Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng - chính sách kịp thời chăm lo đời sống người hưởng chế độ

Ngày đăng: 04/07/2026   14:53
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Với mức điều chỉnh tăng thêm 8% áp dụng cho nhiều nhóm đối tượng, cùng cơ chế bảo đảm mức sàn tối thiểu cho người có mức hưởng thấp, Nghị định số 162/2026/NĐ-CP tiếp tục thể hiện chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước trong chăm lo đời sống người có công, người cao tuổi và người lao động đã nghỉ hưu, góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho hàng triệu người dân.

Nguồn ảnh: https://cdn.daidoanket.vn/

Phạm vi và đối tượng điều chỉnh: bao quát nhiều nhóm chính sách

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2026/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế Nghị định số 75/2024/NĐ-CP. Theo Điều 1 Nghị định, đối tượng điều chỉnh là những người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/7/2026, trải rộng trên nhiều nhóm chính sách hình thành qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.

Nhóm thứ nhất là cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động, kể cả người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg; cùng quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.

Nhóm thứ hai là cán bộ xã, phường, thị trấn hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng theo hệ thống nghị định qua nhiều thời kỳ: Nghị định số 33/2023/NĐ-CP, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP; cùng người hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, người hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg, Quyết định số 613/QĐ-TTg, công nhân cao su hưởng trợ cấp theo Quyết định số 206-CP, và cán bộ xã hưởng trợ cấp theo Quyết định số 130-CP, Quyết định số 111-HĐBT.

Nhóm thứ ba là quân nhân, công an nhân dân hưởng trợ cấp hằng tháng theo các quyết định đặc thù dành cho người tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác (Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg đối với quân nhân, sửa đổi bởi Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg; Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg đối với Công an nhân dân) và người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, sửa đổi bởi Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg.

Ngoài ra, đối tượng điều chỉnh còn gồm người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng và người hưởng trợ cấp theo Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.

Phạm vi điều chỉnh như trên bao trùm nhiều nhóm chính sách đặc thù hình thành qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, thể hiện tính kế thừa, liên tục trong chính sách an sinh xã hội của Nhà nước.

Mức điều chỉnh chung: tăng thêm 8% từ ngày 01/7/2026

Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định, từ ngày 01/7/2026, mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của các đối tượng nêu tại khoản 1 Điều 1 được điều chỉnh tăng thêm 8% so với mức hưởng của tháng 6/2026. Mức điều chỉnh này áp dụng chung, thống nhất cho toàn bộ các nhóm đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh, không phân biệt nguồn kinh phí chi trả hay thời điểm bắt đầu hưởng chế độ.

Khoản 3 Điều 2 quy định mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh lần này là căn cứ để tính điều chỉnh ở những lần tiếp theo, bảo đảm tính liên tục, kế thừa của chính sách điều chỉnh qua các thời kỳ.

Cơ chế bảo đảm mức sàn tối thiểu cho người nghỉ hưu trước năm 1995

Điểm đáng chú ý của Nghị định là cơ chế bảo đảm mức sàn tối thiểu dành riêng cho nhóm đối tượng nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/01/1995 (bao gồm người đã nghỉ hưởng trợ cấp mất sức lao động trước ngày này, sau đó tiếp tục hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 613/QĐ-TTg).

Theo khoản 2 Điều 1 và khoản 2 Điều 2, nếu sau khi điều chỉnh tăng thêm 8% mà mức hưởng của nhóm đối tượng này vẫn thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì tiếp tục được điều chỉnh: người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/người/tháng được tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng; người có mức hưởng cao hơn 3.500.000 đồng/người/tháng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng/người/tháng được tăng lên bằng 3.800.000 đồng/người/tháng.

Quy định này thể hiện nguyên tắc ưu tiên nhóm đối tượng có mức hưởng thấp, phần lớn là người đã nghỉ hưu từ lâu, có mức lương hưu, trợ cấp được tính theo mặt bằng tiền lương giai đoạn trước năm 1995. Việc thiết lập mức sàn 3.800.000 đồng/tháng kết hợp hai mức tăng bổ sung theo bậc thang, cụ thể là giải pháp bảo đảm chính sách điều chỉnh chung theo tỷ lệ phần trăm không bỏ sót nhóm người có mức hưởng còn thấp, góp phần thu hẹp chênh lệch mức sống giữa các thế hệ người hưởng chế độ.

Nguồn kinh phí thực hiện: phân định rõ giữa ngân sách nhà nước và Quỹ bảo hiểm xã hội

Điều 3 Nghị định phân định rõ trách nhiệm kinh phí giữa hai nguồn. Ngân sách nhà nước bảo đảm đối với người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội trước ngày 01/01/1995; người hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg, Quyết định số 613/QĐ-TTg; các đối tượng tại điểm d, đ, e, g khoản 1 Điều 1; và người hưởng lương hưu theo Nghị định số 159/2006/NĐ-CP, Nghị định số 11/2011/NĐ-CP, Nghị định số 23/2012/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định số 209/2025/NĐ-CP).

Quỹ bảo hiểm xã hội bảo đảm đối với các đối tượng hưởng chế độ từ ngày 01/01/1995 trở đi, kể cả đối tượng hưởng theo Nghị định số 33/2023/NĐ-CP, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, Nghị định số 09/1998/NĐ-CP và đối tượng tại điểm i khoản 1 Điều 1.

Việc phân định theo mốc 01/01/1995 vừa minh bạch trong quản lý tài chính, vừa phù hợp với nguyên tắc đóng - hưởng: người hưởng chế độ trước khi hình thành Quỹ bảo hiểm xã hội theo cơ chế đóng góp được ngân sách nhà nước bảo đảm; người hưởng từ sau mốc này được chi trả từ Quỹ.

Điều 4 Nghị định phân công trách nhiệm cụ thể theo đúng chức năng, nhiệm vụ quản lý từng nhóm đối tượng: Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chi tiết đối với đối tượng tại các điểm a, b, c, h, i khoản 1 Điều 1; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đối với điểm đ và phần thuộc trách nhiệm tại điểm g; Bộ trưởng Bộ Công an đối với điểm e và phần thuộc trách nhiệm tại điểm g.

Bộ Tài chính bảo đảm kinh phí đối với các đối tượng do ngân sách nhà nước bảo đảm, đồng thời chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức điều chỉnh, chi trả đối với các đối tượng tại các điểm a, b, c, h, i khoản 1 Điều 1 theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức điều chỉnh, chi trả trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng tại các điểm d, đ, e, g khoản 1 Điều 1.

Cơ chế phân công này bảo đảm mỗi nhóm đối tượng đều có cơ quan chịu trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện, phù hợp với hệ thống quản lý theo ngành, lĩnh vực hiện hành, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót khi triển khai.

Ý nghĩa an sinh xã hội

Nghị định số 162/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; Nghị định số 75/2024/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước đó hết hiệu lực kể từ thời điểm này.

Việc ban hành Nghị định là hành động chính sách kịp thời, tiếp nối chuỗi các đợt điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội được thực hiện định kỳ trong những năm gần đây. Việc kết hợp mức điều chỉnh chung theo tỷ lệ phần trăm với cơ chế bảo đảm mức sàn tối thiểu cho thấy cách tiếp cận vừa bảo đảm công bằng theo nguyên tắc đóng - hưởng, vừa thể hiện sự quan tâm đến nhóm người yếu thế trong hệ thống an sinh xã hội.

Với việc phân định rõ đối tượng, thời điểm, mức điều chỉnh, nguồn kinh phí và trách nhiệm tổ chức thực hiện, Nghị định tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, minh bạch để các bộ, ngành, địa phương và cơ quan bảo hiểm xã hội triển khai thống nhất, kịp thời, góp phần ổn định đời sống cho hàng triệu người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trên cả nước./.

Đức Bình

Bài viết cùng tác giả