Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn: công cụ trọng yếu phòng, chống tham nhũng, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

Ngày đăng: 08/07/2026   10:19
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng về việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 và thay thế Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, văn bản này tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kê khai, công khai, xác minh và xử lý vi phạm; qua đó tăng cường tính minh bạch, liêm chính trong hoạt động công vụ, đồng thời gắn kết chặt chẽ công tác kiểm soát tài sản, thu nhập với công tác quản lý cán bộ.

Tập thể chủ động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng môi trường quản lý minh bạch (Ảnh: TH, https://thanhtra.com.vn/)

Cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc ban hành Nghị định

Nghị định số 164/2026/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15 và Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14, Luật số 81/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15), theo đề nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ.

Về phạm vi điều chỉnh, Nghị định quy định chi tiết một loạt nội dung cốt lõi của Luật Phòng, chống tham nhũng: trình tự, thủ tục yêu cầu và cung cấp thông tin phục vụ xác minh; tài sản, thu nhập phải kê khai cùng mẫu bản kê khai; đối tượng kê khai hằng năm; việc công khai bản kê khai; tiêu chí lựa chọn và trình tự xác minh theo kế hoạch; bảo vệ, lưu trữ, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia; và xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm.

Ý nghĩa xuyên suốt của hoạt động này được xác định rõ tại Điều 3: kiểm soát tài sản, thu nhập nhằm phòng ngừa tham nhũng, phục vụ công tác cán bộ, kịp thời phát hiện tham nhũng, ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản và thu hồi tài sản tham nhũng. Đây không đơn thuần là một thủ tục hành chính, mà là cơ chế giám sát mang tính phòng ngừa, đặt nền tảng cho một nền công vụ liêm chính.

Nguyên tắc kiểm soát tại Điều 4 đặt ra những giới hạn quan trọng: hoạt động phải bảo đảm minh bạch, khách quan, công bằng; thực hiện đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục; không xâm phạm quyền tài sản của người có nghĩa vụ kê khai. Nghị định nghiêm cấm việc sử dụng không đúng mục đích thông tin, dữ liệu trong kiểm soát tài sản, thu nhập, một bảo đảm cần thiết để cân bằng giữa yêu cầu giám sát và quyền của công chức.

Những tài sản, thu nhập phải kê khai và đối tượng kê khai hằng năm

Điều 9 xác định phạm vi tài sản, thu nhập phải kê khai của người có nghĩa vụ kê khai, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên, bao gồm: quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng; tài sản khác gắn liền với đất; vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý mà mỗi loại có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi có tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên; cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, các loại giấy tờ có giá khác từ 150 triệu đồng trở lên; các khoản nợ từ 150 triệu đồng trở lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài; và tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.

Một điểm đáng chú ý là Nghị định đã bổ sung “tài sản số” vào danh mục tài sản phải kê khai (khi mỗi loại có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên), phản ánh sự cập nhật của pháp luật trước sự xuất hiện của các loại hình tài sản mới trong nền kinh tế số.

Về đối tượng, Điều 10 quy định người có nghĩa vụ kê khai hằng năm gồm: người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên công tác tại các cơ quan nhà nước; người giữ chức vụ tương đương trở lên tại doanh nghiệp nhà nước ở các vị trí phụ trách tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc, giải quyết công việc; và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai thuộc phạm vi quản lý. Nghị định cũng khuyến khích việc kê khai trên môi trường điện tử khi điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ đáp ứng, tạo thuận lợi cho lưu trữ và kiểm soát.

Công khai bản kê khai: bảo đảm quyền giám sát

Công khai là khâu thể hiện rõ tính minh bạch của cơ chế kiểm soát. Theo các Điều 11, 12 và 13, bản kê khai được công khai bằng hình thức niêm yết tại trụ sở hoặc công khai tại cuộc họp, tùy theo cấp chức vụ và loại hình cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bản kê khai phải được công khai chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan quản lý bàn giao cho Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; thời gian niêm yết là 15 ngày, ở vị trí bảo đảm an toàn, thuận tiện cho việc theo dõi.

Đối với hình thức công khai tại cuộc họp, Nghị định yêu cầu cuộc họp phải bảo đảm có mặt tối thiểu 2/3 số người được triệu tập; biên bản cuộc họp phải ghi lại những ý kiến phản ánh, thắc mắc và giải trình về nội dung bản kê khai. Riêng đối với người dự kiến được bổ nhiệm hoặc bầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, bản kê khai được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm, gắn trực tiếp việc minh bạch tài sản với quy trình sử dụng cán bộ.

Xác minh tài sản, thu nhập: khâu then chốt bảo đảm thực chất

Nếu kê khai và công khai là bước đầu, thì xác minh chính là khâu bảo đảm cho cơ chế kiểm soát đi vào thực chất. Theo Điều 14 và Điều 15, định hướng xây dựng kế hoạch xác minh do Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước ngày 31 tháng 10 hằng năm; người đứng đầu Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phê duyệt và ban hành kế hoạch xác minh hằng năm trước ngày 31 tháng 01.

Về định lượng, kế hoạch phải bảo đảm số cơ quan, tổ chức, đơn vị được xác minh tối thiểu bằng 10% số cơ quan thuộc thẩm quyền kiểm soát; riêng đối với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ tối thiểu là 5%. Việc lựa chọn người được xác minh được thực hiện công khai bằng hình thức bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm máy tính, với sự chứng kiến của đại diện cơ quan quản lý, Ủy ban Kiểm tra Đảng và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp. Số người được lựa chọn ngẫu nhiên để xác minh tối thiểu bằng 10% số người có nghĩa vụ kê khai hằng năm tại mỗi cơ quan, trong đó có ít nhất 01 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu.

Trình tự, thủ tục xác minh được quy định chặt chẽ tại Chương VI, từ nguyên tắc xác minh (tuân thủ pháp luật, chính xác, khách quan, dân chủ, công khai, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm quyền giải trình của người được xác minh), đến danh mục các hành vi bị nghiêm cấm, việc ban hành quyết định xác minh, nghiên cứu bản kê khai, yêu cầu giải trình, xác minh thực tế và báo cáo kết quả. Theo Điều 28, người ra quyết định xác minh phải ban hành Kết luận xác minh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Báo cáo kết quả xác minh; trường hợp phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 20 ngày. Kết luận xác minh được gửi và công khai theo quy định, bảo đảm cả tính minh bạch lẫn quyền lợi hợp pháp của người được xác minh.

Xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm: bảo đảm tính răn đe

Sức mạnh của cơ chế kiểm soát nằm ở chế tài. Chương VIII của Nghị định thiết lập các hình thức xử lý kỷ luật tương ứng với mức độ vi phạm. Cụ thể, Điều 36 quy định: hình thức khiển trách áp dụng đối với người kê khai không trung thực về tài sản, thu nhập có tổng giá trị đến 10 tỷ đồng, hoặc giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản có giá trị từ 150 triệu đồng đến 10 tỷ đồng; hình thức cảnh cáo áp dụng khi giá trị tài sản kê khai hoặc giải trình không trung thực từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng; hình thức cách chức áp dụng đối với người kê khai có chức vụ khi giá trị tài sản kê khai hoặc giải trình không trung thực trên 20 tỷ đồng. Việc phân định theo ngưỡng giá trị bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa hành vi và chế tài.

Bên cạnh đó, Điều 37 quy định xử lý các hành vi vi phạm khác trong kiểm soát tài sản, thu nhập; các hành vi nếu cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đáng lưu ý, Điều 38 xác định việc xử lý kỷ luật người có hành vi vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Theo Điều 39, quyết định kỷ luật được niêm yết công khai tại cơ quan nơi người bị xử lý thường xuyên làm việc trong thời gian 15 ngày, thể hiện rõ tính răn đe và giáo dục.

Cơ sở dữ liệu quốc gia: nền tảng kiểm soát hiện đại

Một trong những trụ cột hiện đại hóa của Nghị định là Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập, được quy định tại Chương VII. Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm xây dựng và vận hành hệ thống hạ tầng kỹ thuật, tổ chức bộ máy và cán bộ chuyên trách, thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, sao lưu, dự phòng và bảo trì. Cơ sở dữ liệu này được bảo vệ nghiêm ngặt, tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ thông tin và được kết nối liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu ngành để phục vụ việc kiểm soát. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm hướng dẫn, phối hợp với Thanh tra Chính phủ trong việc bảo vệ, lưu trữ thông tin. Việc số hóa và liên thông dữ liệu giúp nâng cao đáng kể khả năng phát hiện biến động bất thường về tài sản, thu nhập.

Vai trò của Bộ Nội vụ trong kiểm soát tài sản, thu nhập gắn với quản lý cán bộ

Là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, công vụ và đạo đức công vụ, Bộ Nội vụ có mối liên hệ mật thiết với quá trình triển khai Nghị định. Trước hết, Nghị định xác định kiểm soát tài sản, thu nhập nhằm “phục vụ công tác cán bộ” (Điều 3): đây chính là lĩnh vực gắn trực tiếp với chức năng tham mưu của Bộ Nội vụ trong đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ. Kết quả kê khai, công khai và xác minh trở thành một kênh thông tin quan trọng phục vụ công tác này.

Thứ hai, việc xử lý kỷ luật đối với người vi phạm được thực hiện theo pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (Điều 38): khung pháp lý thuộc phạm vi tham mưu, quản lý của Bộ Nội vụ. Sự thống nhất giữa chế tài trong Nghị định và hệ thống pháp luật về kỷ luật công vụ là điều kiện để việc xử lý vi phạm được thực thi đồng bộ, nghiêm minh.

Thứ ba, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thực hiện trách nhiệm ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai trong phạm vi quản lý (Điều 10) và tổ chức thi hành Nghị định (Điều 42). Rộng hơn, việc kiểm soát tài sản, thu nhập là một cấu phần trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, chuyên nghiệp mà Bộ Nội vụ giữ vai trò nòng cốt. Sự phối hợp hiệu quả giữa Thanh tra Chính phủ - cơ quan chủ trì, Bộ Nội vụ và các bộ, ngành liên quan, sẽ quyết định chất lượng thực thi trên thực tế.

Nghị định số 164/2026/NĐ-CP đánh dấu một bước hoàn thiện thể chế quan trọng, thiết lập quy trình khép kín từ kê khai, công khai, xác minh, xử lý vi phạm đến vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia. Việc bổ sung các loại tài sản mới, siết chặt tỷ lệ xác minh và phân định rõ chế tài theo ngưỡng giá trị cho thấy quyết tâm nâng cao hiệu quả kiểm soát một cách thực chất. Trong quá trình đó, sự gắn kết giữa công tác kiểm soát tài sản, thu nhập với công tác quản lý cán bộ, đối với lĩnh vực trọng yếu của Bộ Nội vụ, chính là yếu tố góp phần xây dựng nền công vụ liêm chính, minh bạch, phục vụ mục tiêu phòng, chống tham nhũng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước./.

Hà Thu

Bài viết cùng tác giả