Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Quy định chặt chẽ các trường hợp không được ký hợp đồng: Bảo đảm minh bạch, phòng ngừa xung đột lợi ích trong khu vực công

Ngày đăng: 06/07/2026   16:22
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 235/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 quy định về ký kết và thực hiện hợp đồng trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về sử dụng nguồn nhân lực và dịch vụ trong khu vực công. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là Điều 9 quy định cụ thể các trường hợp không được ký kết hợp đồng. Quy định này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng lựa chọn đối tác cung cấp dịch vụ mà còn tăng cường phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, xung đột lợi ích và bảo đảm an toàn cho hoạt động của bộ máy nhà nước.

Ảnh minh họa.

Khác với cách tiếp cận trước đây chủ yếu tập trung vào tiêu chuẩn của người được ký hợp đồng, Điều 9 lần này xác lập rõ các "giới hạn pháp lý", qua đó giúp cơ quan, đơn vị có căn cứ đầy đủ để sàng lọc, lựa chọn đối tượng phù hợp ngay từ khâu ký kết. Đây là bước tiến quan trọng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm trong quá trình sử dụng hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ công.

Khoản 1 Điều 9 của Nghị định số 235/2026/NĐ-CP quy định rõ 05 nhóm trường hợp không được ký kết hợp đồng với cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.

Thứ nhất, Nghị định không cho phép ký hợp đồng đối với người đang là cán bộ, công chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang, người làm công tác cơ yếu; đồng thời áp dụng đối với người đã thôi việc hoặc nghỉ hưu nhưng thuộc trường hợp pháp luật chưa cho phép ký kết hợp đồng.

Quy định này nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức với các quy định về sử dụng hợp đồng. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để tránh tình trạng một người vừa thực hiện chức trách công vụ, vừa tham gia quan hệ hợp đồng có thể dẫn đến chồng chéo trách nhiệm hoặc phát sinh lợi ích không phù hợp. Đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang, pháp luật đã có cơ chế quản lý, tuyển dụng, sử dụng và đánh giá riêng. Vì vậy, việc tiếp tục ký hợp đồng để thực hiện những công việc thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định sẽ không còn phù hợp với nguyên tắc quản lý nhân sự trong khu vực công.

Thứ 2, không ký hợp đồng đối với người bị cấm hành nghề theo quy định của pháp luật chuyên ngành hoặc người có xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Quy định này thể hiện sự gắn kết giữa Nghị định với các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, trong đó xung đột lợi ích được coi là một trong những nguy cơ trực tiếp ảnh hưởng đến tính khách quan trong thực thi nhiệm vụ. Khi người cung cấp dịch vụ có lợi ích liên quan đến việc ra quyết định hoặc có khả năng tác động đến quyết định của cơ quan nhà nước thì nguy cơ thiếu minh bạch sẽ gia tăng. Việc loại trừ ngay từ đầu giúp hạn chế phát sinh những tình huống có thể dẫn đến vi phạm pháp luật.

Thứ 3, không ký hợp đồng với người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Tức là người được ký hợp đồng phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Điều này đồng nghĩa với việc không phải bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào cũng có thể tham gia cung cấp dịch vụ cho cơ quan nhà nước nếu chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện về chứng chỉ hành nghề, năng lực chuyên môn, điều kiện kinh doanh hoặc các tiêu chuẩn pháp lý khác theo từng lĩnh vực. Điều này góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công, đồng thời bảo đảm các hoạt động chuyên môn được thực hiện bởi những chủ thể có đủ năng lực và trách nhiệm.

Thứ 4, không ký hợp đồng với người đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; người bị mất năng lực hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị cấm làm công việc liên quan đến công việc ký kết hợp đồng.

Đây là những quy định nhằm bảo đảm người tham gia thực hiện hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp lý, phẩm chất và điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thời giảm thiểu các rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Thứ năm, không ký hớp đồng với người có quan hệ là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ; cha, mẹ (vợ hoặc chồng), cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột; cô, dì, chú, bác, cậu ruột; anh, chị, em ruột của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng của anh, chị, em ruột với người có thẩm quyền ký hợp đồng.

Đây là thiết lập "hàng rào" pháp lý bảo vệ an ninh, liêm chính và hiệu quả hoạt động công vụ. Điều này hướng trực tiếp đến mục tiêu phòng ngừa tình trạng ưu ái người thân, lợi dụng quyền hạn để tạo lợi ích cho người có quan hệ gia đình hoặc họ hàng. Trong thực tiễn quản lý, đây là một trong những nguy cơ dễ phát sinh tiêu cực nếu thiếu cơ chế kiểm soát ngay từ khâu lựa chọn đối tượng ký kết hợp đồng.

Bảo đảm việc sử dụng hợp đồng thực sự phục vụ hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

Việc quy định rõ phạm vi quan hệ thân thích không chỉ giúp cơ quan, đơn vị dễ dàng áp dụng mà còn tạo cơ sở pháp lý để kiểm tra, giám sát và xử lý khi phát hiện vi phạm. Đây cũng là một bước cụ thể hóa các nguyên tắc về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ.

Ngoài việc kiểm soát yếu tố con người, Điều 9 còn đặt ra giới hạn đối với chính nội dung công việc được ký kết hợp đồng. Khoản 2 Điều 9 quy định không ký kết hợp đồng để thực hiện các công việc liên quan đến an ninh quốc gia và bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu và mở rộng việc thuê dịch vụ từ bên ngoài ngày càng phổ biến. Những công việc liên quan đến quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước luôn đòi hỏi mức độ bảo mật tuyệt đối và phải được thực hiện bởi những chủ thể có thẩm quyền, được quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật. Việc không cho phép sử dụng hợp đồng đối với các công việc này góp phần bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ lợi ích quốc gia và hạn chế nguy cơ lộ lọt tài liệu, dữ liệu mật.

Có thể thấy, Điều 9 của Nghị định số 235/2026/NĐ-CP không chỉ đơn thuần liệt kê các trường hợp không được ký hợp đồng mà còn hình thành một cơ chế kiểm soát ngay từ đầu đối với cả chủ thể ký kết và phạm vi công việc được thực hiện. Các quy định được xây dựng trên cơ sở kết nối với pháp luật về cán bộ, công chức, phòng, chống tham nhũng, an ninh quốc gia, bí mật nhà nước và các quy định chuyên ngành khác, tạo nên hệ thống tiêu chí thống nhất trong quản lý hợp đồng của khu vực công.

Khi được triển khai đồng bộ, những quy định này sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch trong lựa chọn đối tác, ngăn ngừa lợi ích nhóm, hạn chế tiêu cực và bảo đảm việc sử dụng hợp đồng thực sự phục vụ hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Đây cũng là tiền đề quan trọng để xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại, lấy hiệu quả và trách nhiệm giải trình làm trung tâm trong quản trị công./.

Bảo Ngọc

Bài viết cùng tác giả