Từ khóa: Công nghiệp quốc phòng; phát triển công nghiệp quốc phòng; tiềm lực khoa học, công nghệ.
Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution exerting profound impacts across all spheres of social life, scientific and technological potential has become an increasingly decisive factor in strengthening the national defense capabilities of every country. For Vietnam, developing a self-reliant, autonomous, dual-use, and modern defense industry has been identified as a strategic priority. This article analyzes the role of scientific and technological potential in the development of Vietnam’s defense industry, assesses the current situation, and proposes several solutions to maximize the contribution of science and technology to the sustainable development of the country’s defense industry.
Keywords: Defense industry; defense industry development; scientific and technological potential.
![]()
1. Vai trò của tiềm lực khoa học, công nghệ trong phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam
Tiềm lực khoa học, công nghệ (KHCN) là khả năng hiện có và tiềm tàng về nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật, tri thức khoa học, trình độ công nghệ, năng lực nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng, chuyển giao, tổ chức và quản lý KHCN, có thể được huy động, khai thác, sử dụng nhằm giải quyết những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của đất nước. Trong công nghiệp (CNQP), tiềm lực KHCN là nhân tố quyết định đến năng lực tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hiện đại hóa quân đội và phát triển công nghiệp quốc gia:
Thứ nhất, tiềm lực KHCN góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, cải tiến, sửa chữa và hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT), tăng cường tính tự chủ của CNQP. Một nền CNQP thực sự tự chủ phải có năng lực tự nghiên cứu, thiết kế, chế thử và sản xuất được các loại vũ khí, trang bị theo yêu cầu chiến đấu của lực lượng vũ trang; đồng thời, làm chủ được quy trình sửa chữa, nâng cấp, hiện đại hóa và từng bước tự sản xuất một số chủng loại VKTBKT quan trọng, góp phần nâng tỷ lệ nội địa hóa và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Nếu không có tiềm lực KHCN đủ mạnh, CNQP chỉ dừng lại ở mức khai thác, bảo dưỡng và sửa chữa công nghệ có sẵn, không thể tạo ra giá trị gia tăng và tự chủ chiến lược.
Thứ hai, tiềm lực KHCN góp phần hiện đại hóa công nghệ, đổi mới dây chuyền sản xuất quốc phòng. Thông qua năng lực tiếp cận, hấp thụ và ứng dụng công nghệ mới, tiềm lực KHCN thúc đẩy các cơ sở CNQP chuyển đổi từ phương thức sản xuất thủ công, bán thủ công sang sản xuất tự động hóa cao, kết hợp công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI); đồng thời, cho phép đánh giá đúng đắn công nghệ nào cần đầu tư, công nghệ nào có thể làm chủ trong nước, từ đó định hướng đổi mới dây chuyền sản xuất một cách có chọn lọc và hiệu quả, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm quốc phòng và tăng khả năng cạnh tranh của CNQP trên thị trường khu vực và quốc tế.
Thứ ba, tiềm lực KHCN góp phần phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNQP. Tiềm lực KHCN mạnh tạo ra môi trường nghiên cứu chuyên sâu, kích thích sự phát triển của các nhóm nghiên cứu, các chuyên gia đầu ngành và các nhà khoa học trẻ. Ngược lại, đội ngũ nhân lực KHCN chất lượng cao chính là biểu hiện cốt lõi của tiềm lực KHCN. Trong lĩnh vực CNQP, mối quan hệ biện chứng này đặc biệt quan trọng: các chương trình nghiên cứu lớn vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện hình thành đội ngũ chuyên gia kỹ thuật quân sự có trình độ cao; các viện nghiên cứu, học viện trong quân đội vừa là nơi đào tạo nhân lực, vừa là cơ sở nghiên cứu triển khai trực tiếp phục vụ CNQP.
Thứ tư, tiềm lực KHCN góp phần phát triển CNQP lưỡng dụng, tăng cường sự gắn kết giữa quốc phòng và kinh tế. Phát triển CNQP lưỡng dụng là xu hướng tất yếu của mọi nền CNQP hiện đại, đã được Đảng ta xác định là định hướng chiến lược. Sự phát triển của KHCN đã xóa mờ ranh giới cứng giữa công nghệ quân sự và dân sự, tạo ra nhiều công nghệ có thể ứng dụng linh hoạt cho cả hai khu vực, cho phép các cơ sở CNQP thiết kế sản phẩm ngay từ giai đoạn ban đầu theo tư duy lưỡng dụng, khai thác hiệu quả cùng một dây chuyền công nghệ cho cả sản phẩm quân sự và kinh tế, từ đó tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Thứ năm, tiềm lực KHCN góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chiến lược, quy hoạch và định hướng phát triển CNQP. Sự phát triển của KHCN trong lĩnh vực quân sự dẫn đến sự ra đời của các phương thức tác chiến, hình thái chiến tranh mới. Thông qua các chương trình nghiên cứu các cuộc chiến tranh, xung đột quân sự trên thế giới, sự phát triển của vũ khí, trang bị kỹ thuật và phương thức tác chiến hiện đại sẽ cung cấp luận cứ khoa học vững chắc và thực tiễn sinh động để hoạch định đường lối, chính sách phát triển CNQP. Từ đó giúp nhận diện đúng xu hướng phát triển của chiến tranh hiện đại, xác định các lĩnh vực công nghệ cần ưu tiên, lựa chọn đối tác hợp tác phù hợp, bảo đảm CNQP phát triển đúng hướng, hiệu quả và bền vững.
2. Thực trạng vai trò của tiềm lực khoa học, công nghệ trong phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam
Trong những năm qua, tiềm lực KHCN đã từng bước được phát huy, tạo ra những bước tiến đáng ghi nhận trong phát triển CNQP Việt Nam, cụ thể:
Một là, tiềm lực KHCN góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và cải tiến VKTBKT. Hàng năm, ngành CNQP đề xuất, xây dựng và chủ trì thực hiện nhiều chương trình, đề án KHCN các cấp, như nghiên cứu làm chủ công nghệ chế tạo tên lửa phòng không tầm thấp Igla; Đề án nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số loại VKTBKT mới giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Giai đoạn 2020-2024, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng triển khai 273 đề tài các cấp, trong đó có 137 sản phẩm VKTBKT đủ điều kiện đưa vào áp dụng sản xuất loạt, sản xuất loạt “0”(1). Đến năm 2025, toàn ngành triển khai gần 600 đề tài, nhiệm vụ KHCN và hoàn thành, nghiệm thu hơn 100 đề tài(2). Nhiều hệ thống vũ khí phòng không, radar, tàu chiến, thiết bị tác chiến điện tử được nâng cấp, hiện đại hóa vượt trội. Tập đoàn Viettel đã giới thiệu trên 120 sản phẩm CNQP công nghệ cao thuộc 10 ngành, trong đó có radar, quang điện tử, tác chiến điện tử, thông tin quân sự, huấn luyện mô phỏng, chỉ huy - điều khiển, UAV, hàng không vũ trụ, tác chiến không gian mạng và an ninh mạng, thể hiện bước tiến đáng kể trong năng lực làm chủ tích hợp hệ thống vũ khí công nghệ cao. Tỷ lệ nội địa hóa nhiều sản phẩm quốc phòng đạt trên 80%, có sản phẩm đạt trên 90% trong các lĩnh vực cơ khí chính xác, vật liệu nổ và thông tin liên lạc quân sự(3).
Hai là, tiềm lực KHCN góp phần thúc đẩy hiện đại hóa công nghệ và đổi mới dây chuyền sản xuất quốc phòng. Lực lượng CNQP nòng cốt hiện có 64 cơ sở sản xuất, sửa chữa VKTBKT và 15 cơ sở nghiên cứu, thiết kế, đào tạo(4). Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) đã làm chủ hoàn toàn hệ sinh thái công nghệ 5G từ nghiên cứu, thiết kế đến sản xuất, trở thành doanh nghiệp duy nhất ở Đông Nam Á được tổ chức Gartner ghi danh về năng lực 5G Open RAN(5). Ngành đóng tàu quân sự ứng dụng phần mềm thiết kế 3D, hàn tự động, cắt CNC, bảo đảm đóng các tàu cỡ lớn như tàu pháo tuần tiễu TT-4000TP, tàu tên lửa tấn công nhanh, tàu tuần tra DN-2000, TT-400 và nhiều chủng loại tàu chuyên dụng khác(6). Nhiều nhà máy đã ứng dụng robot công nghiệp, hệ thống CNC thế hệ mới, phần mềm quản trị ERP và các chương trình Kaizen, 5S, đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001:2015.
Ba là, tiềm lực KHCN có đóng góp quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực KHCN quốc phòng. Tính đến năm 2025, toàn ngành CNQP có 6% cán bộ trình độ tiến sĩ, 27% thạc sĩ và 67% đại học, cao đẳng(7). Nhiều đơn vị đã hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh về tự động hóa, động cơ tên lửa, laser, đầu tự dẫn, thiết bị không người lái và nghiên cứu chuyên sâu về đất hiếm, sinh học quân sự, AI, chip chuyên dụng, hạt nhân - lượng tử như Học viện Kỹ thuật Quân sự; Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự nhằm mục tiêu đột phá về KHCN để làm chủ thiết kế, công nghệ chế tạo các sản phẩm chiến lược, VKTBKT mới(8). Hệ thống liên kết doanh nghiệp - viện nghiên cứu - nhà trường ngày càng được củng cố, tạo nền tảng cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong CNQP.
Bốn là, tiềm lực KHCN thúc đẩy phát triển CNQP theo hướng lưỡng dụng. Nhiều doanh nghiệp quốc phòng sản xuất đa dạng hàng hóa kinh tế trong các lĩnh vực điện tử - viễn thông, đóng tàu, vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí, may mặc. Sản phẩm đóng tàu đã xuất khẩu cho hơn 40 quốc gia trên thế giới. Công nghệ 5G của Viettel đang thúc đẩy hệ sinh thái số, mở ra các mô hình kinh doanh mới trong khu vực dân sự. Hiện có 37 cơ sở động viên công nghiệp và 211 cơ sở đủ điều kiện động viên công nghiệp tham gia sản xuất CNQP(9), phản ánh sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa CNQP và nền kinh tế quốc dân.
Năm là, tiềm lực KHCN cung cấp luận cứ khoa học, thực tiễn cho hoạch định chiến lược phát triển CNQP. Kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và dự báo xu hướng phát triển KHCN quân sự hiện đại đã trực tiếp góp phần hình thành cơ sở khoa học để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo; Quốc hội ban hành Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội…
Bên cạnh những thành tựu, tiềm lực KHCN trong phát triển CNQP Việt Nam vẫn còn một số hạn chế:
Thứ nhất, năng lực tự chủ công nghệ còn thấp, còn phụ thuộc đáng kể vào công nghệ nhập khẩu. Công nghiệp quốc phòng hiện nay phần lớn chưa làm chủ được các công nghệ nền tảng và công nghệ lõi, nhất là vật liệu mới, vi điện tử, tự động hóa chính xác cao, điều khiển - dẫn đường, công nghệ số tích hợp. Trình độ công nghệ của nhiều doanh nghiệp CNQP còn lạc hậu so với các nước tiên tiến. Tỷ lệ nội địa hóa vũ khí hiện đại chỉ đạt khoảng 40-50%, trong khi các linh kiện quan trọng như chip, cảm biến, vật liệu đặc chủng phần lớn vẫn phải nhập khẩu(10).
Thứ hai, hiệu quả ứng dụng thành tựu KHCN vào nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm quốc phòng công nghệ cao còn hạn chế. Hoạt động KHCN còn có mặt chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn, chưa tạo được nhiều sản phẩm đưa vào trang bị; nhiều nhiệm vụ KHCN nghiên cứu, chế tạo VKTBKT công nghệ cao, có ý nghĩa chiến lược chưa được triển khai thực hiện kịp thời; chưa có nhiều sản phẩm ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại (như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn…)(11).
Thứ ba, đội ngũ nhân lực KHCN quốc phòng chưa thật sự mạnh và đồng bộ. Còn thiếu chuyên gia đầu ngành và “tổng công trình sư” có khả năng chủ trì các chương trình, đề án lớn, thiết kế các hệ thống vũ khí hiện đại, phức tạp, tích hợp đa ngành. Các lĩnh vực mới như vi điện tử, AI, vật liệu tiên tiến thiếu nhân lực trình độ cao, trong khi chính sách đãi ngộ chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân tài(12).
Thứ tư, mối liên kết giữa CNQP và công nghiệp dân dụng trong chuyển giao, khai thác công nghệ lưỡng dụng còn yếu. Cơ chế, chính sách thúc đẩy hợp tác KHCN giữa quốc phòng và dân sự còn thiếu đồng bộ, nhiều quy định rải rác, thiếu liên thông. Hoạt động chuyển giao công nghệ lưỡng dụng phát triển chậm, chưa hình thành được hệ sinh thái ĐMST tích hợp. Tỷ lệ nhiệm vụ KHCN có sự tham gia đồng thời của đơn vị quốc phòng và doanh nghiệp dân sự còn thấp(13).
Thứ năm, công tác hoạch định chiến lược, quy hoạch và đầu tư phát triển tiềm lực KHCN quốc phòng chưa theo kịp yêu cầu hiện đại hóa. Một số quy hoạch, kế hoạch còn mang tính ngắn hạn, thiếu liên kết giữa các giai đoạn và lộ trình rõ ràng. Cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học còn rườm rà, thiếu linh hoạt; chính sách khuyến khích ĐMST, chấp nhận rủi ro chưa được hình thành đầy đủ. Cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu và quản lý sản xuất quốc phòng, thực hiện nhiệm vụ động viên công nghiệp chưa đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành. Đối tượng doanh nghiệp và lĩnh vực công nghệ được động viên công nghiệp còn hẹp, chưa sát với thực tiễn(14).
3. Giải pháp phát huy vai trò của tiềm lực khoa học, công nghệ trong phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam
Để tiếp tục phát huy vai trò của tiềm lực KHCN trong phát triển CNQP, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của Bộ Quốc phòng trong phát triển tiềm lực KHCN quốc phòng.
Tiếp tục quán triệt và thực hiện nhất quán Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và chuyển đổi số trong Quân đội. Trong đó, cần xác lập tư duy mới: KHCN là “lực lượng sản xuất trực tiếp”, là “đòn bẩy chiến lược” của CNQP, không phải là lĩnh vực hỗ trợ hay phụ trợ. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ KHCN, ĐMST; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách; biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu, ứng dụng KHCN vào sản xuất CNQP.
Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ giữa công nghiệp quốc phòng và công nghiệp dân sự.
Xây dựng và ban hành hệ thống cơ chế, chính sách chuyên biệt, đồng bộ và có tính hệ thống để điều chỉnh trực tiếp việc chuyển giao công nghệ lưỡng dụng giữa CNQP và công nghiệp dân sự, khắc phục tình trạng các quy định hiện hành còn rải rác, thiếu liên thông. Tiếp tục cải cách mạnh mẽ cơ chế tài chính cho hoạt động KHCN quốc phòng theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù sáng tạo khoa học; thực hiện phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra thay vì đầu vào; đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán; cho phép tái đầu tư một phần lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu vào KHCN. Đặc biệt, phải hình thành cơ chế khuyến khích ĐMST, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, tạo môi trường an toàn để các nhà khoa học dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám đặt ra các mục tiêu nghiên cứu đột phá.
Ba là, phát triển và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp quốc phòng.
Tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm R&D, cơ sở thử nghiệm chuyên dụng trong các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ mũi nhọn có ý nghĩa chiến lược như: vật liệu tiên tiến, vi điện tử, điều khiển - dẫn đường, AI ứng dụng quân sự, UAV, tác chiến điện tử, an ninh mạng. Xây dựng và vận hành hiệu quả các “nhà máy thông minh”, dây chuyền sản xuất số hóa và tự động hóa cao trong các cơ sở CNQP trọng yếu. Thiết lập cơ chế chia sẻ và khai thác chung hạ tầng KHCN giữa khu vực quốc phòng và dân sự, giữa các cơ sở nghiên cứu trong nội bộ Quân đội, nhằm tránh đầu tư trùng lặp, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước và tạo ra sức mạnh cộng hưởng trong nghiên cứu triển khai.
Bốn là, phát triển đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ quốc phòng chất lượng cao, có khả năng làm chủ và sáng tạo công nghệ hiện đại.
Đây là giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài nhất, bởi con người là nhân tố quyết định trong phát triển KHCN. Theo đó, cần xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển nhân lực KHCN quốc phòng có tầm nhìn đến năm 2035 và xa hơn, trong đó ưu tiên đào tạo các chuyên gia đầu ngành, “tổng công trình sư” có khả năng chủ trì các chương trình nghiên cứu lớn, thiết kế và tích hợp hệ thống vũ khí phức tạp. Tăng cường liên kết với đào tạo tại các cơ sở hàng đầu thế giới, nhất là trong các lĩnh vực: trí tuệ nhân tạo, vi điện tử, vật liệu mới, công nghệ không gian, tác chiến điện tử và an ninh mạng đề đào tạo đội ngũ cán bộ KHCN. Xây dựng chính sách đãi ngộ, tôn vinh và sử dụng nhân tài đủ sức cạnh tranh với khu vực tư nhân và quốc tế; tạo môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, hiện đại và có đủ điều kiện để các nhà khoa học phát huy hết năng lực sáng tạo.
Năm là, khai thác hiệu quả tiềm lực khoa học, công nghệ trong phát triển công nghệ lưỡng dụng phục vụ công nghiệp quốc phòng.
Thực hiện nhất quán chủ trương phát triển CNQP lưỡng dụng theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW và Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp năm 2024. Cần thiết kế ngay từ đầu các sản phẩm quốc phòng theo tư duy lưỡng dụng; xây dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ, bền vững giữa các doanh nghiệp CNQP với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng và hỗ trợ. Hình thành các thiết chế trung gian kết nối thị trường công nghệ, tạo thuận lợi cho chuyển giao công nghệ hai chiều giữa quốc phòng và dân sự. Đẩy mạnh phát triển công nghệ lưỡng dụng trong các lĩnh vực: viễn thông, điện tử, AI, mô phỏng, an ninh mạng, vật liệu mới, cơ khí chính xác, đóng tàu - những lĩnh vực vừa đáp ứng nhu cầu quân sự, vừa có tiềm năng thương mại hóa cao.
Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ phục vụ công nghiệp quốc phòng.
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ quốc tế ngày càng gay gắt, hợp tác quốc tế là con đường không thể thiếu để Việt Nam tiếp cận nhanh hơn các thành tựu công nghệ quân sự tiên tiến, rút ngắn khoảng cách với các cường quốc. Cần chủ động mở rộng hợp tác nghiên cứu khoa học với các đối tác chiến lược có nền công nghệ quốc phòng tiên tiến, trên cơ sở bảo đảm độc lập chủ quyền, không để phụ thuộc công nghệ vào bất kỳ đối tác nào. Tích cực tham gia các chương trình hợp tác KHCN quân sự đa phương, các diễn đàn trao đổi công nghệ quốc phòng khu vực và quốc tế. Tranh thủ tối đa các cơ hội chuyển giao công nghệ, đào tạo chuyên gia khi nhập khẩu trang bị quân sự; xây dựng các điều khoản “nội địa hóa bắt buộc” trong các hợp đồng mua sắm quốc phòng. Phát huy vai trò của cộng đồng khoa học kỹ thuật người Việt ở nước ngoài như một cầu nối tri thức công nghệ quan trọng.
Phát huy vai trò của tiềm lực KHCN trong phát triển CNQP không chỉ là đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mà còn là yêu cầu tất yếu của quy luật phát triển trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Những thành tựu đạt được trong những năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối lãnh đạo của Đảng, đồng thời mở ra những triển vọng cho sự phát triển của CNQP Việt Nam./.
--------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Hồng Sơn (2025), Thành quả ban đầu của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng trong tự chủ công nghệ lõi, Tạp chí Công nghiệp quốc phòng và kinh tế, số đặc biệt, tr.77.
2, 3. Ninh Cơ (2025), Phát huy nội lực, xây dựng công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, hiện đại, https://nhandan.vn/phat-huy-noi-luc-xay-dung-cong-nghiep-quoc-phong-luong-dung-hien-dai-post899882.html.
4, 5. Nhĩ Anh (2025), 10 dấu ấn Khoa học và Công nghệ nổi bật năm 2025, https://vneconomy.vn/10-dau-an-khoa-hoc-va-cong-nghe-noi-bat-nam-2025.htm?utm_source=chatgpt.com, ngày 20/12/2025.
6. Nguyễn Đình Hoàn (2024), Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu Khoa học - Công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp quốc phòng, Tạp chí Công nghiệp quốc phòng và kinh tế, số 4 (201).
7, 12. Dương Văn Yên (2026), Thực trạng đội ngũ cán bộ kỹ thuật và nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, tài năng phục vụ xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, Kỷ yếu Hội thảo: Đào tạo tài năng - giải pháp đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Hà Nội, tr. 50.
8. Văn Hiếu (2026), Hiện đại hóa Quân đội phải coi trọng tự chủ công nghệ, https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/hien-dai-hoa-quan-doi-phai-coi-trong-tu-chu-cong-nghe-1026471, ngày 18/02/2026.
9. Bộ Quốc phòng (2024), Đề án Đẩy mạnh hợp tác, nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm công nghiệp quốc phòng, Hà Nội.
10. Nguyễn Kim Tuyến (2026), Xây dựng công nghiệp quốc phòng tự lực, lưỡng dụng và hiện đại trong tình hình mới, https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/xay-dung-cong-nghiep-quoc-phong-tu-luc-luong-dung-va-hien-dai-trong-tinh-hinh-moi-139066.html, ngày 10/01/2026.
11. Nguyễn Hồng Sơn (2026), Bứt phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026, Tạp chí công nghiệp quốc phòng và kinh tế, số 1 (211), tr.59.
13. Nguyễn Đình Hoàn (2024), Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu Khoa học - Công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp quốc phòng, Tạp chí Công nghiệp quốc phòng và kinh tế, số 4 (201).
14. Nguyễn Hương (2024), Sự cần thiết xây dựng và ban hành Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp, https://cand.com.vn/van-de-hom-nay-thoi-su/xay-dung-ban-hanh-luat-dap-ung-yeu-cau-thuc-tien-bai-cuoi--i731213/, ngày 15/5/2024.
ThS Phạm Quang Hải - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả