Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Sự tham gia của người dân vào quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số - thực trạng và giải pháp

Ngày đăng: 30/06/2026   15:54
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ số tại Việt Nam, sự tham gia của người dân ngày càng trở thành yếu tố quan trọng nâng cao hiệu quả quản trị phát triển xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về sự tham gia của người dân trong quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số; đồng thời đánh giá thực trạng thông qua tổng hợp, phân tích các báo cáo PAPI 2024, SIPAS 2025 và các tài liệu chính sách liên quan. Kết quả cho thấy mặc dù hạ tầng số và khả năng tiếp cận internet của người dân đã được cải thiện đáng kể, mức độ tham gia thực chất vào quá trình hoạch định chính sách, cung ứng dịch vụ công và giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước vẫn còn hạn chế do khoảng cách số, năng lực số và cơ chế phản hồi chưa hiệu quả. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia số của người dân, góp phần xây dựng nền quản trị phát triển xã hội minh bạch, bao trùm và hiệu quả trong kỷ nguyên số.

Từ khóa: nền tảng số; quản trị phát triển xã hội; tham gia số của người dân.

Abstract: Against the backdrop of digital transformation and the development of digital government in Vietnam, citizens' digital participation has become an increasingly important driver of effective social development governance. This article examines the theoretical foundations of citizens' digital participation in social development governance through digital platforms and assesses its current state by synthesizing and analyzing evidence from the 2024 PAPI Report, the 2025 SIPAS Report, and relevant policy documents. The findings indicate that although digital infrastructure and citizens' access to the Internet have improved significantly, substantive participation in policy-making, public service delivery, and oversight of state agencies' operations remains limited due to the digital divide, inadequate digital literacy, and ineffective feedback mechanisms. Based on these findings, the paper proposes targeted policy solutions to strengthen citizens' digital participation, thereby contributing to the development of a transparent, inclusive, and effective social development governance system in the digital era.

Keywords: digital platforms; social development governance; Citizens' digital participation.

Số hóa đang ngày càng có tầm quan trọng và gắn chặt với mọi nền kinh tế và quản trị của mỗi quốc gia. Số hóa giúp quá trình cung cấp thông tin và truyền thông đến người dân những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật đến người dân mà còn là kênh và hình thức mới để người dân hể hiện quan điểm, tham gia vào các hoạt động quản trị sự phát triển của xã hội. Số hóa sự tham gia của người dân là một trong 3 thành tố đảm bảo hiệu quả hoạt động của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ ở Việt Nam, mặc dù internet có khả năng xóa bỏ ranh giới về thời gian, không gian và nhiều lợi ích đối với sự tham gia của người dân nhưng vẫn cần phải chú ý đến những điểm nghẽn trong quá trình thực hiện quán trị phát triển xã hội trên nền tảng số này.

Nghiên cứu về quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số được nhiều tác giả đề cập đến để làm rõ nội dung, thành phần và các biện pháp giúp quá trình này đạt hiệu quả. Nhưng nghiên cứu về sự tham gia của người dân như một thành tố của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Vì lẽ đó, bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để tổng hợp các báo cáo PAPI, SIPAS và các tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề sự tham gia số của người dân vào quản trị phát triển xã hội

1. Khái quát về sự tham gia số của người dân vào quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số

1.1. Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số

Theo quan điểm của Liên hợp quốc, phát triển xã hội là quá trình chuyển đổi dẫn đến sự cải thiện cuộc sống con người, cải thiện các quan hệ xã hội và thể chế xã hội hướng đến tính bình đẳng, bền vững và phù hợp với các nguyên lý về quản trị nhân chủ và công bằng xã hội.

Quản trị phát triển xã hội là “sự tác động tự giác, có tổ chức của chủ thể quản lý đến các khách thể (con người, cộng đồng, các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội…) nhằm mục tiêu phát triển xã hội”1. Ở góc nhìn này, Lê Văn Lợi (2025) đã xác định những nhiệm vụ cốt lõi của quản lý phát triển xã hội bao gồm: phát triển cơ cấu xã hội; Định hướng, kiểm soát các biến đổi xã hội; thực hiện các bảo đảm xã hội; Thực thi chính sách xã hội phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực, địa bàn nhằm hài hòa quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích; Xử lý các vấn đề xã hội nảy sinh, bảo đảm sự ổn định, phát triển xã hội.

Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số được hiểu là quá trình hoạch định định chính sách, tổ chức thực thi, triển khai các chính sách, thể chế, thực hiện sự giám sát và nguồn lực thực hiện. Tại Hội thảo về “Nhận diện quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, Nguyễn Quốc Sửu khẳng định “quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ cao vào hoạt động quản lý, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức hoạch định chính sách, tổ chức thực thi và giám sát xã hội”2. Đặng Nguyên Anh quan niệm quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số là “quá trình hoạch đinh, điều phối và triển khai các chính sách, thể chế và nguồn lực nhằm bảo đảm phát triển toàn diện kinh tế - xã hội. Quản trị phát triển xã hội trong kỷ nguyên số được cấu trúc theo 3 thành tố: Hiệu quả thể chế và chính sách; Công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực số; và Sự tham gia của người dân và doanh nghiệp. Khi 3 thành tố này vận hành động bộ và hiệu quả, quản trị phát triền xã hội sẽ trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển bao trùm, bền tững trong kỷ nguyên mới”3. Như vậy, các quan điểm này đều nhấn mạnh vào vai trò giám sát của người dân, và của xã hội, coi sự tham gia là một trong những thành tố quan trọng của quản trị phát triển xã hội. Quan điểm này thể hiện rõ tầm quan trọng của sự tham gia của người dân nội dung chính sách thể chế và kiểm soát các nguồn lực đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội.

Việt Nam đang vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, quy mô quản lý nhà nước ở cấp xã và cấp tỉnh mở rộng hơn, các trung tâm hành chính cũng đặt xa hơn dẫn đến tâm lý e ngại khi phải làm thủ tục tại các trục sở mới do khoảng cách và thời gian đi lại, sự thay đổi về quy trình giải quyết thủ tục. Trong kỷ nguyên số, các nền tảng số đã tạo thuận lợi về kênh và cách thức để người dân tham gia nhiều hơn, dễ dàng hơn vào trong quá trình quản trị phát triển xã hội này. Như các mô hình dịch vụ công trực tuyến ở các địa phương của Việt Nam đã cho phép người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến một cửa và theo dõi tiến trình giải quyết của các thủ tục hành chính trực tuyến hay các thông tin về chính sách, pháp luật và hoạt động của cơ quan nhà nước đã được công khai trên nền tảng số tạo điều kiện cho người dân giám sát và đóng góp ý kiến phản hồi.

Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số được diễn ra trên phạm vi rộng nên rất khó xác định các nội dung của hoạt động này. Để xác định nội dung của quản trị phát triển xã hội có thể tiếp cận theo 2 chiều cạnh sau: 1. Tiếp cận quản trị phát triển xã hội là một quá trình, nội dung bao gồm: quá trình hoạch định chính sách phát triển xã hội, tổ chức thực hiện các chính sách, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và thực hiện giám sát quá trình thực hiện đó; 2. Tiếp cận theo nội dung phát triển xã hội, đó là quá trình quản trị các nội dung sau4: Phát triển cơ cấu xã hội; Định hướng, kiểm soát các biến đổi xã hội; Thực thi chính sách xã hội phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực,  địa bàn nhằm hài hòa quan hệ xã hội, quan hệ lợi ích; Xử lý các vấn đề xã hội nảy sinh, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội.

Bài viết này tiếp cận nội dung quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số là một quá trình bao gồm chuỗi những hoạt động liên tiếp. Đây là cơ sở để xác định được nội dung, mức độ tham gia của người người dân trên nền tảng số

1.2. Sự tham gia của người dân vào quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số

Sự tham gia của người dân vào quản trị phát triển xã hội là một phần của nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, đó là khi đề cập đến quá trình mà các chuyên gia, gia đình, nhóm cộng đồng, quan chức chính phủ và những người khác nhóm lại với nhau để cùng làm tốt nhất một việc gì đó trong mối quan hệ đối tác chính thức hoặc không chính thức. Sự tham gia này được xem là quá trình mà các bên liên quan có ảnh hưởng và kiểm soát đối với các sáng kiến phát triển cũng như các quyết định và các nguồn lực có ảnh hưởng đến họ.

Sự tham gia của người dân vào quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số là quá trình người dân sử dụng các nền tảng công nghệ, dữ liệu và không gian mạng để tương tác, giám sát và hợp tác với nhà nước.Người dân có thể tham gia số trong một số nội dung cốt lõi của quản trị phát triển xã hội như: 1. Đóng góp ý kiến, phản biện trực tuyến đối với các dự thảo luật, các chính sách, chiến lược phát triển xã hội của địa phương và quốc gia qua các cổng thông tin điện tử hoặc ứng dụng di động; 2. Tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược thông việc sử dụng các cổng dịch vụ công trực tuyến, đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước và gửi các phản ánh, kiến nghị đối với các vấn đề phát sinh hoặc không phù hợp với thực tiễn; 3. Thực hiện giám sát quá trình thực hiện đó một cách minh bạch thông qua việc theo dõi tiến độ các dự án, ngân sách nhà nước và giảm sát thi công vụ thông qua các nền tảng dữ liệu mở; 4. Tham gia khi cơ quan nhà nước huy động nguồn lực cộng đồng như tham gia sáng kiến, tình nguyện hoặc giải quyết các vấn đề phát triển xã hội trên nền tảng số.

2. Thực trạng tham gia của người dân trong quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số ở Việt Nam

2.1. Mức độ tham gia của người dân

Sự tham gia của người dân vào quản trịphát triển xã hội trên nền tảng số gồm nhiều mức độ:

Mức độ 1: người dân tiếp cận thông tin số, là khi người dân cần nắm bắt được thông tin đã được số hóa về các quy định của pháp luật, chính sách và các chiến lược phát triển xã hội của địa phương và quốc gia. Do đó, để thực hiện mức độ này, cơ quan nhà nước cần công khai thông tin trên đa dạng các kênh thông tin và trên các nền tảng số, mạng xã hội và trang thông tin điện tử để huy động sự tham gia của người dân ở mức cao hơn. Trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã trao cho công dân quyền tự do tiếp cận các thông tin được cơ quan, tổ chức công khai và quyền yêu cầu cung cấp thông tin, bảo đảm tính minh bạch trong kỷ nguyên số. Cũng trong Luật này đã có quy định rõ những nội dung bắt buộc phải công khai và cấm không được công khai, các hình thức và thời điểm công khai thông tin. Những quy định trong Luật là bảo chứng cho quyền tiếp cận thông tin của người dân trong quản trị phát triển xã hội tạo điều kiện cho người dân tham gia số ở những mức độ cao hơn và trực tiếp hơn. Trong Báo cáo PAPI năm 2024 về chỉ số công khai, minh bạch trong tiếp cận thông tin của người dân dù đã được tăng lên đáng kể nhưng vẫn chưa đồng đều ở các địa phương và trong các lĩnh vực. Điều này cho thấy tính minh bạch số chưa thực sự trở thành nền tảng để người dân tham gia giám sát và phản biện xã hội các dự thảo chính sách. Vì vậy, muốn nâng cao sự tham gia số cần phải đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời và dễ khai thác trên các nền tảng số.

Mức độ 2: người dân tham gia ý kiến. Sự tham gia ý kiến của người dân có thể bảo đảm cho các quyết định của Nhà nước sát với cuộc sống, nhu cầu thiết thực của người dân đối với việc phát triển xã hội, tiếp thu những ý kiến đóng góp có giá trị của người dân đối với những vấn đề liên quan trực tiếp đến họ và khiến họ tin tưởng vào đường lối, chủ trương và chiến lược phát triển xã hội của cơ quan nhà nước. Hiện nay, người dân có thể tham gia đóng góp ý kiến, phản ánh kiến nghị và đánh giá đối với các dịch vụ công nhanh chóng qua nhiều nền tảng số quốc gia và địa phương. Như ứng dụng VneID được sử dụng để cập nhật thông tin, phản ánh thực tế và tham gia góp ý trực tiếp vào các dự thảo chính sách, chiến lược của Nhà nước hay đối với quá trình thực hiện của cơ quan nhà nước. Hay nền tảng Mặt trận số của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm Cổng Mặt trận số 24/7 giúp tiếp nhận, tổng hợp và xử lý nhanh chóng các kiến nghị, phản ánh dư luận xã hội cũng là một kênh giúp sự tham gia số của người dân trở nên hiệu quả hơn, có giá trị cao hơn đối với hoạt động giám sát cơ quan nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các địa phương cũng đã xây dựng hiệu quả cổng khảo sát - Cổng khảo sát HiHUB của Hà Nội. Đây là Cổng khảo sát mà người dân sử dụng để đánh giá chất lượng phục vụ và phản ánh các điểm nghẽn đới với 675 nhóm dịch vụ công trên địa bàn Hà Nội.

Việc tích cực đóng góp ý kiến và đánh giá qua các nền tảng này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản trị phát triển xã hội mà còn góp phần trực tiếp hoàn thiện “điểm công dân số” của mỗi cá nhân. Bên cạnh đó, còn thúc đẩy tính minh bạch, trách nhiệm và cam kết thực hiện mục tiêu và các ưu tiên phát triển xã hội của cơ quan nhà nước.

Mức độ 3: người dân trực tiếp tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ công, cung cấp các nguồn lực cho quá trình quản trị phát triển xã hội. Sự tham gia trực tiếp này của người dân thể hiện rõ bước chuyển mình từ vai trò “thụ hưởng” sang “đồng kiến tạo”. Công nghệ và và chuyển đổi số chính là cầu nối thu hẹp khoảng cách giữa Nhà nước và nhân dân trong mô hình quản trị phát triển xã hội, đẩy mạnh vai trò trung tâm của người dân thông qua các phương thức người dân tham gia vào quá trình này. Như cung ứng dịch vụ công mức độ 3 cho phép người dân, các tổ chức xã hội trực tiếp đảm nhận hoặc tham gia vào thực hiện một số dịch vụ công, dịch vụ hành chính công mà trước đây thuộc độc quyền Nhà nước. Đồng thời cũng đã huy dộng đươc nguồn lực quản trị như huy động tri thức, dữ liệu mở, sáng kiến, đóng góp về mặt tài chính và công sức từ cộng đồng để giải quyết các vấn đề xã hội. Quá trình tham gia trực tiếp này của người dân đã thiết lập và phản hồi trên hệ thống số giúp các dịch vụ công trở nên nhanh chóng, chính xác và sát với nhu cầu thực tế của người dân.

Mức độ 4: người dân giám sát số các hoạt động quản trị phát triển xã hội. Bên cạnh việc tham gia giám sát thông qua hệ thống các cơ quan của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, thông qua cơ quan dân cử và giám sát trực tiếp tại cơ sở thì đến nay người dân có thể giám sát thông qua nền tảng số. Sự giám sát số này cần có sự ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho việc giám sát trực tiếp và minh bạch hơn. Người dân có thể phản ánh, đánh giá chất lượng dịch vụ công và thái độ của cán bộ, công chức qua các ứng dụng di động như app phản ánh thực trạng quản trị của địa phương, Cổng Dịch vụ công hoặc báo chí, mạng xã hội. Quyền giám sát số của người dân đối với quản trị phát triển xã hội được Nhà nước bảo đảm thông qua hành lang pháp lý nghiêm minh trong Hiến pháp 2013, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định về quyền tiếp cận thông tin, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xác định rõ cơ chế giám sát thông qua Mặt trận Tổ quốc. Trong Báo cáo PAPI năm 2024 cũng cho thấy nhiều địa phương, người dân đánh giá tích cực hơn đối với các dịch vụ công được thực hiện trên môi trường số do giảm tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, công chức. Điều này làm hạn chế những biểu hiện tiêu cực, các chi phí phát sinh không chính thức cho người dân đồng thời tăng tính minh bạch trong giải quyết thủ tục hành chính.

Như vậy, người dân có thể tham gia ở các mức độ khác nhau từ việc tiếp cận thông tin, tham gia góp ý trên môi trường mạng, tham gia cung cấp các nguồn lực và thực hiện giám sát đối với các nội dung quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy sự tham gia của người dân còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.

2.2. Thực trạng tham gia của người dân đối với quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số

2.2.1. Khả năng tiếp cận và tham gia  của người dân

Theo Báo cáo hiệu quả quản trị công cấp tỉnh PAPI năm 2024 và chỉ số SIPAS năm 2025, tỷ lệ người dân có khả năng tiếp cận hạ tầng số (internet, điện thoại thông minh) và hành vi tham gia số như sau:

Qua sơ đồ 1 dưới đây cho thấy, hạ tầng số đạt mức độ bao phủ rất ấn tượng với 92% Hộ gia đình sở hữu điện thoại thông minh (smartphone) và hơn 83% có internet tại nhà. Nhưng số lượng người dân Theo dõi tin tức qua mạng chỉ chiếm 66,6% là tương đối thấp. Số liệu này cho thấy, người dân chưa sử dụng hiệu quả đối với việc thu thập thông tin làm tăng vốn hiểu biết của cá nhân và sử dụng để tham gia vào dịch vụ công và chính sách.

Sơ đồ 1: Tỷ lệ khả năng tiếp cận và hành vi tham gia số của người dân

(Nguồn: Số liệu Hạ tầng số trong chỉ số SIPAS 2025 và số liệu về tỷ lệ tham gia dịch vụ công tổng hợp từ chỉ số PAPA2024)

Tỷ lệ tiếp cận hạ tầng số (internet, điện thoại thông minh) rất cao nhưng tỷ lệ thực hiện các hành vi tham gia quản trị thực tế qua môi trường số vẫn còn khiêm tốn. Chỉ có khoảng 10% người dân thực hiện dịch vụ công hoặc góp ý chính sách trực tuyến.

Qua số liệu cho thấy có tỷ lệ nghịch giữa tỷ lệ tiếp cận hạ tầng số và tham gia số vào quá trình quản trị quốc gia. Điều này có thể do các lý do: 1. Động lực tham gia số của người vào dịch vụ hành chính công và chính sách công chưa cao; 2. Năng lực số của người dân còn thấp nên khả năng tiếp cận thông tin từ nền tảng số còn nhiều khó khăn; 3. Quá trình thực hiện quá khó khiến người dân không thể chủ động tiếp cận và tham gia số được.

2.2.2. Kênh tương tác số và mức độ sẵn sàng tham gia của người dân

Trong quản trị phát triển xã hội, các kênh truyền thống (báo, đài, tivi và văn bản giấy) vẫn giữ vai trò chủ đạo, nhưng internet đang vươn lên mạnh mẽ, đặc biệt là mạng xã hội tạo điều kiện cho người dân có khả năng tiếp cận và tham gia vào quá trình quản trị phát triển xã hội trở nên dễ dàng hơn. Trong kết quả khảo sát của Bộ Nội vụ về sự hài lòng của người dân đối với hành chính công cấp tỉnh về kênh thông tin người dân sử dụng để theo dõi chính sách gồm có: Họp khu dân cư, báo đài, ti vi, loa phát thanh và mạng internet. Trong đó, tỷ lệ đánh giá về sự phù hợp của các kênh truyền thống vẫn được đánh giá cao về độ phù hợp như họp dân cư và loa phát thanh được đánh giá theo thứ tự 78,62% và 73.95%. Báo chí, tivi, đài và internets được đánh giá có mức độ phù hợp cao nhất với số liệu lần lươt là 80,34% và 78,73%. Số liệu này cho thấy, cơ quan nhà nước đã sử dụng kết hợp đa dạng các kênh để người dân sử dụng để theo dõi chính sách.

Sơ đồ 2: So sánh kênh thông tin người dân sử dụng để theo dõi chính sách

(Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo Chỉ số SIPAS năm 2025)

Mặc dù internet được đánh giá là kênh phù hợp hàng đầu (78,73%), nhưng sự sẵn sàng góp ý chính sách qua môi trường trực tuyến chỉ đạt khoảng 10%. Điều này đặt ra thách thức về tính thân thiện và quy trình phản hồi của các cổng thông tin điện tử hiện nay. Số liệu trong sơ đồ 2 cũng cho thấy, mặc dù người dân đánh giá cao về tính phù hợp của các kênh trực tuyến nhưng việc lựa chọn sử dụng nhiều nhất là Họp khu dân cư chiếm 47,81% tiếp đó mới đến đài phát thanh, tivi, báo chí (43,14%), mạng internet (39,11%).

Điều này cho thấy, các kênh truyền thống vẫn được số động lựa chọn vì dễ tiếp cận, đầy đủ nội dung do được tổ chức, cơ quan, cá nhân am hiểu về chính sách truyền thông trực tiếp.

2.2.3. Tham gia sử dụng cổng dịch vụ công

Báo cáo Chỉ số PAPI năm 2024 cho thấy chỉ số Quản trị điện tử của Việt Nam tiếp tục có xu hướng cải thiện nhưng vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa khả năng cung cấp dịch vụ số của chính quyền và mức độ sử dụng thực tế của người dân. Phần lớn người dân đã có điều kiện tiếp cận hạ tầng số như internet và điện thoại thông minh.

Mức độ hài lòng của những người thực sự trải nghiệm dịch vụ số là rất cao với 91,6% sử dụng Cổng Dịch vụ công quốc gia và 95% Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh, tuy nhiên số lượng người dân sử dụng các cổng này vẫn còn rất thấp chỉ từ 9,0%-13,8%. Số lượng người dân làm thủ tục trực tuyến ở Cổng Dịch vụ công quốc gia chiếm 64,9% và Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh chiếm 56,5%. Số liệu này cho thấy tỷ lệ sử dụng các nền tảng số để thực hiện thủ tục hành chính, phản ánh kiến nghị hoặc tham gia đóng góp chính sách còn ở mức thấp. Điều này cho thấy việc quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số mới chỉ tập trung vào phía chủ thể quán trị như: xây dựng nền tảng, số hóa thủ tục, trong khi động lực và năng lực tham gia số của người dân chưa được quan tâm xứng đáng. Điều này đã tạo ra những khoảng cách số giữa việc có nền tảng số và tham gia số gây cản trở đối với quá trình phát triển xã hội trên nền tảng số.

Sơ đồ 3: Sự tham gia sử dụng Cổng Dịch vụ công quốc gia và cấp tỉnh