building a digital government, digital economy, and digital society in Vietnam. Hanoi, as the country's leading locality in implementing digital transformation, assigns communes and wards a pivotal role in directly organizing implementation and delivering public services to citizens. Based on an analysis of Marxist perspectives on human beings as the subjects of practical activity, the creators of history, and the ultimate goal of social development, this article clarifies the role of the human factor in digital transformation at the commune and ward levels in Hanoi. It also proposes several solutions to promote the human factor in support of digital transformation, thereby meeting the requirements for the Capital's development in the current period.

Keywords: human beings; Marxism; digital transformation; human factor.

Đặt vấn đề

Chuyển đổi số là xu thế tất yếu khách quan, đang có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế đến tổ chức đời sống cộng đồng. Ở Việt Nam hiện nay, chuyển đổi số được xác định là một trong những động lực quan trọng nhằm xây dựng chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản trị quốc gia và chất lượng phục vụ Nhân dân. Đối với thành phố Hà Nội, quá trình chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại, phát triển bền vững. Trong đó các xã, phường là nơi trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách về chuyển đổi số, đồng thời là cấp gần dân nhất, trực tiếp cung cấp dịch vụ công và hỗ trợ người dân tiếp cận các tiện ích số. Thực tế cho thấy hiệu quả chuyển đổi số ở cơ sở không chỉ phụ thuộc vào hạ tầng công nghệ, nền tảng số hay dữ liệu số, mà trước hết phụ thuộc vào nhận thức, năng lực, trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo của con người. Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người với tư cách là chủ thể của hoạt động thực tiễn, chủ thể sáng tạo lịch sử và mục tiêu của sự phát triển xã hội, có thể thấy phát huy nhân tố con người là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với thành công của chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa phương pháp luận, thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người phục vụ chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội để đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong giai đoạn hiện nay.

1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người

Thứ nhất, con người là thực thể sinh học - xã hội.

Theo C. Mác, con người là sinh vật có tính xã hội ở trình độ phát triển cao nhất của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên tất cả các thành tựu của văn minh và văn hóa. Về phương diện sinh học, con người là một thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một động vật xã hội. “Nhưng bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật, thành thử bao giờ cũng chỉ có thể nói đến việc những đặc tính ấy có nhiều đến sự chênh lệch về mức độ thú tính và tính người mà thôi[1]. Không chỉ là một thực thể sinh học, mà con người cũng còn là một bộ phận của giới tự nhiên. “Giới tự nhiên... là thân thể vô cơ của con người,... đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên[2]. Về phương diện thực thể sinh học, con người còn phải phục tùng các quy luật của giới tự nhiên cũng như các quy luật sinh học như di truyền, tiến hóa sinh học và các quá trình sinh học của giới tự nhiên. Con người là một bộ phận đặc biệt, quan trọng của giới tự nhiên, nhưng lại có thể biến đổi giới tự nhiên và chính bản thân mình, dựa trên các quy luật khách quan. Đây chính là điểm khác biệt đặc biệt, rất quan trọng giữa con người và các thực thể sinh học khác.

Một trong những đóng góp quan trọng của C. Mác đối với nền triết học nhân loại là đã luận giải một cách khoa học bản chất xã hội của con người. Con người còn là một thực thể xã hội có các hoạt động xã hội. Hoạt động xã hội quan trọng nhất của con người là lao động sản xuất: “Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật[3]Khắc phục quan niệm duy tâm và siêu hình xem con người như một thực thể cô lập, tồn tại độc lập với đời sống xã hội, C. Mác khẳng định: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội[4]. Bản chất của con người luôn được hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực, cụ thể trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Các quan hệ xã hội tạo nên bản chất của con người, nhưng không phải là sự kết hợp giản đơn hoặc là tổng cộng các quan hệ đó lại với nhau mà là sự tổng hòa các quan hệ đó; mỗi quan hệ xã hội có vị trí, vai trò khác nhau, có tác động qua lại, không tách rời nhau.

Các quan hệ xã hội có nhiều loại: quan hệ quá khứ, quan hệ hiện tại, quan hệ vật chất, quan hệ tinh thần, quan hệ trực tiếp, quan hệ gián tiếp, quan hệ tất nhiên hoặc ngẫu nhiên, quan hệ bản chất hoặc hiện tượng, quan hệ kinh tế, quan hệ phi kinh tế, v.v.. Tất cả các quan hệ đó đều góp phần hình thành nên bản chất của con người. Các quan hệ xã hội thay đổi thì ít hoặc nhiều, sớm hoặc muộn, bản chất con người cũng sẽ thay đổi theo. Trong các quan hệ xã hội cụ thể, xác định, con người mới có thể bộc lộ được bản chất thực sự của mình, và cũng trong những quan hệ xã hội đó thì bản chất người của con người mới được phát triển. Các quan hệ xã hội khi đã hình thành thì có vai trò chi phối và quyết định các phương diện khác của đời sống con người khiến cho con người không còn thuần túy là một động vật mà là một động vật xã hội. Con người “bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội[5]. Khía cạnh thực thể sinh vật là tiền đề trên đó thực thể xã hội tồn tại, phát triển và chi phối. Vì vậy, mọi quá trình đổi mới và phát triển xã hội xét đến cùng đều phải hướng tới phát huy vai trò chủ thể của con người, đồng thời tạo lập những điều kiện xã hội thuận lợi để con người phát triển toàn diện.

Thứ hai, con người là chủ thể của hoạt động thực tiễn.

Một trong những nội dung có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc trong quan điểm của C. Mác về con người là khẳng định vai trò chủ thể của con người trong hoạt động thực tiễn. Khác với các nhà triết học duy tâm chỉ xem con người là sản phẩm của ý niệm hay tinh thần tuyệt đối, C. Mác đặt con người hiện thực vào trung tâm của đời sống xã hội, coi hoạt động thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản và là cơ sở để con người cải tạo tự nhiên, cải biến xã hội và phát triển chính bản thân mình. Theo C. Mác, chính trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt là hoạt động lao động sản xuất, con người khẳng định bản chất của mình, tạo ra lịch sử và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Con người và động vật đều có lịch sử của mình, nhưng lịch sử con người khác với lịch sử động vật. Lịch sử của động vật “là lịch sử nguồn gốc của chúng và sự phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng có tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu[6].

C. Mác cho rằng con người không chỉ thích nghi thụ động với hoàn cảnh tự nhiên mà còn chủ động tác động vào tự nhiên, biến đổi tự nhiên theo mục đích và nhu cầu của mình. Thông qua lao động, con người không ngừng sáng tạo ra các công cụ sản xuất, các giá trị vật chất và tinh thần, đồng thời cải tạo các quan hệ xã hội, xây dựng những điều kiện mới cho sự phát triển của xã hội loài người. Vì vậy, lịch sử xã hội xét đến cùng là lịch sử hoạt động thực tiễn của con người, lịch sử con người cải tạo thế giới khách quan và tự hoàn thiện chính mình trong quá trình đó.

Thứ ba, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.

Trong các tác phẩm thời kỳ đầu, đặc biệt là Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C. Mác đã thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân văn về giải phóng con người. Theo ông, mục tiêu cuối cùng của sự phát triển xã hội không phải là sự gia tăng đơn thuần về của cải vật chất hay sự phát triển của các lực lượng sản xuất, mà là tạo ra những điều kiện để con người được phát triển tự do, toàn diện và ngày càng hoàn thiện bản chất người của mình. Mọi hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội xét đến cùng đều phải hướng tới con người, vì con người vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, vừa là mục tiêu cao nhất của sự phát triển lịch sử. Theo Mác và Ph. Ăngghen, mục tiêu cuối cùng của sự phát triển xã hội là tạo điều kiện để con người được phát triển tự do và toàn diện. Đồng thời, chính con người thông qua hoạt động thực tiễn và lao động sáng tạo lại là lực lượng quyết định sự vận động và phát triển của lịch sử. Điều đó được thể hiện tập trung trong luận điểm nổi tiếng của Mác: “Thay thế cho xã hội tư sản cũ với các giai cấp và những sự đối lập giai cấp của nó sẽ là một khối liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện của sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[7]. Từ đó có thể khẳng định, trong tư tưởng của chủ nghĩa Mác, con người vừa là mục tiêu hướng tới, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.

Từ lập trường đó, C. Mác luôn đặt vấn đề giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hóa. Ông cho rằng sự phát triển của xã hội chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo điều kiện cho con người phát huy đầy đủ năng lực sáng tạo, làm chủ đời sống xã hội và được hưởng những thành quả do chính mình tạo ra. Con người không chỉ là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội mà còn là thước đo phản ánh trình độ phát triển của xã hội. Một xã hội được coi là tiến bộ không phải bởi sở hữu nhiều thành tựu kỹ thuật hiện đại, mà bởi mức độ đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu chính đáng và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển toàn diện của con người.

2. Ý nghĩa phương pháp luận trong phát huy nhân tố con người trong chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội hiện này

Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người với tư cách là thực thể xã hội, chủ thể của hoạt động thực tiễn và vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc đối với việc phát huy nhân tố con người trong quá trình chuyển đổi số ở các xã, phường thành phố Hà Nội hiện nay. Cụ thể là:

Thứ nhất, chuyển đổi số phải được đặt trong tổng thể các quan hệ xã hội và lấy việc phát triển con người làm trung tâm.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Vì vậy, chuyển đổi số không đơn thuần là quá trình ứng dụng công nghệ hay số hóa dữ liệu, mà thực chất là quá trình đổi mới phương thức tổ chức và vận hành các quan hệ xã hội trên nền tảng số. Đối với các xã, phường của thành phố Hà Nội, chuyển đổi số trước hết là đổi mới mối quan hệ giữa chính quyền với người dân, giữa cơ quan quản lý với các tổ chức xã hội và giữa người dân với nhau theo hướng công khai, minh bạch, thuận tiện và hiệu quả hơn. Từ cách tiếp cận đó, hiệu quả của chuyển đổi số không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng phần mềm, cơ sở dữ liệu hay dịch vụ công trực tuyến được triển khai, mà quan trọng hơn là mức độ đáp ứng nhu cầu của người dân, chất lượng phục vụ của chính quyền và khả năng mở rộng sự tham gia của người dân vào đời sống xã hội. Đây là cơ sở để bảo đảm chuyển đổi số thực sự hướng tới con người và vì sự phát triển của con người.

Thứ hai, phát huy vai trò chủ thể của con người là nhân tố quyết định thành công của chuyển đổi số.

Chủ nghĩa Mác khẳng định con người là chủ thể của hoạt động thực tiễn, là lực lượng sáng tạo ra lịch sử. Vận dụng quan điểm đó vào chuyển đổi số cho thấy, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ hỗ trợ; hiệu quả của chuyển đổi số phụ thuộc trước hết vào năng lực, trình độ, trách nhiệm và tính sáng tạo của con người trong quá trình sử dụng và vận hành công nghệ. Đối với các xã, phường của thành phố Hà Nội, đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở là lực lượng trực tiếp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số; người dân là chủ thể tham gia, khai thác và thụ hưởng các thành quả do việc thực hiện chuyển đổi số đem lại. Do đó, phát huy nhân tố con người thực chất là nâng cao nhận thức, năng lực số, tinh thần đổi mới sáng tạo và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời tạo điều kiện để người dân chủ động tham gia vào quá trình xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số.

Thứ ba, chuyển đổi số phải hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển xã hội bền vững.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Điều đó đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách và giải pháp chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội phải xuất phát từ lợi ích của người dân, hướng tới phục vụ người dân và tạo điều kiện cho người dân phát triển toàn diện. Trong quá trình triển khai chuyển đổi số, cần bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ số, được hỗ trợ nâng cao kỹ năng số và được tham gia vào các hoạt động quản lý xã hội trên môi trường số. Chỉ khi chuyển đổi số góp phần giảm chi phí xã hội, nâng cao chất lượng dịch vụ công, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân thì quá trình này mới thực sự phát huy được ý nghĩa nhân văn và giá trị phát triển bền vững.

Từ những luận điểm trên có thể khẳng định rằng, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người vào chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội đòi hỏi phải quán triệt nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, phát huy vai trò chủ thể của con người và hướng mọi thành quả của chuyển đổi số phục vụ sự phát triển con người. Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng để xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong giai đoạn hiện nay.

3. Thực trạng phát huy nhân tố con người trong chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội hiện nay

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số quốc gia và các chương trình, kế hoạch của thành phố Hà Nội, quá trình chuyển đổi số ở các xã, phường thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhìn từ góc độ phát huy nhân tố con người, nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về vị trí, vai trò của chuyển đổi số từng bước được nâng lên; kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác các nền tảng số có nhiều chuyển biến. Nhiều địa phương đã đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến, sử dụng cơ sở dữ liệu số trong quản lý, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở.

Cùng với đó, vai trò của người dân trong quá trình chuyển đổi số ngày càng được phát huy. Thông qua hoạt động của các tổ công nghệ số cộng đồng và các chương trình tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng số, người dân từng bước tiếp cận và sử dụng các dịch vụ số, ứng dụng định danh điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và nhiều tiện ích số khác trong đời sống hằng ngày. Điều đó cho thấy nhân tố con người đã và đang trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số trên địa bàn Thủ đô.

Tuy nhiên, việc phát huy nhân tố con người trong chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội vẫn còn một số hạn chế nhất định. Trình độ và năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều; khả năng khai thác dữ liệu và làm chủ các nền tảng số ở một số nơi còn hạn chế. Đối với người dân, kỹ năng số và khả năng tiếp cận công nghệ còn có sự khác biệt giữa các nhóm dân cư; một bộ phận người dân, nhất là người cao tuổi, còn gặp khó khăn trong sử dụng các dịch vụ số. Bên cạnh đó, cơ chế, chính sách và các điều kiện bảo đảm cho phát triển nguồn nhân lực số ở cơ sở vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.

Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Chuyển đổi số là lĩnh vực mới, phát triển nhanh, đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao về trình độ và khả năng thích ứng của con người. Mặt khác, công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số ở một số địa phương chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn; nhận thức của một bộ phận cán bộ và người dân về vai trò của chuyển đổi số còn chưa đầy đủ. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa nhân tố con người nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

4. Yêu cầu khách quan của việc phát huy nhân tố con người trong chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội hiện nay

Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người và yêu cầu thực tiễn chuyển đổi số ở cơ sở hiện nay, việc phát huy nhân tố con người trong chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội cần đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau đây:

Một là, tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của đội ngũ cán bộ, công chức và Nhân dân trong quá trình chuyển đổi số. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, con người là chủ thể của hoạt động thực tiễn và là lực lượng sáng tạo ra lịch sử. Vì vậy, quá trình chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố phải đặt con người vào vị trí trung tâm, bảo đảm sự tham gia tích cực, chủ động và sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công chức cũng như đông đảo Nhân dân. Đây là điều kiện quan trọng để các nền tảng số, dữ liệu số và dịch vụ số được triển khai hiệu quả, phục vụ thiết thực cho hoạt động quản lý nhà nước và đời sống xã hội.

Hai là, gắn phát huy nhân tố con người với nâng cao năng lực số đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số. Trong bối cảnh chuyển đổi số, năng lực số trở thành một bộ phận quan trọng trong năng lực hoạt động thực tiễn của con người. Do đó, phát huy nhân tố con người phải gắn với việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng số, khả năng thích ứng và đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công chức của thành phố; đồng thời nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho người dân. Qua đó biến tiềm năng của con người thành nguồn lực trực tiếp thúc đẩy quá trình chuyển đổi số ở cơ sở.

Ba là, bảo đảm chuyển đổi số hướng tới phục vụ con người và sự phát triển bền vững của xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Vì vậy, mọi hoạt động chuyển đổi số phải xuất phát từ lợi ích của người dân, hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ công và tạo điều kiện cho người dân tham gia ngày càng hiệu quả vào quản lý xã hội. Đây là yêu cầu có ý nghĩa định hướng nhằm bảo đảm tính nhân văn, hiệu quả và bền vững của quá trình chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội hiện nay.

5. Một số giải pháp cơ bản tiếp tục phát huy nhân tố con người trong chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, thống nhất và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể về vai trò của nhân tố con người trong chuyển đổi số. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong quá trình triển khai chuyển đổi số ở cơ sở. Các cấp ủy, chính quyền cần đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chuyển đổi số; đồng thời làm rõ vai trò của con người với tư cách là chủ thể, động lực và mục tiêu của quá trình chuyển đổi số. Qua đó khắc phục nhận thức phiến diện chỉ chú trọng đầu tư công nghệ mà chưa quan tâm đúng mức đến phát triển nguồn nhân lực và phát huy vai trò của người dân.

Cùng với đó, cần nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức và Nhân dân về lợi ích, trách nhiệm và yêu cầu tham gia chuyển đổi số; xây dựng tư duy số, văn hóa số và tinh thần chủ động thích ứng với môi trường số. Đây là cơ sở quan trọng để phát huy tính tích cực, sáng tạo của các chủ thể trong xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số.

Thứ hai, đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng và phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức và người dân. Phát huy nhân tố con người trong chuyển đổi số trước hết phải nâng cao năng lực số cho các chủ thể trực tiếp tham gia quá trình này. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức các xã, phường cần chú trọng bồi dưỡng kiến thức công nghệ số, kỹ năng khai thác dữ liệu, sử dụng các nền tảng số, bảo đảm an toàn thông tin và giải quyết công việc trên môi trường điện tử. Nội dung đào tạo phải gắn với chức trách, nhiệm vụ và yêu cầu thực tiễn ở cơ sở. Đối với người dân, cần đẩy mạnh phổ cập kỹ năng số thông qua các chương trình tuyên truyền, hướng dẫn và hỗ trợ trực tiếp; tạo điều kiện để người dân tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ công trực tuyến và các tiện ích số trong đời sống. Qua đó góp phần nâng cao năng lực số của cộng đồng, thu hẹp khoảng cách số và tạo nguồn lực xã hội cho chuyển đổi số.

Thứ ba, xây dựng văn hóa số và phát huy vai trò chủ thể của người dân trong quá trình chuyển đổi số. Các xã, phường cần chú trọng xây dựng văn hóa số trong đội ngũ cán bộ, công chức và cộng đồng dân cư; hình thành tác phong làm việc khoa học, chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm trên môi trường số. Đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn thông tin và thực hiện văn minh trên không gian mạng. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của người dân với tư cách là chủ thể tham gia xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số. Thông qua các nền tảng số và hoạt động của tổ công nghệ số cộng đồng, tạo điều kiện để người dân tham gia phản ánh, đóng góp ý kiến, giám sát hoạt động của chính quyền và chủ động ứng dụng công nghệ số trong học tập, lao động, sản xuất và đời sống.

Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách và các điều kiện bảo đảm cho phát huy nhân tố con người trong chuyển đổi số. Các cấp có thẩm quyền cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực số; có chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở các xã, phường có trình độ chuyên môn sâu, vững vàng về công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Đồng thời, gắn kết quả nâng cao năng lực số với công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ. Cùng với đó, cần bảo đảm các điều kiện về hạ tầng công nghệ, môi trường số và nguồn lực phục vụ chuyển đổi số; phát huy vai trò phối hợp của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ công nghệ số cộng đồng và các lực lượng nòng cốt ở cơ sở. Qua đó tạo môi trường thuận lợi để nhân tố con người được phát huy đầy đủ, góp phần nâng cao hiệu quả chuyển đổi số ở các xã, phường của thành phố Hà Nội hiện nay.

Kết luận

Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người khẳng định con người là thực thể xã hội, là chủ thể của hoạt động thực tiễn, đồng thời vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Đây là cơ sở lý luận và phương pháp luận quan trọng để nhận thức đúng vai trò của nhân tố con người trong quá trình chuyển đổi số hiện nay. Đối với các xã, phường của thành phố Hà Nội, phát huy nhân tố con người có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số của thành phố; có tác động lan tỏa đến cả nước. Vì vậy, cần chú trọng nâng cao nhận thức, phát triển năng lực số, xây dựng văn hóa số và hoàn thiện các điều kiện bảo đảm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công chức và Nhân dân. Phát huy hiệu quả nhân tố con người không chỉ là yêu cầu của chuyển đổi số mà còn là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng Thủ đô Hà Nội văn minh, hiện đại và phát triển bền vững trong thời kỳ mới./.

----------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

[1]. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr. 146.

[2]. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 42, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr. 135.

[3]. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr. 673.

[4]. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr. 11.

[5]. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr. 200.

[6]. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr. 476.

[7]. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr. 258.

ThS Nguyễn Thị Phương Liên - Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, thành phố Hà Nội

Bài viết cùng tác giả