Từ khóa: Chính quyền địa phương 2 cấp; cán bộ cấp xã; sắp xếp đội ngũ; Đồng bằng sông Cửu Long; bài học kinh nghiệm.
Abstract: After one year of operating under the two-tier local government model, localities in the Mekong Delta have concurrently reorganized administrative units, consolidated organizational structures, and restructured the commune-level cadre workforce. In practice, the commune level has become the frontline tier responsible for receiving an expanded range of functions, powers, and administrative dossiers following the termination of district-level operations. This has generated new requirements regarding implementation capacity, job-position structures, resource allocation, digital infrastructure, and supporting policies. Based on an assessment of the achievements, difficulties, and bottlenecks in the deployment, utilization, training, professional development, and reassignment of cadres, the article draws several lessons to improve the effectiveness of restructuring the commune-level cadre workforce in the Mekong Delta in the coming period.
Keywords: Two-tier local government; commune-level cadres; workforce restructuring; Mekong Delta; lessons learned.
Ảnh minh họa.
1. Đặt vấn đề
Việc sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là chủ trương lớn, có tác động trực tiếp đến phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành của hệ thống chính trị ở địa phương. Đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, quá trình này diễn ra trong bối cảnh không gian hành chính, không gian phát triển và yêu cầu quản trị địa phương có nhiều thay đổi căn bản. Các tỉnh, thành phố trong vùng sau sắp xếp đều có quy mô địa bàn rộng hơn, dân số đông hơn, đặc điểm dân cư, dân tộc, tôn giáo, đô thị, nông thôn, biên giới, biển đảo đan xen; đồng thời phải vận hành mô hình cấp tỉnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn, kiểm tra cấp xã.
Trong mô hình mới, cấp xã không còn là cấp hành chính cơ sở theo nghĩa truyền thống, mà trở thành cấp trực tiếp thực thi nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công, xử lý thủ tục hành chính, bảo đảm an sinh xã hội... Do đó, chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã là nhân tố quyết định hiệu quả vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Sắp xếp tổ chức bộ máy chỉ thật sự thành công khi đi liền với sắp xếp đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng địa bàn và có cơ chế đánh giá bằng kết quả phục vụ Nhân dân.
Từ báo cáo sơ kết của các địa phương trong vùng có thể thấy, công tác sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ không ít khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ. Việc đánh giá thực tiễn và rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai là cơ sở quan trọng để các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
2. Thực tiễn sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã tại các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long
2.1. Cấp xã giữ vai trò trung tâm trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
Sau sắp xếp, vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 05 đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm thành phố Cần Thơ và các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cà Mau. Các địa phương đều giảm mạnh số lượng đơn vị hành chính cấp xã, đồng thời mở rộng quy mô quản lý của từng xã, phường, đặc khu. Cần Thơ còn 103 xã, phường; An Giang có 12 xã, phường, đặc khu; Đồng Tháp có 12 xã, phường; Vĩnh Long có 124 xã, phường; Cà Mau có 64 xã, phường. Đây là sự thay đổi rất lớn về địa bàn quản lý, phương thức điều hành và yêu cầu bố trí đội ngũ.
Khi cấp huyện kết thúc hoạt động, nhiều nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền, ủy quyền hoặc chuyển giao về cấp xã. Các lĩnh vực có áp lực lớn gồm đất đai, xây dựng, tài chính - ngân sách, tư pháp - hộ tịch, nội vụ, bảo trợ xã hội, chuyển đổi số, phục vụ hành chính công... Vì vậy, đội ngũ cán bộ cấp xã phải chuyển từ trạng thái “làm theo chức năng truyền thống” sang “xử lý nhiệm vụ tổng hợp, liên ngành, đa lĩnh vực, có yêu cầu chuyên môn và trách nhiệm pháp lý cao hơn”.
Thực tiễn cho thấy, việc sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã cần được thực hiện trên cơ sở đặc điểm, quy mô và yêu cầu quản lý của từng địa bàn, thay vì áp dụng cứng nhắc theo chỉ tiêu biên chế bình quân. Sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội, dân cư và khối lượng công việc đòi hỏi cách tiếp cận linh hoạt trong bố trí, sử dụng cán bộ.
2.2. Tập trung rà soát, bố trí, điều động, tăng cường cán bộ cho cấp xã
Một kết quả nổi bật trong sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là các địa phương đã chủ động rà soát, bố trí lại cán bộ, công chức, viên chức theo mô hình tổ chức mới, bảo đảm bộ máy vận hành liên tục, không gián đoạn hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành và phục vụ nhân dân. Trọng tâm của quá trình này là cơ cấu lại đội ngũ theo vị trí việc làm, lĩnh vực chuyên môn, khối lượng nhiệm vụ và đặc thù địa bàn.
Tại Cần Thơ, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có 8.464 người và 34.475 viên chức. Về trình độ chuyên môn, trong số cán bộ, công chức có 06 tiến sĩ, 1.363 thạc sĩ và 6.902 người có trình độ đại học; đối với viên chức có 01 tiến sĩ, 1.988 thạc sĩ và 27.853 người có trình độ đại học. Thành phố đã bố trí đội ngũ theo các trục vận hành của hệ thống chính trị cấp xã, đồng thời điều động, luân chuyển, biệt phái cán bộ về cơ sở, ưu tiên các lĩnh vực có nhu cầu cấp thiết như nông nghiệp và môi trường, tài chính, khoa học và công nghệ, xây dựng, giáo dục, văn hóa, y tế, tư pháp.
Tại An Giang, do đặc thù địa bàn rộng, dân số hơn 5,1 triệu người, có biên giới, biển, đảo, đặc khu, cửa khẩu, đô thị, nông thôn và vùng đồng bào dân tộc, tỉnh đã rà soát, bố trí cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với mô hình tổ chức mới, bảo đảm không gián đoạn hoạt động của cơ quan, đơn vị và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Tại Vĩnh Long, khối chính quyền địa phương cấp xã được giao 7.513 biên chế cán bộ, công chức và 36.989 biên chế viên chức; khối HĐND cấp xã hiện có 371 cán bộ, công chức; khối UBND cấp xã có 4.670 cán bộ, công chức và 38.211 viên chức. Tỉnh đã điều động, chuyển công tác công chức, viên chức từ sở, ngành về xã, phường; tiếp nhận người hoạt động không chuyên trách vào làm công chức; điều chuyển nhân sự y tế, khuyến nông về cấp xã để bố trí cho các đơn vị sự nghiệp, qua đó gắn sắp xếp cán bộ hành chính với chuyển nguồn lực dịch vụ công về cơ sở.
Tại Cà Mau, toàn tỉnh có 35.391 cán bộ, công chức, viên chức; riêng cấp xã có khoảng 26.651 người, gồm 4.186 cán bộ, công chức và 22.465 viên chức. Trong đó, khối Đảng cấp xã có 1.178 người, khối HĐND có 261 người, khối UBND có 24.583 người, khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có 629 người. Quy mô này cho thấy cấp xã đảm nhiệm khối lượng công việc lớn. Tuy nhiên, tỉnh cũng chỉ rõ chất lượng đội ngũ chưa đồng đều, còn tình trạng kiêm nhiệm, thiếu nhân lực chuyên sâu về công nghệ thông tin, an toàn thông tin.
Tại Đồng Tháp, việc sắp xếp, bố trí cán bộ được gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ. Tỉnh chú trọng công tác chính trị, tư tưởng, đối thoại, nắm bắt dư luận xã hội; đồng thời kiểm điểm, đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân, đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý làm căn cứ tiếp tục định hướng, sắp xếp, bố trí cán bộ trong thời gian tới.
Nhìn chung, thực tiễn các địa phương cho thấy sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã không chỉ là bố trí lại con người sau sáp nhập, mà là quá trình cơ cấu lại năng lực thực thi của cấp cơ sở. Kết quả bước đầu góp phần ổn định tổ chức, bảo đảm hoạt động thông suốt; đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục điều chỉnh cơ cấu đội ngũ theo vị trí việc làm, khối lượng công việc, đặc thù địa bàn và năng lực phục vụ nhân dân.
2.3. Đào tạo, bồi dưỡng - giải pháp then chốt để nâng cao năng lực thực thi công vụ
Một trong những vấn đề nổi lên sau sắp xếp là khoảng cách giữa trình độ đào tạo và năng lực thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ cấp xã. Mặc dù nhiều cán bộ có bằng cấp chuyên môn tương đối cao, song việc tiếp cận và xử lý các nhiệm vụ mới vẫn còn những hạn chế, nhất là đối với các lĩnh vực chuyên ngành, ứng dụng công nghệ số, quản lý dữ liệu, điều hành công việc và phối hợp liên ngành.
Các địa phương đã nhận diện rõ yêu cầu này và tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã. Cần Thơ đã tổ chức nhiều nhóm lớp, chương trình bồi dưỡng, tập huấn với quy mô lớn, tập trung vào cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã, cấp ủy viên, cán bộ tham mưu công tác xây dựng Đảng, công chức, viên chức trực tiếp xử lý nhiệm vụ ở cơ sở. Nội dung bồi dưỡng hướng mạnh vào kỹ năng thực thi như lãnh đạo, quản lý cấp xã; công tác xây dựng Đảng; chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo; soạn thảo văn bản; quản trị sự thay đổi; kiểm soát thủ tục hành chính; cơ chế một cửa, một cửa liên thông; nội vụ, tư pháp, tiếp công dân, xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo...
Vĩnh Long cũng ban hành kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức xã, phường sau sắp xếp; đồng thời quan tâm đào tạo sau đại học, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm cho cán bộ, công chức, viên chức. Trong năm 2025, tỉnh đã cử hàng trăm cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo chuyên môn và hàng chục nghìn lượt đi bồi dưỡng, trong đó có các nội dung về lý luận chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, bồi dưỡng theo vị trí việc làm, chuyên môn nghiệp vụ, quốc phòng - an ninh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Đồng Tháp chú trọng công tác chính trị, tư tưởng gắn với trách nhiệm cán bộ, đảng viên, văn hóa liêm chính và phương thức đối thoại trực tiếp. Việc tổ chức hội nghị sinh hoạt chính trị, tư tưởng theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, tạo điều kiện để đại biểu trao đổi, đối thoại thẳng thắn với báo cáo viên, lãnh đạo tỉnh và một số bí thư đảng ủy cấp xã, phường là cách làm có giá trị. Qua đó, không chỉ trang bị nhận thức mà còn giải tỏa tâm tư, thống nhất hành động, khơi dậy trách nhiệm và tinh thần đổi mới trong đội ngũ cán bộ cơ sở.
2.4. Giải quyết chế độ, chính sách và ổn định tư tưởng cán bộ
Sắp xếp đội ngũ cán bộ không chỉ là vấn đề tổ chức bộ máy và còn tác động trực tiếp đến tâm tư, nguyện vọng, điều kiện làm việc và động lực cống hiến của cán bộ. Trong giai đoạn chuyển tiếp, nhiều cán bộ phải thay đổi vị trí công tác, địa bàn làm việc hoặc đảm nhiệm những nhiệm vụ mới với yêu cầu cao hơn, từ đó phát sinh những băn khoăn, áp lực nhất định.
Thực tiễn tại các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, nơi nào thực hiện tốt công tác chính trị, tư tưởng, công khai phương án sắp xếp và kịp thời giải quyết các chế độ, chính sách thì nơi đó đội ngũ cán bộ ổn định nhanh hơn và tạo được sự đồng thuận cao hơn. Các địa phương như Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cà Mau đều chú trọng tuyên truyền, nắm bắt tâm tư, định hướng dư luận và động viên cán bộ trong quá trình chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Bên cạnh công tác tư tưởng, việc giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức chịu tác động từ quá trình sắp xếp có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và hiệu quả hoạt động của bộ máy. Mặc dù một số địa phương đã quan tâm hỗ trợ điều kiện làm việc, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ công tác, song vẫn còn những khó khăn liên quan đến tiền lương, phụ cấp, hỗ trợ đi lại, nơi ở và chính sách đối với cán bộ được điều động đến địa bàn xa hoặc khó khăn.
2.5. Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Qua báo cáo của các địa phương, có thể khái quát một số khó khăn, vướng mắc chung trong sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Trước hết, tình trạng mất cân đối về cơ cấu đội ngũ vẫn còn tồn tại. Có nơi đủ số lượng nhưng thiếu cán bộ đúng chuyên môn; có nơi thiếu cán bộ xử lý lĩnh vực khó như đất đai, xây dựng, tài chính, tư pháp, hộ tịch, công nghệ thông tin; có nơi cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công việc.
Bên cạnh đó, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh và định mức biên chế chưa thật sự theo kịp mô hình mới. Khối lượng công việc tăng lên đáng kể sau khi cấp xã tiếp nhận thêm nhiều nhiệm vụ từ cấp huyện, trong khi cơ cấu tổ chức và biên chế chưa được điều chỉnh tương ứng.
Năng lực thực thi công vụ giữa các địa bàn cũng còn chênh lệch. Sự khác biệt về trình độ chuyên môn, kỹ năng số, kinh nghiệm quản lý và khả năng phối hợp liên ngành thể hiện rõ hơn ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển hoặc vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
Ngoài ra, hạ tầng số, dữ liệu và các phần mềm chuyên ngành chưa đồng bộ; điều kiện cơ sở vật chất, trụ sở làm việc ở một số nơi còn hạn chế. Cùng với đó, việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ sau sắp xếp vẫn còn những bất cập, nhất là đối với cán bộ được điều động đến địa bàn khó khăn hoặc phải đảm nhiệm khối lượng công việc lớn hơn trước.
3. Bài học kinh nghiệm trong sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Một là, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, trực tiếp của cấp ủy đảng và trách nhiệm người đứng đầu. Sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã là nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến tổ chức bộ máy, con người, tâm tư cán bộ và hiệu quả phục vụ nhân dân. Do đó, phải được đặt dưới sự lãnh đạo xuyên suốt của cấp ủy đảng, sự chỉ đạo của chính quyền và sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Thực tiễn cho thấy, việc tăng cường kiểm tra, giám sát, duy trì cơ chế phối hợp và kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở là yếu tố quan trọng bảo đảm mô hình chính quyền địa phương 2 cấp vận hành hiệu quả.
Hai là, sắp xếp cán bộ phải gắn chặt với vị trí việc làm, khối lượng công việc và đặc thù địa bàn. Việc bố trí cán bộ cấp xã phải chuyển từ tư duy “đủ số lượng” sang “đúng người, đúng việc, đúng năng lực, đúng địa bàn”. Những đơn vị cấp xã có dân số đông, địa bàn rộng, hồ sơ hành chính lớn, nhiều vấn đề về đất đai, xây dựng, an sinh xã hội, dân tộc, tôn giáo, biên giới, biển đảo cần có cơ cấu cán bộ phù hợp với yêu cầu quản trị thực tế.
Ba là, điều động, luân chuyển, biệt phái cán bộ cần đảm bảo cân đối về cơ cấu chuyên môn. Việc tăng cường cán bộ không chỉ nhằm bổ sung số lượng mà quan trọng hơn là khắc phục sự mất cân đối về cơ cấu chuyên môn, bảo đảm đúng người, đúng việc và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cấp xã.
Bốn là, đào tạo, bồi dưỡng phải chuyển mạnh sang bồi dưỡng theo vị trí việc làm và năng lực thực thi. Công tác bồi dưỡng cần giảm tính dàn trải, tăng nội dung thực hành theo hồ sơ thật, tình huống thật, quy trình thật; chú trọng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cơ sở, xử lý thủ tục hành chính, giao tiếp với nhân dân, phối hợp liên ngành, sử dụng phần mềm, dữ liệu số, dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm an toàn thông tin.
Năm là, kết hợp sắp xếp đội ngũ với ổn định tư tưởng, chăm lo chính sách và tạo động lực cống hiến. Cấp ủy, chính quyền cần công khai phương án bố trí, tăng cường đối thoại, lắng nghe tâm tư, giải thích rõ yêu cầu nhiệm vụ, kịp thời giải quyết chế độ, chính sách; đồng thời quan tâm điều kiện làm việc, nhà công vụ, hỗ trợ đi lại đối với cán bộ được điều động xa nơi cư trú hoặc về địa bàn khó khăn. Đối với người hoạt động không chuyên trách, cần phân loại rõ để bố trí, sử dụng hoặc giải quyết chính sách phù hợp.
Sáu là, phân cấp, phân quyền cho cấp xã phải đi đôi với nguồn lực, hướng dẫn và kiểm soát quyền lực. Phân cấp phải gắn với biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, hạ tầng số, dữ liệu, phần mềm, hướng dẫn nghiệp vụ và cơ chế hỗ trợ chuyên môn thường xuyên từ cấp tỉnh. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát theo hướng cảnh báo sớm điểm nghẽn, hướng dẫn ngay từ quá trình vận hành, nhất là ở các lĩnh vực có rủi ro pháp lý cao.
Bảy là, lấy chuyển đổi số và dữ liệu làm công cụ nâng cao năng lực đội ngũ cấp xã. Cần đẩy mạnh đầu tư hạ tầng số, dữ liệu và các nền tảng dùng chung; đồng thời tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu để nâng cao hiệu quả giải quyết công việc và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Tám là, tăng cường liên kết, chia sẻ kinh nghiệm trong toàn vùng. Với nhiều đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần đẩy mạnh trao đổi kinh nghiệm trong sắp xếp, bố trí, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ cấp xã. Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa tinh gọn, vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
***
Thực tiễn sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã tại các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua cho thấy, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao tính chủ động của cơ sở và chất lượng phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, hiệu quả vận hành của mô hình này phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, năng lực và cơ cấu đội ngũ cán bộ cấp xã.
Bài học bao trùm là sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp xã phải được thực hiện đồng bộ giữa đổi mới tổ chức bộ máy, hoàn thiện vị trí việc làm, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường chuyển đổi số và bảo đảm chế độ, chính sách phù hợp. Trong thời gian tới, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần tiếp tục cơ cấu lại đội ngũ cán bộ cấp xã có phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở, góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của vùng trong giai đoạn mới./.
-------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, Báo cáo sơ kết 01 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.
2. Thành ủy Cần Thơ, Báo cáo số 324-BC/TU ngày 04/6/2026 về Sơ kết 01 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị thành phố, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
3. Tỉnh ủy Vĩnh Long, Báo cáo số 255-BC/TU ngày 04/6/2026 về Sơ kết vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.
4. Tỉnh ủy Đồng Tháp, Báo cáo số 221-BC/TU ngày 03/6/2026 về Sơ kết vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.
5. Tỉnh ủy Cà Mau, Báo cáo số 228-BC/TU ngày 29/5/2026 về Sơ kết vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.
6. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 1668/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Cần Thơ năm 2025, Hà Nội.
7. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 1654/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh An Giang năm 2025, Hà Nội.
8. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 1663/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đồng Tháp năm 2025, Hà Nội.
9. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 1687/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Vĩnh Long năm 2025, Hà Nội.
10. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 1655/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Cà Mau năm 2025, Hà Nội.
TS Lê Văn Tuyên, Trường Chính trị thành phố Cần Thơ
TS Nguyễn Thị Nghĩa, Học viện Chính trị khu vực IV
.
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả