Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Hoàn thiện quy trình giám định tư pháp trong lĩnh vực Nội vụ: Bảo đảm chặt chẽ từ tiếp nhận đến lưu trữ hồ sơ

Ngày đăng: 06/07/2026   14:50
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Hoạt động giám định tư pháp là một trong những khâu quan trọng góp phần hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, vụ việc khách quan, đúng pháp luật. đối với lĩnh vực nội vụ, kết luận giám định không chỉ là căn cứ chuyên môn phục vụ quá trình tố tụng mà còn góp phần bảo đảm tính chính xác trong việc đánh giá các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về tổ chức bộ máy của ngành nội vụ. Nhằm chuẩn hóa toàn bộ quy trình thực hiện giám định tư pháp, Thông tư số 05/2026/TT-BNV ngày 31/3/2026 của Bộ Nội vụ đã dành Chương III quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định, thành phần hồ sơ và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp. đây là những quy định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm hoạt động giám định được thực hiện thống nhất, khách quan, đúng trình tự pháp luật và nâng cao giá trị pháp lý của kết luận giám định.

Trụ sở Bộ Nội vụ.

Quy trình giám định được chuẩn hóa theo 04 bước

Điều 9 của Thông tư quy định quy trình thực hiện giám định tư pháp gồm 04 bước cơ bản: tiếp nhận hồ sơ trưng cầu hoặc yêu cầu giám định cùng đối tượng giám định và tài liệu liên quan; chuẩn bị thực hiện giám định; tiến hành giám định; ban hành kết luận giám định tư pháp.

Việc quy định đầy đủ các bước trong quy trình giúp hình thành một quy trình nghiệp vụ thống nhất đối với tất cả các hoạt động giám định thuộc lĩnh vực nội vụ. Mỗi giai đoạn đều có yêu cầu, trách nhiệm cụ thể, bảo đảm việc thực hiện giám định diễn ra theo đúng trình tự, hạn chế sai sót về thủ tục cũng như nâng cao tính minh bạch trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý nhà nước và người thực hiện giám định phối hợp chặt chẽ hơn, bảo đảm mỗi kết luận giám định đều được hình thành trên cơ sở quy trình khoa học và tuân thủ pháp luật.

Quy định rõ trách nhiệm trong tiếp nhận trưng cầu giám định.

 Một trong những nội dung nổi bật của Chương III là quy định chi tiết việc tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định tại Điều 10. Thông tư phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể tùy theo nơi tiếp nhận yêu cầu giám định. Đối với trường hợp trưng cầu hoặc yêu cầu giám định gửi đến Bộ Nội Vụ, Vụ Pháp chế là đơn vị chủ trì, phối hợp với đơn vị chuyên môn lựa chọn người giám định tư pháp hoặc tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc để trình bộ trưởng quyết định phân công hoặc thành lập hội đồng giám định tư pháp.

Nếu yêu cầu được gửi trực tiếp đến tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc thuộc bộ nội vụ, người đứng đầu tổ chức sẽ tiếp nhận và phân công giám định viên hoặc người có chuyên môn phù hợp thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và quy chế làm việc của đơn vị. Trong trường hợp yêu cầu giám định được gửi trực tiếp đến người giám định tư pháp, người được trưng cầu có trách nhiệm báo cáo người đứng đầu đơn vị và thực hiện giám định theo đúng quy định của luật giám định tư pháp cũng như thông tư. Đáng chú ý, Thông tư quy định việc tiếp nhận hồ sơ trực tiếp phải được lập thành biên bản theo quy định của luật giám định tư pháp. Quy định này góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch và xác định rõ trách nhiệm của các bên ngay từ thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

Bảo đảm tính khách quan ngay từ giai đoạn chuẩn bị giám định

Điều 11 quy định khá chặt chẽ về công tác chuẩn bị trước khi tiến hành giám định. theo đó, người thực hiện giám định phải nghiên cứu toàn bộ hồ sơ, tài liệu, thông tin, đối tượng giám định để xác định đầy đủ căn cứ chuyên môn phục vụ việc đánh giá. Trong trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, người giám định có quyền đề nghị cơ quan trưng cầu hoặc người yêu cầu bổ sung tài liệu liên quan. quy định này giúp hạn chế tình trạng kết luận giám định được đưa ra khi chưa có đầy đủ căn cứ cần thiết.

Thông tư cũng quy định rõ, nếu thuộc trường hợp từ chối giám định theo luật giám định tư pháp thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định trưng cầu hoặc yêu cầu giám định, người thực hiện phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Việc quy định thời hạn cụ thể vừa bảo đảm quyền của người trưng cầu, vừa tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ việc, đồng thời nâng cao trách nhiệm của người giám định trong việc xử lý yêu cầu được giao. Bên cạnh đó, người giám định phải nghiên cứu và áp dụng đúng các quy chuẩn chuyên môn trong quá trình thực hiện giám định. đây là yếu tố quyết định chất lượng và tính khoa học của kết luận giám định.

Nâng cao chất lượng kết luận giám định

Theo Điều 12, quá trình thực hiện giám định phải dựa trên việc nghiên cứu đối tượng giám định, tài liệu liên quan và đối chiếu với các quy chuẩn chuyên môn để đưa ra nhận xét, đánh giá đối với từng nội dung được yêu cầu. Một điểm mới đáng chú ý là nếu trong quá trình giám định phát sinh nội dung mới hoặc những vấn đề ngoài phạm vi yêu cầu ban đầu, người thực hiện giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản cho người trưng cầu để thống nhất phương án xử lý. Quy định này giúp bảo đảm kết luận giám định không vượt quá phạm vi được giao nhưng vẫn xử lý linh hoạt các tình huống phát sinh trong thực tiễn. Sau khi hoàn thành việc đánh giá, người giám định xây dựng dự thảo kết luận để hoàn thiện văn bản kết luận chính thức.

Điều 13 quy định kết luận giám định phải được thực hiện đối với từng nội dung yêu cầu cụ thể và bảo đảm đầy đủ các nội dung theo điều 35 luật giám định tư pháp cũng như các mẫu thống nhất ban hành kèm theo thông tư. Việc chuẩn hóa mẫu kết luận góp phần nâng cao tính thống nhất, thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình sử dụng kết luận giám định làm chứng cứ.

Phát huy vai trò của Hội đồng Giám định tư pháp

Đối với những vụ việc có tính chất phức tạp hoặc cần nhiều chuyên gia tham gia, Điều 14 quy định vụ pháp chế chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan lựa chọn người giám định phù hợp để trình bộ trưởng quyết định thành lập hội đồng giám định tư pháp. Việc thành lập hội đồng giúp huy động kiến thức chuyên môn từ nhiều lĩnh vực khác nhau, tăng tính khách quan và độ tin cậy của kết luận giám định, đặc biệt đối với các vụ việc có nhiều nội dung chuyên ngành. Số lượng thành viên và cơ chế hoạt động của hội đồng được thực hiện theo quy địnhcủa luật giám định tư pháp và các quy định của chính phủ, bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động.

Hoàn thiện chế độ lập và lưu trữ hồ sơ giám định

Một nội dung quan trọng khác của Chương III là quy định cụ thể về thành phần hồ sơ và chế độ lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp tại Điều 15. Theo đó, hồ sơ giám định phải bao gồm quyết định trưng cầu hoặc văn bản yêu cầu giám định; biên bản giao nhận hồ sơ; quyết định phân công người giám định hoặc văn bản cử người thực hiện; văn bản từ chối giám định nếu có; kết luận giám định và các tài liệu liên quan khác.

 Việc quy định thống nhất thành phần hồ sơ góp phần bảo đảm tính đầy đủ, thuận tiện cho công tác kiểm tra, đối chiếu cũng như phục vụ hoạt động tố tụng khi cần thiết. Thông tư đồng thời quy định rõ trách nhiệm lưu trữ hồ sơ đối với từng trường hợp: hồ sơ do một người hoặc một tổ chức giám định thực hiện được bàn giao cho đơn vị quản lý trực tiếp; hồ sơ do nhiều tổ chức hoặc nhiều người cùng thực hiện được giao cho đơn vị chủ trì lưu trữ; còn hồ sơ của hội đồng giám định được bàn giao cho đơn vị có chủ tịch hội đồng công tác. Các cơ quan, đơn vị tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm bảo quản và lưu trữ theo đúng quy định của pháp luật về lưu trữ trong lĩnh vực nội vụ.

Có thể thấy, Chương III của Thông tư số 05/2026/TT - BNV đã xây dựng một quy trình giám định tư pháp thống nhất, chặt chẽ và toàn diện, từ tiếp nhận trưng cầu, chuẩn bị, thực hiện giám định đến ban hành kết luận và lưu trữ hồ sơ. Những quy định này không chỉ nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực nội vụ mà còn góp phần bảo đảm tính khách quan, minh bạch và giá trị pháp lý của kết luận giám định, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong giai đoạn mới./.

Hoài Lâm

Bài viết cùng tác giả