Thực tiễn cho thấy, những địa phương có sự tham gia tích cực của phụ nữ vào các hoạt động phát triển kinh tế, quản lý cộng đồng và xây dựng đời sống văn hóa thường đạt kết quả tốt hơn trong giảm nghèo và phát triển bền vững. Tuy nhiên, tại nhiều vùng DTTS, phụ nữ vẫn gặp không ít rào cản. Điều kiện tiếp cận giáo dục, đào tạo nghề, việc làm và các dịch vụ xã hội còn hạn chế; tư tưởng trọng nam hơn nữ, phân công lao động theo giới, tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống hay bạo lực trên cơ sở giới vẫn tồn tại ở một số nơi. Trong khi đó, yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập đang đặt ra những đòi hỏi mới về trình độ, kỹ năng và khả năng thích ứng, khiến khoảng cách giới có nguy cơ gia tăng nếu không có các giải pháp phù hợp.
Đắk Lắk là địa phương có đông đồng bào DTTS sinh sống, chiếm 1/4 dân số toàn tỉnh, với 81/102 xã thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi, đây là một trong những tỉnh triển khai khá toàn diện các nội dung của Dự án 8 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Thay vì chỉ tập trung tuyên truyền pháp luật, Đắk Lắk đã chuyển mạnh sang cách tiếp cận lấy cộng đồng làm trung tâm, coi phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển. Các hoạt động truyền thông được tổ chức thường xuyên tại buôn, làng; người có uy tín, già làng, trưởng buôn và cán bộ cơ sở được huy động tham gia phổ biến kiến thức về bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới, chăm sóc sức khỏe sinh sản và bảo vệ trẻ em. Cách làm này góp phần đưa chính sách đến gần người dân, đồng thời tạo sự thay đổi từ chính cộng đồng.
Một trong những điểm nhấn của tỉnh Đắk Lắk là xây dựng và duy trì các Tổ truyền thông cộng đồng tại nhiều buôn, làng. Với sự tham gia của cán bộ thôn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, người có uy tín và các chức sắc tôn giáo, các Tổ truyền thông không chỉ phổ biến chính sách mà còn trực tiếp tư vấn, hòa giải, hỗ trợ các gia đình có nguy cơ xảy ra bạo lực, tảo hôn hoặc bỏ học. Đây là mô hình phù hợp với đặc điểm văn hóa của đồng bào DTTS bởi việc tuyên truyền được thực hiện bằng ngôn ngữ gần gũi, thông qua những người được cộng đồng tin tưởng. Nhờ vậy, nhiều quan niệm truyền thống chưa phù hợp từng bước được thay đổi, ý thức về vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội được nâng lên.
Bên cạnh đó, mô hình Câu lạc bộ "Thủ lĩnh của sự thay đổi" tại các trường học vùng DTTS đã tạo môi trường để học sinh, đặc biệt là trẻ em gái, được trang bị kiến thức về bình đẳng giới, kỹ năng sống, phòng, chống bạo lực và xâm hại, đồng thời rèn luyện khả năng lãnh đạo và tham gia các hoạt động cộng đồng. Việc hình thành nhận thức đúng ngay từ lứa tuổi học sinh không chỉ góp phần giảm nguy cơ tảo hôn, bỏ học mà còn tạo nền tảng để xây dựng thế hệ trẻ tự tin, chủ động và có trách nhiệm với cộng đồng.
Một kết quả đáng ghi nhận khác là nhiều phụ nữ vùng DTTS đã được hỗ trợ phát triển sinh kế thông qua các mô hình liên kết sản xuất, tổ hợp tác, hợp tác xã và khởi nghiệp. Khi được tiếp cận nguồn vốn, kỹ thuật sản xuất, kỹ năng quản lý và chuyển đổi số, phụ nữ không chỉ nâng cao thu nhập mà còn từng bước khẳng định vai trò trong gia đình và cộng đồng. Nhiều phụ nữ trở thành chủ cơ sở sản xuất, tổ trưởng tổ hợp tác hoặc thành viên ban quản lý hợp tác xã, góp phần tạo việc làm cho lao động địa phương. Thực tiễn này cho thấy, bình đẳng giới không chỉ dừng ở việc bảo đảm quyền mà còn trực tiếp tạo ra giá trị kinh tế và thúc đẩy phát triển địa phương.
Truyền thông tư vấn việc
làm tại Thôn 2 và Buôn Tul A (xã Ea Wer, tỉnh Đắk Lắk) có sự tham gia của đông
đảo chị em phụ nữ.
Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk có thể khẳng định đầu tư cho BĐG vùng đồng bào DTTS chính là giải phóng một nửa lực lượng lao động và phát huy vai trò làm mẹ, làm thầy đầu tiên của người phụ nữ. Đây là đòn bẩy cốt lõi để nâng cao thể chất, trí tuệ và kỹ năng cho toàn bộ cộng đồng bởi nhờ đó, có thể tối ưu hóa nguồn nhân lực toàn diện, cải thiện chất lượng thế hệ tương lai, góp phần xoá bỏ các rào cản thế hệ và thúc đẩy phát triển bền vững.
Thời gian tới, để BĐG thực sự trở thành động lực phát triển vùng đồng bào DTTS cần tập trung vào ba nhóm giải pháp cơ bản:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới công tác truyền thông theo hướng lấy người dân làm trung tâm, phù hợp với đặc điểm văn hóa của từng dân tộc. Phát huy vai trò của già làng, trưởng buôn, người có uy tín, cán bộ cơ sở và các tổ chức đoàn thể trong thay đổi nhận thức, xóa bỏ định kiến giới, phòng, chống tảo hôn và bạo lực trên cơ sở giới.
Thứ hai, gắn bình đẳng giới với phát triển sinh kế và nâng cao khả năng làm chủ kinh tế cho phụ nữ. Mỗi chương trình hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề, chuyển đổi số hay khởi nghiệp cần tạo điều kiện để phụ nữ DTTS được tham gia bình đẳng, tiếp cận tín dụng, khoa học - kỹ thuật và thị trường. Khi có thu nhập ổn định và năng lực làm chủ kinh tế, phụ nữ sẽ có nhiều cơ hội hơn để tham gia quản lý gia đình và các hoạt động xã hội.
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc và BĐG ở cơ sở. Cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng truyền thông, tư vấn, lồng ghép giới trong xây dựng chính sách; đồng thời phát hiện, đào tạo nguồn cán bộ nữ là người DTTS, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các vị trí lãnh đạo ở cấp xã, thôn, buôn. Đây là giải pháp có ý nghĩa lâu dài nhằm bảo đảm tiếng nói của phụ nữ được phản ánh trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách.
Bình đẳng giới không chỉ là yêu cầu của tiến bộ xã hội mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển. Khi phụ nữ và nam giới đều có cơ hội bình đẳng trong học tập, lao động, tiếp cận nguồn lực và tham gia quản lý cộng đồng, vùng đồng bào DTTS sẽ phát huy tốt hơn nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giữ gìn bản sắc văn hóa và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới./.
Trần Huyền
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả