Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Hỗ trợ phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Kết quả nổi bật và những vấn đề đặt ra

Ngày đăng: 07/07/2026   15:16
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 (ban hành theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg) đã khép lại giai đoạn 2021-2025 với nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống kinh tế - xã hội của khu vực đặc thù này. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, việc triển khai Chương trình vẫn bộc lộ không ít hạn chế, đòi hỏi những điều chỉnh kịp thời và đồng bộ trong giai đoạn tiếp theo.

Chương trình quy mô lớn, mục tiêu toàn diện

Được xác định là chương trình mục tiêu quốc gia có quy mô lớn nhất từ trước đến nay dành riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giai đoạn I (2021-2025) được bố trí tổng nguồn lực trên 137 nghìn tỷ đồng. Đây là bước đi thể hiện rõ cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc ưu tiên nguồn lực nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, toàn diện đối với khu vực còn nhiều khó khăn.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh và bền vững; từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống, thu nhập giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với mặt bằng chung của cả nước. Đồng thời, Chương trình hướng tới giảm dần số xã, thôn đặc biệt khó khăn; sắp xếp, bố trí ổn định dân cư; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; phát triển giáo dục, y tế, văn hóa; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Với 10 dự án thành phần, Chương trình bao phủ hầu hết các lĩnh vực thiết yếu, từ giải quyết đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp; đầu tư cơ sở hạ tầng; phát triển giáo dục - đào tạo, y tế; đến bảo tồn văn hóa, thực hiện bình đẳng giới và nâng cao năng lực cộng đồng. Cách tiếp cận toàn diện này đã tạo nên nền tảng quan trọng cho việc cải thiện đồng bộ các điều kiện sống của người dân.

Cần tiếp tục có những chính sách ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Những kết quả nổi bật sau 5 năm triển khai

Sau 5 năm thực hiện, Chương trình đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần thay đổi diện mạo nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Trước hết, công tác giảm nghèo đạt kết quả ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo tại khu vực này giảm bình quân 3,4%/năm, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Thu nhập bình quân đầu người của đồng bào dân tộc thiểu số đạt 43,4 triệu đồng/năm, tăng gấp 3,1 lần so với năm 2020, vượt xa mục tiêu đề ra. Những con số này cho thấy hiệu quả rõ rệt của các chính sách hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất và tạo việc làm.

Trong lĩnh vực nhà ở và điều kiện sinh hoạt, Chương trình ghi nhận những bước tiến vượt bậc. Đã có 42.567 căn nhà tạm, dột nát được xóa bỏ, đạt 230% kế hoạch và hoàn thành trước thời hạn 5 năm. Hàng chục nghìn hộ gia đình được hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và chuyển đổi nghề; hàng trăm nghìn hộ được cải thiện điều kiện nước sinh hoạt. Đây không chỉ là những con số về hỗ trợ vật chất, mà còn là nền tảng để người dân ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

Phát triển sinh kế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là điểm sáng đáng chú ý. Hàng trăm mô hình sản xuất nông, lâm nghiệp được triển khai, thu hút hàng chục nghìn hộ dân tham gia, góp phần tạo sinh kế bền vững. Hơn 115 nghìn lao động được đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm; hàng triệu lượt người được chăm sóc sức khỏe ban đầu. Công tác xóa mù chữ đạt kết quả tích cực với hàng nghìn lớp học được tổ chức, thu hút hàng chục nghìn người tham gia.

Đặc biệt, hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu được quan tâm đầu tư đồng bộ. Nhiều tuyến đường giao thông nông thôn được nâng cấp, kết nối thuận lợi hơn với các trung tâm kinh tế; trường học, trạm y tế, nhà văn hóa được xây dựng, cải tạo, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công và đời sống tinh thần của người dân.

Nhìn tổng thể, Chương trình đã tạo ra những chuyển biến căn bản, không chỉ về kinh tế mà còn về xã hội, văn hóa, góp phần củng cố niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Những tồn tại và vấn đề đặt ra

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai Chương trình vẫn còn một số hạn chế cần thẳng thắn nhìn nhận.

Trước hết, cơ chế tổ chức thực hiện còn phức tạp. Việc thiết kế nhiều dự án, tiểu dự án do các bộ, ngành khác nhau quản lý đã dẫn đến tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực, gây khó khăn cho địa phương trong quá trình triển khai. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành ở một số nơi chưa thật sự nhịp nhàng, làm giảm hiệu quả tổng thể của Chương trình.

Tiến độ chuẩn bị đầu tư và giải ngân vốn ở một số địa phương còn chậm, phải điều chỉnh nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ chung. Năng lực tổ chức thực hiện của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế, nhất là trong việc quản lý các dự án có quy mô lớn, đa lĩnh vực.

Đáng chú ý, vẫn còn một số mục tiêu quan trọng chưa đạt như kỳ vọng. Việc cải thiện hạ tầng kỹ thuật ở một số khu vực còn chậm; số lượng thôn, xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn chưa đạt kế hoạch; tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất và khó khăn trong bố trí dân cư ổn định vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi. Đây là những vấn đề mang tính cấu trúc, đòi hỏi giải pháp căn cơ, lâu dài.

Định hướng thời gian tới

Bước sang giai đoạn 2026-2030, hợp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi  được tích hợp vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030. Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục kế thừa những kết quả đạt được, đồng thời tập trung giải quyết những “điểm nghẽn” cốt lõi đang cản trở quá trình phát triển.

Trước hết, cần ưu tiên giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu đất ở, nhà ở và đất sản xuất cho người dân. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sinh kế bền vững, giúp người dân yên tâm phát triển kinh tế.

Thứ hai, phát triển sinh kế cần gắn chặt với bảo vệ và phát triển rừng, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hướng tới mô hình kinh tế xanh, bền vững. Đồng thời, cần đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, nâng cao năng lực tiếp cận thị trường cho người dân.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực tại chỗ, cần được coi là giải pháp then chốt. Việc đào tạo nghề cần gắn với nhu cầu thị trường lao động, tăng cường kỹ năng số và khả năng thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi số.

Thứ tư, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống cần gắn với phát triển du lịch bền vững, tạo thêm sinh kế cho người dân, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cuối cùng, đẩy mạnh chuyển đổi số trong triển khai chính sách dân tộc là xu hướng tất yếu, giúp nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch hóa thông tin và tăng cường sự tham gia của người dân.

Có thể khẳng định, những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021 - 2026 là nền tảng quan trọng để tiếp tục triển khai Chương trình trong giai đoạn 2026 - 2030 với quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn. Việc tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách sẽ là chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với mặt bằng chung của cả nước, góp phần bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển đất nước.

Thu Hà

Bài viết cùng tác giả