Từ khóa: Đạo đức công vụ, văn hóa liêm chính, khu vực công, chuyển đổi số, Việt Nam.
Abstract: Public service ethics and a culture of integrity are not only personal qualities of officials, civil servants, and public employees but also strategic components of state capacity, determining the legitimacy of public authority, the level of voluntary social compliance, and the ability to build consensus in national governance. When standards of public service ethics and integrity are consistently institutionalized, embedded in accountability mechanisms, and integrated into organizational culture, they foster fairness, transparency, and accountability, the fundamental conditions for strengthening public trust and improving governance quality. This is consistent with the approach of the Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), which emphasizes the importance of reinforcing trust in public institutions, with integrity and government responsiveness serving as key pillars.
Keywords: Public service ethics; culture of integrity; public sector; digital transformation; Vietnam.
![]()
1. Đặt vấn đề
Từ năm 2023 đến nay, Việt Nam chứng kiến sự tăng cường đồng bộ cả về định hướng chính trị, pháp lý lẫn thực tiễn thực thi đạo đức công vụ và liêm chính trong khu vực công. Một mặt, Đảng tiếp tục hoàn thiện kiến trúc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bằng một loạt quy định mới, tiêu biểu là Quy định số 114-QĐ/TW ngày, 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ; Quy định số 132-QĐ/TW, ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Quy định số 178-QĐ/TW, ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; Quy định số 189-QĐ/TW, ngày 08/10/2024 của Bộ Chính trị quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới... Mặt khác, Chính phủ cũng ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030 (Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 11/10/2023) và chấn chỉnh, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ (Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 20/10/2023).
Về thực tiễn, số liệu chính thức giai đoạn 2023 - 2025, cho thấy tần suất phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực và kỷ luật Đảng tiếp tục ở mức cao (số liệu chi tiết được trình bày ở Mục 4). Các khảo sát độc lập dựa trên trải nghiệm của người dân, như PAPI, ghi nhận những cải thiện nhất định nhưng cũng chỉ rõ các “điểm nghẽn” dai dẳng: PAPI 2023 phản ánh tiến bộ về cảm nhận đối với nỗ lực chống tham nhũng ở cấp địa phương, trong khi PAPI 2024 cho thấy tham nhũng trở thành mối quan ngại hàng đầu của người dân (22,58% người trả lời), dù tỷ lệ báo cáo phải chi trả “phong bì/chi phí không chính thức” đã giảm so với năm 2023.
2. Khung khái niệm và logic nền tảng
Đạo đức công vụ có thể được hiểu như một bộ phận của hệ giá trị đạo đức xã hội, là nền tảng tinh thần bảo đảm cho hoạt động công quyền được thực hiện đúng đắn, hiệu quả, hướng tới lợi ích của nhân dân và cộng đồng. Trong điều kiện quản trị hiện đại, đạo đức công vụ cần gắn chặt với các yêu cầu công khai, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Cách tiếp cận này cho phép nhìn đạo đức công vụ không phải là những lời kêu gọi chung chung, mà là cơ sở thiết yếu của chất lượng thực thi chính sách, nơi mỗi quyết định hành chính, mỗi tương tác nhà nước - người dân đều mang theo chuẩn mực của sự liêm khiết, trách nhiệm và tôn trọng pháp luật.
Văn hóa liêm chính trong khu vực công là tầng sâu hơn của đạo đức công vụ, phản ánh mức độ các giá trị liêm chính, chính trực được nội tâm hóa và trở thành thói quen tổ chức, từ cách thiết kế quy trình, cách người đứng đầu nêu gương, cách cơ quan xử lý xung đột lợi ích, đến cách tập thể phản ứng với dấu hiệu sai phạm. Một cách diễn đạt có tính khái quát là: đạo đức công vụ thiên về chuẩn mực hành vi, còn văn hóa liêm chính là môi trường giá trị giúp chuẩn mực đó được duy trì bền vững, tự giác và lan tỏa. Nghiên cứu trong nước cũng nhấn mạnh văn hóa liêm chính là một bộ phận quan trọng của văn hóa công vụ, là chuẩn mực đạo đức cốt lõi đối với đội ngũ cán bộ, công chức, góp phần hoàn thiện văn hóa công vụ và phát triển con người.
Trong quản trị công, mối liên hệ giữa đạo đức công vụ, văn hóa liêm chính, niềm tin xã hội có thể được diễn giải theo một logic nhân - quả nhiều tầng. Trước hết, liêm chính làm giảm “chi phí giao dịch” giữa nhà nước và xã hội: người dân và doanh nghiệp không phải dự phòng rủi ro “xin - cho”, không bị buộc phải chi trả chi phí không chính thức để được phục vụ đúng quyền lợi, từ đó tăng dự báo được và công bằng trong tiếp cận dịch vụ công. Khi kỳ vọng công bằng được củng cố, niềm tin xã hội gia tăng, kéo theo mức độ hợp tác, tuân thủ tự nguyện và sự sẵn sàng tham gia vào các sáng kiến chính sách. Trong các phân tích về niềm tin vào thể chế, OECD coi việc củng cố năng lực, giá trị và tính liêm chính của khu vực công là điều kiện quan trọng để tăng cường niềm tin của người dân.
Tiếp theo, đạo đức công vụ và văn hóa liêm chính liên quan trực tiếp đến chất lượng quản trị thông qua ba cơ chế. Một là, nâng cao chất lượng ra quyết định và thực thi chính sách, giảm thiên lệch vì lợi ích nhóm, giảm can thiệp tùy tiện, tăng tính thượng tôn pháp luật và hiệu lực thực thi. Hai là, nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực công, ngân sách, đầu tư công, mua sắm công, tài sản công được quản lý chặt chẽ hơn, giảm thất thoát và lãng phí; điều này đặc biệt quan trọng khi Việt Nam đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số và đáp ứng các cú sốc rủi ro (thiên tai, dịch bệnh, biến động kinh tế). Ba là, nâng cao chất lượng dịch vụ công và tính đáp ứng: khi kỷ luật, kỷ cương và liêm chính trở thành chuẩn mực vận hành, chất lượng thủ tục hành chính và dịch vụ công (y tế, giáo dục, an sinh…) có cơ sở để cải thiện bền vững.
Một điểm nhấn quan trọng của cách tiếp cận hiện đại là liêm chính không chỉ là không tham nhũng, mà là sự nhất quán ưu tiên lợi ích công trên lợi ích tư, tránh cả những lệch chuẩn chưa đến mức tội phạm nhưng làm xói mòn niềm tin (xung đột lợi ích không được kiểm soát, thiên vị trong tuyển dụng, bổ nhiệm, lạm quyền trong quyết định hành chính, văn hóa quà cáp…). Khái niệm này tương thích với định nghĩa của OECD: sự nhất quán tuân thủ các giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức chung để bảo vệ lợi ích công thay vì lợi ích tư trong khu vực công; OECD đề xuất chiến lược liêm chính dựa trên ba trụ cột: hệ thống, văn hóa và trách nhiệm giải trình.
Từ góc nhìn quản trị nhà nước trong kỷ nguyên số, nét mới là “liêm chính” phải được thiết kế ngay trong kiến trúc thể chế và công nghệ. Các nền tảng số hóa thủ tục, dữ liệu mở, định danh và thanh toán số có thể làm giảm không gian phát sinh nhũng nhiễu, nhưng đồng thời cũng đặt ra rủi ro mới, bất bình đẳng số làm giảm khả năng tiếp cận công bằng, hoặc “tham nhũng tinh vi” qua dữ liệu, thuật toán, liên thông không được kiểm soát. Vì vậy, văn hóa liêm chính thời số hóa không chỉ là chuẩn mực của con người mà còn là chuẩn mực của quy trình và dữ liệu. PAPI 2023 ghi nhận vai trò “khuếch đại” của chính phủ điện tử cho quản trị tốt hơn và nêu rõ các khoảng cách về khả năng tiếp cận Internet theo giới, khu vực cư trú, dân tộc và tình trạng di cư.
3. Nền tảng chính trị, pháp lý và định hướng chính sách
Khung chính sách và pháp lý của Việt Nam về đạo đức công vụ và liêm chính trong khu vực công giai đoạn hiện nay có thể nhìn như một tập hợp liên kết giữa (i) chuẩn mực đạo đức, kỷ luật của Đảng, (ii) chiến lược và cơ chế điều hành của Chính phủ, (iii) cải cách pháp luật và quy trình kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực nhạy cảm với tham nhũng, tiêu cực. Về mặt định hướng, các văn bản ban hành trong giai đoạn này thể hiện rõ xu hướng chuyển từ chống tham nhũng theo vụ việc sang xây dựng hệ sinh thái liêm chính, trong đó giáo dục, phòng ngừa, kiểm soát quyền lực, minh bạch, chịu trách nhiệm được đặt trong một logic thống nhất.
Trước hết, ở cấp quốc gia, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 11/10/2023 về Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030, xác lập định hướng dài hạn về phòng ngừa, phát hiện, xử lý và thu hồi tài sản tham nhũng, tiêu cực, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi. Chiến lược đến 2030 có ý nghĩa như một khung khổ điều phối để lồng ghép liêm chính vào hoạch định và thực thi chính sách phát triển, thay vì coi liêm chính chỉ là lĩnh vực hậu kiểm.
Đi song hành với chiến lược là kỷ luật, kỷ cương hành chính và chấn chỉnh hoạt động công vụ. Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 20/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ thể hiện trực tiếp mối quan tâm chính sách đối với các biểu hiện né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm và vi phạm kỷ luật công vụ; đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm soát trong thực thi quyền lực hành chính. Có thể xem đây là mắt xích nối giữa đạo đức công vụ (chuẩn mực hành vi) với cơ chế bảo đảm thực thi (thanh tra, kiểm tra, giám sát), nhằm chuyển hóa chuẩn mực từ khuyến khích tự giác sang kỷ cương vận hành.
Trong lĩnh vực dân chủ và minh bạch ở cơ sở,
một điều kiện quan trọng để liêm chính trở thành chuẩn mực xã hội,
Nghị định số 59/2023/NĐ-CP ngày 14/8/2023 của Chính phủ "Quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở" là văn bản đáng chú ý trong giai đoạn vừa qua.
Từ góc độ liêm chính, thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ nhằm mở rộng quyền
tham gia mà còn nhằm tăng tính minh bạch, tăng giám
sát của cộng đồng, qua đó giảm rủi ro lợi ích cục bộ
và nhũng nhiễu trong quản trị địa phương. Khi người dân có thông tin, có kênh
tham gia và có cơ chế giám sát, đạo đức công vụ không còn là câu chuyện nội bộ
của cơ quan nhà nước, mà trở thành cam kết có thể kiểm chứng trước xã hội. Ở cấp độ quy trình và thể chế chuyên ngành, tư duy kiểm
soát quyền lực theo điểm nóng được phản ánh rõ nét qua các quy định của Đảng về
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị có ý nghĩa đặc biệt vì công tác cán bộ là “đầu vào” của bộ máy; văn bản này đồng thời xác định trách nhiệm kiểm soát quyền lực và cơ chế xử lý vi phạm trong lĩnh vực dễ phát sinh chạy chức, chạy quyền và lợi ích nhóm. Tiếp đó, Quy định số 132-QĐ/TW, ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị là điểm tựa nâng cao liêm chính tư pháp và bảo đảm công lý, củng cố niềm tin xã hội vào tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật.
Quy định số 142-QĐ/TW, ngày 23/4/2024 của Bộ Chính trị "Thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ" có thể được nhìn như một nỗ lực tái cân bằng giữa trao quyền và siết trách nhiệm, tăng tính chủ động, dám chịu trách nhiệm của người đứng đầu; đồng thời, đặt người đứng đầu vào cơ chế giám sát và làm rõ hơn trách nhiệm của người đứng đầu. Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị cung cấp chuẩn giá trị để xây dựng đạo đức công vụ và văn hóa liêm chính, đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu nêu gương và tính tự giác. Quy định số 178-QĐ/TW, ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị cũng đã giải quyết một điểm nghẽn thể chế thường bị coi nhẹ: nguy cơ lợi ích nhóm và tham nhũng chính sách ngay từ khâu thiết kế luật.
Quy định số 183-QĐ/TW, ngày 18/9/2024 của Bộ Chính trị về bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đã thể hiện một tư duy chính sách quan trọng, liêm chính không thể bền vững nếu người thực thi công vụ ngay thẳng, dám làm bị “tổn thương” bởi áp lực, đe dọa hoặc can thiệp trái pháp luật; do đó, cơ chế bảo vệ người thi hành công vụ trở thành một phần của “hệ sinh thái liêm chính”.
Một điểm đáng chú ý khác là sự gắn kết giữa đường lối của Đảng và chương trình hành động của Chính phủ, thể hiện bằng các nghị quyết triển khai theo hướng biến quy định thành vận hành. Điển hình, Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 13/01/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật; và Nghị quyết số 193/NQ-CP ngày 27/6/2025 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Quy định số 189-QĐ/TW, ngày 08/10/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. Cùng năm 2025, Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới được Chính phủ cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 17/5/2025, có thể xem là nền tảng để nâng chất lượng “đầu vào” của quản trị (thiết kế luật), từ đó giảm khoảng trống thể chế dễ bị lợi dụng cho tham nhũng và tiêu cực.
4. Thực tiễn triển khai
Nhìn từ các báo cáo chính thức của cơ quan thường trực về nội chính và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, giai đoạn 2023 - 2025 tiếp tục ghi nhận cường độ xử lý cao và mở rộng phạm vi sang phòng, chống lãng phí. Năm 2023, có thể coi là một năm tăng tốc về phát hiện và xử lý: các cơ quan tiến hành tố tụng trên cả nước đã khởi tố 4.523 vụ, 9.373 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ; trong đó án tham nhũng khởi tố mới 899 vụ/2.446 bị can (tăng gần gấp đôi về số vụ so với năm 2022 theo báo cáo). Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện theo dõi, chỉ đạo đã khởi tố mới 13 vụ án/54 bị can và khởi tố bổ sung 252 bị can trong 26 vụ án; hoạt động thu hồi tài sản cũng được nhấn mạnh với số tài sản tạm giữ, kê biên, phong tỏa, thu hồi trị giá hơn 234 nghìn tỷ đồng.
Ở góc độ kỷ luật Đảng và trách nhiệm nêu gương, năm 2023 ghi nhận cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng và 24.162 đảng viên; trong đó có các nhóm vi phạm liên quan đến tham nhũng, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và vi phạm những điều đảng viên không được làm. Đồng thời, cơ chế khuyến khích từ chức, kịp thời miễn nhiệm, thay thế và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cũng được nhấn mạnh, phản ánh xu hướng tiến tới quản trị nhân sự dựa trên trách nhiệm giải trình và tính chính danh.
Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính gần 219.000 tỷ đồng và kiến nghị xử lý hành chính hàng nghìn tập thể, cá nhân trong năm 2023. Cơ chế phối hợp chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm tiếp tục vận hành với 660 vụ việc được chuyển đến cơ quan điều tra. Những con số này cho thấy liêm chính không thể chỉ dựa vào giáo dục đạo đức, mà đòi hỏi hệ thống kiểm soát và phát hiện sai phạm hoạt động hiệu quả, có khả năng “đọc ra” rủi ro tham nhũng từ thực tiễn quản lý.
Sang năm 2024, trọng tâm phòng, chống tham nhũng tiếp tục được khẳng định là triển khai mạnh mẽ, quyết liệt hơn ở cả Trung ương và địa phương, gắn với phòng, chống lãng phí (mở rộng chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo ở cấp Trung ương và cấp tỉnh). Về số liệu tố tụng, năm 2024, các cơ quan tố tụng cả nước khởi tố mới 4.732 vụ án/10.430 bị can, truy tố 4.074 vụ/10.698 bị can, xét xử sơ thẩm 4.052 vụ/9.664 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ; riêng nhóm tội tham nhũng khởi tố mới 906 vụ án/2.068 bị can. Tài sản tham nhũng thu hồi trong các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo được nêu ở mức gần 19.000 tỷ đồng.
Năm 2025, các cơ quan tố tụng cả nước khởi tố mới 3.325 vụ/8.516 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ (trong đó có 585 vụ án/1.585 bị can về các tội tham nhũng). Công tác thu hồi tài sản ghi nhận chuyển biến: trong năm, các cơ quan tố tụng tạm giữ, kê biên, phong tỏa, thu giữ tài sản trị giá trên 1.270 tỷ đồng; riêng các vụ án thuộc diện theo dõi, chỉ đạo, trong giai đoạn thi hành án dân sự thu hồi gần 22.500 tỷ đồng (đạt 55%), nâng tổng số tiền thu hồi từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến thời điểm báo cáo lên 119.830 tỷ đồng. Có 62 vụ án/373 bị can về các hành vi lãng phí bị khởi tố, điều tra để cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm.
Với PAPI 2023, UNDP nhấn mạnh hai điểm: (i) ghi nhận tiến bộ trong cảm nhận của người dân về nỗ lực chống tham nhũng ở cấp địa phương; (ii) đồng thời nêu quan ngại về xu hướng suy giảm minh bạch trong năm 2023 và cảnh báo khoảng cách số khi gần 80% người trả lời có internet tại nhà nhưng vẫn tồn tại chênh lệch theo nhóm xã hội. PAPI cũng nêu luận điểm quan trọng: trên thế giới, chính phủ số giúp giảm cơ hội tham nhũng, đặc biệt là tham nhũng vặt liên quan trực tiếp đến trải nghiệm dịch vụ công của người dân.
Đến PAPI 2024 (công bố tháng 4/2025), thể hiện rõ: tham nhũng nổi lên thành mối quan ngại bức thiết nhất, với tỷ lệ kỷ lục 22,58% người trả lời coi tham nhũng là ưu tiên hàng đầu cần Nhà nước giải quyết; song đồng thời UNDP ghi nhận cảm nhận về nỗ lực chống tham nhũng ở địa phương cải thiện, thể hiện ở xu hướng ít báo cáo phải trả hối lộ khi sử dụng dịch vụ so với 2023. Đây là tín hiệu quan trọng: một xã hội có thể đồng thời lo ngại cao vì mức độ chú ý lớn của các vụ án lớn và chiến dịch chống tham nhũng, nhưng trải nghiệm hằng ngày có thể cải thiện nếu các khâu tiếp xúc trực tiếp với bộ máy được minh bạch hóa và số hóa hiệu quả. Điều này gợi ý rằng xây dựng văn hóa liêm chính phải đi liền với cải cách thể chế và nâng cao chất lượng quản trị tuyến cơ sở, nơi người dân đo niềm tin bằng trải nghiệm cụ thể.
Song song, Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) cung cấp một lát cắt về chất lượng phục vụ và kỷ luật hành chính. Kết quả công bố năm 2024 cho thấy, SIPAS trung bình đạt 83,94%, tăng 1,28% so với năm 2023. Dù SIPAS không đo trực tiếp tham nhũng, nhưng mức độ hài lòng là chỉ báo quan trọng của văn hóa phục vụ, năng lực đáp ứng và tính chuyên nghiệp của bộ máy, qua đó liên quan gián tiếp đến niềm tin xã hội, nhất là khi kết hợp với các kết quả PAPI về kiểm soát tham nhũng vặt.
Ở bình diện quốc tế, các chỉ số so sánh cung cấp bối cảnh về vị trí và xu hướng dài hạn. Theo dữ liệu WGI, “Control of Corruption: Percentile Rank” của Việt Nam năm 2023 ở mức 39 (thang 0 - 100, phản ánh vị trí tương đối giữa các quốc gia). Theo Transparency International, điểm CPI của Việt Nam có xu hướng cải thiện nhẹ: CPI 2023 thể hiện Việt Nam đạt 40 điểm và xếp hạng tương ứng trong nhóm quốc gia được chấm điểm; CPI 2024 tăng lên 41 điểm (xếp hạng 81/182 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát); và bản đồ khu vực châu Á - Thái Bình Dương của CPI 2025 tiếp tục ghi nhận Việt Nam ở mức 41 điểm. Những thước đo này không thay thế cho đánh giá nội bộ, nhưng cho thấy yêu cầu củng cố liêm chính vẫn là thách thức dài hạn và cần được duy trì như một ưu tiên chiến lược, đặc biệt khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các chuỗi giá trị và tiêu chuẩn quản trị toàn cầu.
5. Giải pháp tăng cường đạo đức công vụ và văn hóa liêm chính
Thứ nhất, về thể chế và quản trị công, cần tiếp tục cụ thể hóa đạo đức công vụ theo hướng “chuẩn mực hóa, đo lường hóa, trách nhiệm hóa”. Chuẩn mực hóa nghĩa là hệ chuẩn đạo đức phải đủ rõ, đủ cụ thể trong các tình huống rủi ro cao: tiếp dân, giải quyết thủ tục, thanh tra, kiểm tra, quản lý ngân sách, mua sắm công, nhân sự, cấp phép. Đo lường hóa nghĩa là chuyển đạo đức công vụ từ khẩu hiệu thành tiêu chí đánh giá định kỳ gắn với chất lượng phục vụ và rủi ro liêm chính, tận dụng các kênh đo lường (PAPI, SIPAS) như tín hiệu xã hội để điều chỉnh quản trị. Trách nhiệm hóa nghĩa là gắn chuẩn đạo đức với trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời tạo cơ chế xử lý kịp thời (khen thưởng, kỷ luật) dựa trên dữ liệu và bằng chứng.
Thứ hai, về kiểm soát quyền lực, cần triển khai thực chất các quy định mới của Đảng theo logic kiểm soát theo chuỗi giá trị quyền lực: từ đầu vào (cán bộ), đến quá trình (xây dựng pháp luật, ngân sách, tài sản công, tố tụng), đến đầu ra (dịch vụ công, giải quyết vụ việc). Với công tác cán bộ, trọng tâm là phòng ngừa chạy chức, chạy quyền và lợi ích nhóm, thực thi nghiêm Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 và Quy định số 142-QĐ/TW, ngày 23/4/2024 của Bộ Chính trị theo hướng minh bạch hóa tiêu chí, số hóa hồ sơ nhân sự, tăng giám sát độc lập và trách nhiệm của người đứng đầu. Với xây dựng pháp luật, trọng tâm là minh bạch hóa quy trình soạn thảo, đánh giá tác động, tham vấn và phản biện xã hội, bảo đảm Quy định số 178-QĐ/TW, ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ (Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 13/01/2025) trong quy trình hằng ngày của các cơ quan soạn thảo.
Thứ ba, về quản lý tài chính, tài sản công và mua sắm công, cần coi minh bạch dữ liệu và chuẩn hóa quy trình là “vắc-xin” liêm chính. Quy định số 189-QĐ/TW, ngày 08/10/2024 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ (Nghị quyết số 193/NQ-CP ngày 27/6/2025) là khung cho một hệ giải pháp, bao gồm: chuẩn hóa danh mục tài sản công; công khai hóa ngân sách và quyết toán ở mức có thể kiểm chứng; tăng giám sát cộng đồng; nâng hiệu lực kiểm toán nội bộ; và tích hợp truy vết số để giảm vùng mờ. Luật Đấu thầu năm 2023 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu năm 2025 cũng là nền tảng pháp lý quan trọng để nâng mức minh bạch và trách nhiệm trong đấu thầu, qua đó giảm rủi ro tham nhũng trong mua sắm công.
Thứ tư, về giáo dục, đào tạo và kiến tạo văn hóa, cần chuyển từ đào tạo quy tắc sang đào tạo năng lực liêm chính. Năng lực liêm chính bao gồm: nhận diện xung đột lợi ích; kỹ năng ra quyết định trong các tình huống khó xử về đạo đức; kỹ năng giao tiếp và phục vụ người dân theo văn hóa công vụ; kỹ năng sử dụng công cụ số minh bạch và kỹ năng chịu trách nhiệm, giải trình bằng dữ liệu. Trong thiết kế đào tạo, người đứng đầu và cán bộ quản lý là nhóm trọng tâm vì họ giữ vai trò nêu gương và thiết kế môi trường văn hóa; quan điểm liêm chính gắn với trách nhiệm lãnh đạo đã được nhấn mạnh trong các nghiên cứu trao đổi về nội chính.
Thứ năm, về cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình, cần hiện đại hóa thanh tra, kiểm tra theo hướng quản trị rủi ro và phòng ngừa, tránh thiên về hậu kiểm hình thức. Số liệu giai đoạn 2023 - 2025 cho thấy, quy mô xử lý rất lớn, nhưng để bền vững cần tăng khả năng phòng ngừa thông qua cảnh báo sớm, kiểm soát nội bộ và công khai dữ liệu. Đồng thời, bảo đảm cơ chế bảo vệ người thi hành công vụ ngay thẳng và người dám đổi mới vì lợi ích chung (gắn với Quy định số 183-QĐ/TW, 18/9/2024 của Bộ Chính trị và các định hướng về khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo).
Thứ sáu, về công nghệ, cần coi minh bạch hóa bằng dữ liệu là trụ cột của liêm chính hiện đại. Điều này bao gồm: công khai tiến độ giải quyết thủ tục; công khai tiêu chuẩn dịch vụ; chuẩn hóa và mở dữ liệu (ở mức phù hợp) về ngân sách, đầu tư công, đấu thầu; và sử dụng phân tích dữ liệu để phát hiện bất thường (thời gian xử lý bất thường, tần suất tiếp xúc trực tiếp cao bất thường, tỷ lệ khiếu nại cao…). Tuy nhiên, số hóa phải đi kèm thu hẹp khoảng cách số; nếu không, tham nhũng vặt có thể dịch chuyển sang các khâu trung gian hỗ trợ người dân yếu thế. PAPI 2023 đã cảnh báo rõ về khoảng cách số. Do đó, chương trình liêm chính số cần lồng ghép mục tiêu phổ cập kỹ năng số và bảo đảm tiếp cận công bằng.
6. Kết luận
Đạo đức công vụ và văn hóa liêm chính trong khu vực công ở Việt Nam, trong giai đoạn vừa qua, đã tạo được nền tảng của niềm tin xã hội, đồng thời là điều kiện để nâng cấp chất lượng quản trị và năng lực cạnh tranh quốc gia. Thực tiễn cho thấy nỗ lực phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực có kết quả rõ rệt và tiếp tục được đẩy mạnh; đồng thời, các chỉ số dựa trên trải nghiệm người dân phản ánh bức tranh đa chiều, có cải thiện ở một số khía cạnh (giảm báo cáo hối lộ trong dịch vụ, tăng hài lòng hành chính), nhưng mối quan ngại về tham nhũng vẫn cao và minh bạch địa phương có thời điểm suy giảm.
Trong giai đoạn tới, Đảng ta cần tiếp tục hoàn thiện hệ chuẩn đạo đức và cơ chế kiểm soát quyền lực theo các “điểm nóng”, thúc đẩy nêu gương và bảo vệ người dám làm vì lợi ích chung; Nhà nước và các cơ quan quản lý tập trung thể chế hóa liêm chính theo hướng minh bạch hóa quy trình, dữ liệu và trách nhiệm giải trình; tăng năng lực phòng ngừa bằng quản trị rủi ro; và coi chuyển đổi số gắn minh bạch là đòn bẩy nhưng phải đi kèm công bằng số. Việc thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến 2030 cần được gắn chặt với cải cách hành chính, cải cách pháp luật và cải thiện trải nghiệm phục vụ người dân, để niềm tin xã hội được bồi đắp bằng những thay đổi cụ thể, đo lường được trong đời sống hằng ngày./.
TS Phạm Văn Phong, Tạp chí Cộng sản
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả