Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Kiểm soát quyền lực hiệu quả theo tinh thần Đại hội XIV

Ngày đăng: 03/07/2026   10:45
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Bài viết làm rõ nội hàm “kiểm soát quyền lực hiệu quả” theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, đặt trong yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đổi mới quản trị quốc gia. Trên cơ sở phân tích bối cảnh vận hành mô hình quản trị 3 cấp theo cấu trúc Trung ương - cấp tỉnh - cấp xã, trong đó chính quyền địa phương được tổ chức theo 2 cấp, bài viết đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đồng bộ, thực chất, góp phần nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước đến năm 2045.

Từ khóa: Kiểm soát quyền lực; kiểm soát quyền lực hiệu quả; Đại hội XIV; quản trị 3 cấp; chính quyền địa phương 2 cấp; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Abstract: This article clarifies the concept of “effective power control” in accordance with the spirit of the 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam, in connection with Party building and rectification, the improvement of the socialist rule-of-law State, and the renewal of national governance. By analyzing the context of completing the three-level governance model structured around the central, provincial and commune levels, in which local government is organized into two levels, the article proposes orientations and solutions to build a synchronous and substantive mechanism for power control. This mechanism is expected to enhance the performance, effectiveness and efficiency of the political system, contributing to the goal of rapid and sustainable national development toward 2045.

Keywords: power control; effective power control; 14th National Congress; three-level governance; two-level local government; socialist rule-of-law State.

Ảnh minh họa

Đặt vấn đề

Quyền lực nhà nước, xét về bản chất, là quyền lực do Nhân dân ủy quyền, được tổ chức và thực thi thông qua hệ thống cơ quan nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên nền tảng Hiến pháp và pháp luật. Quyền lực đó chỉ chính đáng khi phục vụ Nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tạo lập môi trường phát triển. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, quyền lực có thể bị lạm dụng, bị chi phối bởi lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước, xói mòn niềm tin của Nhân dân và cản trở sự phát triển của đất nước.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025, xác lập nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây là cơ sở hiến định trực tiếp cho việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt vấn đề kiểm soát quyền lực trong một yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn và thực chất hơn. Kiểm soát quyền lực được đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nâng cao năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều quyết sách có tính bước ngoặt: sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện mô hình quản trị 3 cấp theo cấu trúc Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; phân cấp, phân quyền mạnh hơn; thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; xác lập mô hình tăng trưởng mới; phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Bối cảnh đó đặt ra câu hỏi có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc: kiểm soát quyền lực như thế nào để vừa ngăn ngừa lạm quyền, tha hóa quyền lực, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vừa không làm triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ? Yêu cầu hiện nay không chỉ là có cơ chế kiểm soát quyền lực, mà là xây dựng được cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả: kiểm soát đúng mục tiêu, đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm, đúng phương thức và tạo ra kết quả quản trị tốt hơn.

1. Kiểm soát quyền lực hiệu quả theo tinh thần Đại hội XIV

Kiểm soát quyền lực là tổng thể các nguyên tắc, thiết chế, quy định, quy trình, phương thức và hành động nhằm bảo đảm quyền lực được trao đúng, thực thi đúng, giám sát đúng, xử lý đúng và chịu trách nhiệm đúng. Kiểm soát quyền lực không nhằm phủ định hay làm suy yếu quyền lực công, mà nhằm đưa quyền lực vào khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật của Đảng, đạo đức công vụ và sự giám sát của Nhân dân.

Theo tinh thần Đại hội XIV, kiểm soát quyền lực hiệu quả là quá trình kiểm soát quyền lực đạt đồng thời ba mục tiêu: phòng ngừa, ngăn chặn sự tha hóa quyền lực; nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy; bảo đảm quyền lực được sử dụng để phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Cách tiếp cận này khắc phục nhận thức giản đơn coi kiểm soát quyền lực chỉ là phát hiện và xử lý vi phạm sau khi sai phạm đã xảy ra.

Trước hết, kiểm soát quyền lực hiệu quả phải là kiểm soát đúng mục tiêu. Mục tiêu của kiểm soát quyền lực không phải là tạo thêm tầng nấc hành chính, cũng không phải làm chậm quá trình ra quyết định, mà là bảo đảm quyền lực được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, vì phát triển nhanh, bền vững đất nước. Kiểm soát quyền lực chỉ có ý nghĩa khi làm cho quyết định công đúng hơn, minh bạch hơn, chịu trách nhiệm hơn và đem lại kết quả phát triển tốt hơn.

Hai là, kiểm soát quyền lực hiệu quả phải gắn với kiểm soát thẩm quyền và trách nhiệm. Mọi chủ thể quyền lực phải được xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi quyết định, giới hạn can thiệp, cơ chế phối hợp và trách nhiệm giải trình. Quyền hạn càng lớn thì trách nhiệm càng cao; phân cấp, phân quyền càng mạnh thì kiểm tra, giám sát, đo lường kết quả và xử lý trách nhiệm càng phải chặt chẽ. Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đổi mới mô hình tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.

Ba là, kiểm soát quyền lực hiệu quả phải được thực hiện bằng thể chế, quy trình và dữ liệu. Kiểm soát quyền lực không thể chỉ dựa vào phẩm chất cá nhân hoặc sự tự giác đạo đức, dù đây là yếu tố rất quan trọng. Cần kiểm soát bằng pháp luật, quy chế, quy trình công vụ minh bạch, công khai thông tin, dữ liệu số, kiểm toán, thanh tra, kiểm tra, giám sát, hoạt động tư pháp và sự tham gia của Nhân dân.

Bốn là, kiểm soát quyền lực hiệu quả phải được thực hiện từ sớm, từ xa, thường xuyên, liên tục. Kiểm soát không đợi đến khi sai phạm xảy ra mới xử lý, mà phải nhận diện dấu hiệu rủi ro từ khâu xây dựng chính sách, tuyển chọn cán bộ, phân bổ ngân sách, phê duyệt dự án, quản lý đất đai, tài sản công, đầu tư công, mua sắm công, tổ chức thực thi và đánh giá kết quả. Phòng ngừa bao giờ cũng ít tốn kém hơn xử lý hậu quả.

Năm là, kiểm soát quyền lực hiệu quả phải đi đôi với khuyến khích đổi mới, sáng tạo. Kiểm soát quyền lực không được biến thành tâm lý sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, trì trệ. Kiểm soát đúng là làm rõ ranh giới giữa sai phạm vì vụ lợi với rủi ro trong đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; giữa vi phạm nguyên tắc với thử nghiệm chính sách có kiểm chứng; giữa lạm quyền với dám chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật.

Về nền tảng chính trị, kiểm soát quyền lực theo tinh thần Đại hội XIV gắn trực tiếp với xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, kiểm soát quyền lực trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với kiểm soát quyền lực nhà nước và quyền lực trong toàn bộ hệ thống chính trị. Khi quyền lực trong Đảng được kiểm soát tốt, công tác cán bộ trong sạch, nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện nghiêm, kỷ luật Đảng được giữ vững, quyền lực nhà nước có nền tảng chính trị vững chắc để vận hành đúng hướng.

Về nền tảng pháp lý, kiểm soát quyền lực gắn với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi quyền lực phải được tổ chức bằng Hiến pháp, vận hành bằng pháp luật, giới hạn bởi pháp luật và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải được cụ thể hóa bằng cơ chế vận hành thực chất, tránh tình trạng phân công chưa rõ, phối hợp thiếu chặt chẽ, kiểm soát hình thức.

Về yêu cầu tổ chức bộ máy, kiểm soát quyền lực gắn với đổi mới mô hình quản trị quốc gia. Đại hội XIV và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đặt ra yêu cầu vận hành thông suốt chính quyền địa phương 2 cấp, phân định rõ thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị 3 cấp trong cấu trúc Trung ương - cấp tỉnh - cấp xã. Vì vậy, trong bài viết này, cụm từ “quản trị 3 cấp” được sử dụng theo nghĩa ba tầng vận hành quyền lực công trong quản trị quốc gia; không đồng nhất với “chính quyền địa phương 3 cấp” theo mô hình cũ.

Về yêu cầu phát triển, kiểm soát quyền lực gắn với mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để đạt mục tiêu đó, đất nước cần một nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, hiệu quả; một bộ máy hành chính phục vụ, kiến tạo; một hệ thống chính sách ổn định, minh bạch; một môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, công bằng; một đội ngũ cán bộ có năng lực, đạo đức, trách nhiệm. Những yêu cầu ấy phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng kiểm soát quyền lực.

Từ đó có thể khẳng định: kiểm soát quyền lực hiệu quả theo tinh thần Đại hội XIV là sự kết hợp giữa phòng ngừa và xử lý, giữa kỷ luật và khuyến khích, giữa pháp lý và đạo đức công vụ, giữa kiểm soát bên trong và giám sát bên ngoài, giữa yêu cầu liêm chính và yêu cầu phát triển. Đây là cơ sở để nhận diện các vấn đề đặt ra trong vận hành mô hình tổ chức bộ máy mới và đề xuất giải pháp kiểm soát quyền lực trong giai đoạn tới.

2. Kiểm soát quyền lực trong bối cảnh vận hành mô hình quản trị 3 cấp

Tổ chức và vận hành mô hình quản trị 3 cấp theo cấu trúc Trung ương - cấp tỉnh - cấp xã là bước đổi mới quan trọng về tổ chức bộ máy, hướng tới giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn quy trình xử lý công việc, tăng tính chủ động của địa phương và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Điểm cốt lõi của đổi mới này là chuyển mạnh từ quản lý theo tầng nấc sang quản trị theo thẩm quyền, trách nhiệm và kết quả.

Trong mô hình mới, kiểm soát quyền lực cần được nhìn nhận trên ba tuyến quan hệ: giữa Trung ương và địa phương; trong nội bộ chính quyền cấp tỉnh; và ở cấp xã, phường, đặc khu - nơi trực tiếp tiếp xúc với người dân, doanh nghiệp. Mỗi tuyến quan hệ có đặc điểm quyền lực, nguy cơ rủi ro và phương thức kiểm soát khác nhau, nhưng đều phải thống nhất ở nguyên tắc rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ quy trình, rõ kết quả và rõ cơ chế giám sát.

Một là, kiểm soát quyền lực giữa Trung ương và địa phương. Phân cấp, phân quyền là yêu cầu tất yếu để phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của địa phương. Trong điều kiện đất nước phát triển nhanh, quy mô nền kinh tế lớn hơn, yêu cầu xử lý công việc phức tạp hơn, Trung ương không thể và không nên quyết định thay mọi vấn đề cụ thể của địa phương. Trung ương cần tập trung vào hoạch định chiến lược, xây dựng thể chế, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn, kiểm tra, giám sát và điều phối vĩ mô; địa phương cần được trao quyền chủ động trong tổ chức thực hiện, lựa chọn giải pháp phù hợp với đặc thù, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả, hiệu quả và tính hợp pháp của quyết định.

Tuy nhiên, phân quyền nếu không đi kèm kiểm soát có thể dẫn tới hai nguy cơ. Nguy cơ thứ nhất là cục bộ địa phương, tùy tiện trong thực thi, vận dụng chính sách thiếu thống nhất, làm suy giảm kỷ luật, kỷ cương hành chính. Nguy cơ thứ hai là lợi dụng quyền tự chủ để hợp thức hóa lợi ích nhóm, nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, quy hoạch, đầu tư công, tài chính - ngân sách, đấu thầu, tài sản công và tổ chức cán bộ.

Do đó, kiểm soát quyền lực giữa Trung ương và địa phương phải chuyển từ tiền kiểm hành chính nặng nề sang kiểm soát bằng thể chế, tiêu chuẩn, dữ liệu, hậu kiểm và đánh giá kết quả. Trung ương không ôm việc của địa phương, nhưng phải kiểm soát được rủi ro thể chế, rủi ro tài chính, rủi ro pháp lý, rủi ro tham nhũng, lãng phí và rủi ro phát triển không bền vững.

Hai là, kiểm soát quyền lực trong nội bộ chính quyền cấp tỉnh. Trong mô hình tổ chức mới, cấp tỉnh giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là cấp trực tiếp chuyển hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành chương trình, kế hoạch, dự án và kết quả phát triển cụ thể. Khi không còn cấp huyện là một cấp chính quyền địa phương, nhiều nhiệm vụ quản lý phát triển tập trung hơn vào cấp tỉnh và cấp xã. Điều đó đòi hỏi kiểm soát quyền lực ở cấp tỉnh phải được thiết kế chặt chẽ hơn, nhất là đối với người đứng đầu, tập thể lãnh đạo, cơ quan tham mưu và các lĩnh vực có nguy cơ cao.

Kiểm soát quyền lực ở cấp tỉnh cần tập trung vào bốn nhóm quyền lực chủ yếu: quyền quyết định chủ trương phát triển; quyền phân bổ nguồn lực; quyền tổ chức cán bộ; quyền thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Nếu những nhóm quyền lực này không được kiểm soát thực chất, địa phương có thể phát triển nhanh về hình thức nhưng tiềm ẩn rủi ro về sai phạm, thất thoát, lãng phí, bất bình đẳng, khiếu kiện và suy giảm niềm tin xã hội.

Cơ chế kiểm soát ở cấp tỉnh phải gắn với trách nhiệm giải trình của tập thể lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu. Mọi quyết định lớn về quy hoạch, đầu tư công, quản lý đất đai, tài sản công, ngân sách, tổ chức cán bộ phải có căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn, quy trình thẩm định độc lập, mức độ công khai phù hợp và cơ chế kiểm tra sau quyết định. Không thể để tình trạng quyền lực tập trung nhưng trách nhiệm phân tán; tập thể quyết định nhưng không rõ cá nhân chịu trách nhiệm; phân quyền mạnh nhưng thiếu chỉ số đánh giá kết quả.

Ba là, kiểm soát quyền lực ở cấp xã, phường, đặc khu. Đây là nơi quyền lực nhà nước tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên nhất với người dân và doanh nghiệp. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã không chỉ thực hiện các thủ tục hành chính thông thường, mà còn đảm nhận nhiều nhiệm vụ quản lý dân cư, đất đai, trật tự xây dựng, an sinh xã hội, hòa giải cơ sở, tiếp công dân, giải quyết kiến nghị và cung ứng dịch vụ công. Vì vậy, kiểm soát quyền lực ở cấp xã phải được coi là tuyến đầu của kiểm soát quyền lực.

Đặc điểm của quyền lực cấp cơ sở là gần dân, sát dân, nhưng cũng dễ phát sinh quan hệ thân quen, nể nang, cục bộ, thỏa thuận không chính thức. Nếu thiếu cơ chế công khai, minh bạch, số hóa quy trình, giám sát cộng đồng và trách nhiệm giải trình rõ ràng, quyền lực cấp cơ sở có thể bị lạm dụng trong những việc tưởng nhỏ nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.

Kiểm soát quyền lực ở cấp xã cần chuyển mạnh từ quản lý bằng kinh nghiệm sang quản trị bằng quy trình, dữ liệu và chuẩn mực phục vụ. Mọi thủ tục liên quan đến người dân, doanh nghiệp phải có thời hạn rõ, trách nhiệm rõ, phí và lệ phí rõ, kết quả xử lý rõ, kênh phản ánh rõ, cơ chế xin lỗi và khắc phục rõ. Đây là điều kiện để chính quyền địa phương 2 cấp thật sự gần dân, phục vụ dân, chịu sự giám sát của dân.

3. Những yêu cầu đặt ra trong kiểm soát quyền lực hiệu quả  

Mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao đặt Việt Nam trước yêu cầu phải chuyển từ quản lý hành chính truyền thống sang quản trị phát triển hiện đại. Trong điều kiện đó, kiểm soát quyền lực cần đáp ứng năm yêu cầu cơ bản sau đây.

Thứ nhất, bảo đảm quyền lực được kiểm soát nhưng không bị ách tắc. Một nền quản trị tốt không chỉ ngăn chặn sai phạm, mà còn thúc đẩy quyết định đúng, kịp thời, hiệu quả. Nếu kiểm soát quyền lực được hiểu giản đơn là tăng thêm thủ tục, tăng thêm phê duyệt, tăng thêm tầng nấc xin ý kiến, quá trình phát triển có thể chậm lại và đội ngũ cán bộ dễ rơi vào tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm. Kiểm soát quyền lực hiệu quả phải phân biệt rõ kiểm soát với cản trở, thận trọng với trì trệ, chặt chẽ với hình thức, trách nhiệm với đùn đẩy.

Muốn vậy, phải thiết kế cơ chế kiểm soát dựa trên rủi ro. Những lĩnh vực, dự án, quyết định có rủi ro cao về thất thoát, tham nhũng, tác động xã hội lớn thì phải kiểm soát chặt hơn, nhiều lớp hơn. Những công việc thường xuyên, ít rủi ro, đã được chuẩn hóa thì cần đơn giản hóa quy trình, tăng hậu kiểm, giảm tiền kiểm, ứng dụng công nghệ để giám sát tự động.

Thứ hai, bảo đảm kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ là then chốt của then chốt. Mọi cơ chế kiểm soát quyền lực cuối cùng đều được vận hành bởi con người cụ thể. Nếu công tác cán bộ bị chi phối bởi chạy chức, chạy quyền, thân hữu, cục bộ, lợi ích nhóm, thì cơ chế kiểm soát dù chặt chẽ trên giấy cũng khó phát huy tác dụng trong thực tiễn.

Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ phải bao quát toàn bộ quy trình: phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, cho từ chức. Trọng tâm là chống chạy chức, chạy quyền; đồng thời bảo vệ cán bộ có năng lực, liêm chính, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đánh giá cán bộ cần chuyển mạnh từ nhận xét định tính sang đo lường bằng sản phẩm, kết quả, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp, chất lượng thực thi nhiệm vụ, khả năng đổi mới sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn. Đánh giá đúng cán bộ là điều kiện để giao quyền đúng, kiểm soát quyền lực đúng và sử dụng quyền lực có hiệu quả.

Thứ ba, bảo đảm kiểm soát quyền lực trong quản lý nguồn lực phát triển. Để đạt mục tiêu năm 2045, Việt Nam phải huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực rất lớn: đất đai, tài chính công, đầu tư công, tài sản công, tài nguyên, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao, khoa học - công nghệ, nguồn lực xã hội và nguồn lực quốc tế. Quyền lực trong phân bổ nguồn lực là quyền lực có nguy cơ cao về lợi ích nhóm, thất thoát, lãng phí, tham nhũng.

Vì vậy, kiểm soát quyền lực trong quản lý nguồn lực phải dựa trên ba trụ cột: công khai, cạnh tranh và giải trình. Công khai để xã hội biết và giám sát; cạnh tranh để giảm xin - cho, giảm đặc quyền, đặc lợi; giải trình để mọi quyết định phân bổ nguồn lực đều có căn cứ, có người chịu trách nhiệm, có cơ chế kiểm tra, đánh giá sau thực hiện.

Thứ tư, bảo đảm kiểm soát quyền lực trong môi trường số. Chuyển đổi số vừa tạo công cụ mới để kiểm soát quyền lực, vừa làm phát sinh hình thức quyền lực mới: quyền lực dữ liệu. Khi thủ tục hành chính, dịch vụ công, quản lý dân cư, đất đai, tài chính, y tế, giáo dục, an sinh xã hội được số hóa, dữ liệu trở thành tài sản công đặc biệt quan trọng. Chủ thể nắm giữ, khai thác và kết nối dữ liệu có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định quản lý, phân bổ nguồn lực, tiếp cận dịch vụ và quyền lợi của người dân.

Do đó, kiểm soát quyền lực trong môi trường số phải bao gồm kiểm soát việc thu thập, chia sẻ, khai thác, bảo vệ và sử dụng dữ liệu công. Cần ngăn ngừa cả hai xu hướng: độc quyền dữ liệu trong khu vực công gây khép kín, thiếu minh bạch; và thương mại hóa, lạm dụng dữ liệu công trái pháp luật gây tổn hại quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Thứ năm, bảo đảm Nhân dân là chủ thể giám sát quyền lực. Kiểm soát quyền lực chỉ hiệu quả khi Nhân dân có điều kiện thực chất để giám sát quyền lực. Sự giám sát đó được thực hiện thông qua bầu cử, tiếp xúc cử tri, phản ánh kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, báo chí, truyền thông, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, cộng đồng dân cư và các nền tảng số.

Muốn Nhân dân giám sát được quyền lực, phải công khai thông tin theo hướng dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ kiểm tra; bảo vệ người phản ánh, tố cáo, đấu tranh chống tiêu cực; xử lý kịp thời phản ánh của Nhân dân; coi mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp là một thước đo quan trọng về hiệu quả kiểm soát quyền lực.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực theo tinh thần Đại hội XIV

Một là, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực đồng bộ, thống nhất. Trước hết, cần tiếp tục thể chế hóa đầy đủ nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cần làm rõ hơn cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước; giữa cơ quan dân cử với cơ quan hành chính; giữa cơ quan tư pháp với các chủ thể thực thi quyền lực; giữa Trung ương và địa phương; giữa cấp tỉnh và cấp xã; giữa người đứng đầu và tập thể lãnh đạo.

Thể chế kiểm soát quyền lực phải khắc phục tình trạng vừa chồng chéo, vừa bỏ trống. Chồng chéo làm giảm hiệu quả, gây đùn đẩy trách nhiệm; bỏ trống tạo khoảng mờ để lạm quyền. Mỗi quyền hạn được giao phải đi kèm một cơ chế kiểm soát tương ứng; mỗi cơ chế kiểm soát phải xác định rõ chủ thể kiểm soát, nội dung kiểm soát, phương thức kiểm soát, hậu quả pháp lý và trách nhiệm xử lý.

Hai là, kiểm soát quyền lực của người đứng đầu. Người đứng đầu có vai trò quyết định trong tổ chức thực thi quyền lực. Nếu người đứng đầu liêm chính, có năng lực, dám chịu trách nhiệm, bộ máy có điều kiện vận hành thông suốt. Nếu người đứng đầu lạm quyền, né tránh trách nhiệm hoặc để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thì cơ quan, đơn vị khó có thể trong sạch, hiệu quả.

Kiểm soát quyền lực người đứng đầu cần tập trung vào ba phương diện: quyền quyết định nhân sự, tài chính, tài sản, dự án, quy hoạch, chính sách; trách nhiệm nêu gương, đạo đức công vụ, quan hệ lợi ích, tài sản, thu nhập; kết quả thực hiện nhiệm vụ, mức độ hoàn thành cam kết, chất lượng phục vụ Nhân dân, năng lực xử lý vấn đề phát sinh. Cần thực hiện nghiêm cơ chế người đứng đầu chịu trách nhiệm khi để xảy ra sai phạm nghiêm trọng trong phạm vi quản lý; đồng thời bảo vệ người đứng đầu dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm, không vụ lợi, hành động vì lợi ích chung.

Ba là, đổi mới kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán theo hướng phòng ngừa. Kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán là các công cụ quan trọng của kiểm soát quyền lực. Để hiệu quả hơn, các công cụ này cần chuyển mạnh từ phát hiện sau sai phạm sang cảnh báo, phòng ngừa rủi ro. Cần xây dựng hệ thống chỉ báo rủi ro trong các lĩnh vực nhạy cảm; áp dụng kiểm toán hoạt động, kiểm toán hiệu quả, kiểm toán môi trường, kiểm toán dữ liệu; tăng cường giám sát thường xuyên thông qua nền tảng số.

Đồng thời, cần kết nối dữ liệu giữa thanh tra, kiểm toán, kiểm tra Đảng, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và quản lý cán bộ. Khi dữ liệu được liên thông, dấu hiệu bất thường về tài sản, ngân sách, đấu thầu, đất đai, đầu tư công, bổ nhiệm cán bộ có thể được phát hiện sớm hơn, qua đó giảm chi phí xử lý hậu quả.

Bốn là, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Công khai, minh bạch là điều kiện cơ bản để kiểm soát quyền lực. Không công khai thì Nhân dân không thể giám sát; không minh bạch thì trách nhiệm bị che khuất; không giải trình thì quyền lực dễ trở thành đặc quyền.

Cần mở rộng công khai đối với các nội dung có tác động lớn đến người dân và doanh nghiệp: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ngân sách, đầu tư công, đấu thầu, tuyển dụng công chức, bổ nhiệm cán bộ, thủ tục hành chính, kết quả giải quyết kiến nghị, kết luận thanh tra, kiểm toán, xử lý trách nhiệm sau thanh tra, kiểm tra. Công khai phải đi liền với khả năng tiếp cận thực chất; thông tin công khai nhưng khó hiểu, khó tìm, khó kiểm chứng thì chưa phải minh bạch đúng nghĩa.

Trách nhiệm giải trình cần được coi là nghĩa vụ thường xuyên của cơ quan công quyền. Mỗi quyết định hành chính, mỗi chính sách, mỗi dự án công, mỗi khoản chi ngân sách đều phải có căn cứ, mục tiêu, người chịu trách nhiệm, tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra sau thực hiện.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong kiểm soát quyền lực. Chuyển đổi số tạo điều kiện để kiểm soát quyền lực theo thời gian thực, giảm tiếp xúc trực tiếp, hạn chế xin - cho, tăng khả năng truy vết trách nhiệm. Cần xây dựng các hệ thống quản trị số trong giải quyết thủ tục hành chính, quản lý đầu tư công, mua sắm công, đất đai, tài sản công, ngân sách, cán bộ, tiếp công dân, xử lý đơn thư, phản ánh hiện trường.

Mỗi hồ sơ công vụ cần có mã số, thời hạn, trạng thái xử lý, cán bộ phụ trách, kết quả, phản hồi của người dân. Mỗi quyết định điều chỉnh quy hoạch, phê duyệt dự án, lựa chọn nhà thầu, giao đất, cho thuê đất, bổ nhiệm cán bộ cần để lại dấu vết số. Khi mọi thao tác quyền lực đều có thể truy vết, không gian tùy tiện, trì hoãn, nhũng nhiễu sẽ bị thu hẹp.

Tuy nhiên, chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa kiểm soát quyền lực khi dữ liệu đúng, quy trình đúng, người vận hành đúng và quyền tiếp cận thông tin được bảo đảm. Nếu số hóa một quy trình thiếu minh bạch, thì chỉ là số hóa sự thiếu minh bạch. Vì vậy, chuyển đổi số phải đi cùng cải cách thể chế, chuẩn hóa quy trình và nâng cao đạo đức công vụ.

Sáu là, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và xã hội. Kiểm soát quyền lực hiệu quả phải kết hợp giữa kiểm soát bên trong hệ thống với giám sát từ bên ngoài. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần được tạo điều kiện thực chất hơn để thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Báo chí cần phát huy vai trò phát hiện, phản ánh, đấu tranh với sai phạm, đồng thời lan tỏa các mô hình tốt, cách làm hay, gương cán bộ liêm chính, tận tụy.

Cần hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị của người dân, doanh nghiệp; bảo vệ người tố cáo, người phản ánh tiêu cực; xử lý nghiêm hành vi trù dập, gây khó dễ đối với người giám sát. Ở cấp cơ sở, cần phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong giám sát công trình, dự án, ngân sách, chính sách an sinh, đất đai, môi trường, trật tự xây dựng.

Bảy là, xây dựng văn hóa liêm chính và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức. Thể chế kiểm soát quyền lực dù chặt chẽ đến đâu cũng không thể thay thế hoàn toàn văn hóa liêm chính. Một nền công vụ trong sạch cần những cán bộ biết tự trọng, biết liêm sỉ, biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, biết trọng danh dự và biết chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, Nhân dân.

Cùng với hoàn thiện pháp luật, cần xây dựng văn hóa không tham nhũng, không lãng phí, không quan liêu, không vô cảm. Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức công vụ phải gắn với tình huống thực tiễn, trách nhiệm nêu gương, đánh giá cán bộ, khen thưởng và kỷ luật. Cán bộ liêm chính, tận tụy, sáng tạo phải được ghi nhận, bảo vệ và trọng dụng; cán bộ suy thoái, cơ hội, vụ lợi phải bị sàng lọc, thay thế kịp thời.

5. Kết luận

Kiểm soát quyền lực hiệu quả theo tinh thần Đại hội XIV là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản trị quốc gia và thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045. Trong bối cảnh vận hành mô hình quản trị 3 cấp theo cấu trúc Trung ương - cấp tỉnh - cấp xã, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, phân cấp, phân quyền mạnh hơn, chuyển đổi số sâu rộng hơn, kiểm soát quyền lực phải được nhận thức không chỉ là công cụ phòng, chống lạm quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, mà còn là phương thức bảo đảm cho quyền lực được vận hành đúng hướng, đúng pháp luật, đúng trách nhiệm và tạo ra hiệu quả phát triển.

Kiểm soát quyền lực hiệu quả phải dựa trên sự kết hợp đồng bộ giữa kiểm soát trong Đảng, kiểm soát của Nhà nước, giám sát của Nhân dân, giám sát xã hội, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, tư pháp, báo chí, dữ liệu số và văn hóa liêm chính. Trọng tâm là kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, trong phân bổ nguồn lực, trong hoạt động của người đứng đầu, trong vận hành chính quyền cấp tỉnh và cấp xã, trong quản lý dữ liệu và trong tổ chức thực thi chính sách.

Tinh thần Đại hội XIV đặt ra yêu cầu rất rõ: bộ máy phải tinh, gọn, mạnh; hoạt động phải hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; cán bộ phải có đức, có tài, có uy tín; Nhà nước phải quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển; quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ; Nhân dân phải được phát huy quyền làm chủ. Thực hiện tốt các yêu cầu đó là điều kiện căn bản để củng cố niềm tin của Nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc vào năm 2045.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 06/02/2026.

3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 06/02/2026.

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

5. Bộ Chính trị. Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

6. Bộ Chính trị. Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

7. Bộ Chính trị. Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

8. Bộ Chính trị. Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.

9. Bộ Chính trị. Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

10. Quốc hội. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15.

11. Quốc hội. Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025.

TS Nguyễn Đức Thắng, Học viện Hành chính và Quản trị công

Bài viết cùng tác giả