Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Phát huy tinh thần “6 dám” của cán bộ trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 11/07/2026   15:43
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Tinh thần “6 dám” của cán bộ là biểu hiện của bản lĩnh chính trị, trách nhiệm công vụ, năng lực đổi mới và khát vọng phụng sự Nhân dân. Trên cơ sở làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần “6 dám” của cán bộ, bài viết đánh giá thực trạng phát huy tinh thần này trong đội ngũ cán bộ hiện nay; từ đó đề xuất một số giải pháp phát huy tinh thần “6 dám” của cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Cán bộ; tinh thần “6 dám”; tư tưởng Hồ Chí Minh.

Abstract: The “six dares” spirit of cadres reflects political steadfastness, public-duty responsibility, innovative capacity, and the aspiration to serve the People. By clarifying Ho Chi Minh’s Ideology on the “six dares” spirit of cadres, this article assesses the current state of promoting this spirit among cadres today; on that basis, it proposes several solutions to further foster the “six dares” spirit of cadres to meet the requirements of national development in the new era.

Keywords: Cadres; “six dares” spirit; Ho Chi Minh’s Ideology.

1. Đặt vấn đề

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của cán bộ. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1); “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(2). Với Người, cán bộ không chỉ cần trung thành, liêm chính, mà còn phải có bản lĩnh hành động, tinh thần phụ trách, năng lực đổi mới và dám vượt qua khó khăn, thử thách vì lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Trong kỷ nguyên mới, yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đang đặt ra đòi hỏi ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ. Cán bộ không chỉ cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách vì lợi ích chung. Vì vậy, phát huy tinh thần “6 dám” của cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu cấp thiết, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, trách nhiệm và khát vọng cống hiến trong giai đoạn hiện nay.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần “6 dám” của cán bộ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp sử dụng khái niệm “6 dám” theo cách diễn đạt như hiện nay, nhưng trong toàn bộ quan điểm của Người về cán bộ, đạo đức cách mạng, tinh thần phụ trách, tự phê bình và phê bình, phục vụ Nhân dân chứa đựng sâu sắc nội hàm của tinh thần ấy. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, cái “dám” của cán bộ không phải là sự liều lĩnh, tùy tiện, chủ quan, mà là bản lĩnh chính trị, trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân và trước công việc được giao. Cán bộ phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và hành động vì lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Trước hết, dám nghĩ. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh là dám suy nghĩ độc lập, sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn, không giáo điều, máy móc, không rập khuôn theo lối cũ. Người yêu cầu: “công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận”(3). Đồng thời, Người nhấn mạnh: “Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo”(4). Vì vậy, dám nghĩ không phải là nghĩ khác để thể hiện cá nhân, càng không phải là suy nghĩ chủ quan, duy ý chí, mà là dám nghiên cứu, dám tìm tòi, dám đề xuất cái đúng, cái mới, cái phù hợp với yêu cầu của cách mạng; biết phát hiện vấn đề, nhận ra điểm nghẽn trong thực tiễn và mạnh dạn đưa ra cách làm mới, phương án mới, giải pháp mới vì lợi ích chung.

Thứ hai, dám nói. Là dám bày tỏ chính kiến, dám nói thẳng, nói thật, nói đúng, nói có trách nhiệm vì Đảng, vì dân và vì sự tiến bộ của tổ chức. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dám nói gắn liền với thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình. Người yêu cầu phải “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”(5), đồng thời nhấn mạnh: “Người lãnh đạo muốn biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của mình, muốn biết công tác của mình tốt hay xấu, không gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh bạo đề ra ý kiến và phê bình”(6). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng phê phán nghiêm khắc tình trạng cán bộ không dám bài tỏ ý kiến của mình. Theo Người, “Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ”(7). Như vậy, dám nói theo tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là dám mạnh dạn nêu ý kiến, dám góp ý, dám phê bình, dám phản ánh đúng thực tiễn trên tinh thần trung thực, khách quan, xây dựng. Đó không phải là nói tùy tiện, nói cực đoan hay công kích cá nhân, mà là nói đúng sự thật, đúng vấn đề, đúng lúc, đúng nơi, với động cơ trong sáng và trách nhiệm vì công việc chung.

Thứ ba, dám làm. Là dám hành động, dám tổ chức thực hiện nhiệm vụ, dám xông vào việc khó, việc mới, việc phức tạp vì lợi ích chung. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dám làm luôn gắn với tinh thần trách nhiệm, với phương châm nói đi đôi với làm, chống bệnh nói suông, làm việc hình thức, xa rời thực tiễn. Người căn dặn cán bộ phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”(8), không được chỉ ngồi bàn giấy, chỉ ra mệnh lệnh mà không trực tiếp bám việc, sát dân, sát cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng phê phán thái độ sợ sai, sợ trách nhiệm đến mức không dám hành động: “suốt đời chỉ khoanh tay quỳ gối trong cảnh nô lệ mà không dám vùng lên”(9). Dám làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là làm tùy tiện, chủ quan, nóng vội, mà là dám biến nhận thức đúng thành hành động cụ thể; dám nhận việc, bám việc, làm đến nơi đến chốn; dám vượt qua tâm lý an toàn, cầm chừng để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Cán bộ dám làm là người không chỉ nghĩ đúng, nói đúng, mà còn biết tổ chức thực hiện đúng, hiệu quả, có trách nhiệm và vì lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Thứ tư, dám chịu trách nhiệm. Là biểu hiện cốt lõi của tinh thần phụ trách. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dám nghĩ, dám nói, dám làm phải đi liền với dám phụ trách, dám chịu trách nhiệm về công việc được giao, về quyết định đã lựa chọn và về kết quả tổ chức thực hiện. Người phê phán gay gắt lối đào tạo, sử dụng cán bộ thụ động, nhút nhát, chỉ biết làm theo mệnh lệnh mà không có bản lĩnh phụ trách. Người chỉ rõ: “nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(10). Vì vậy, cán bộ không thể làm việc theo kiểu an toàn, cầm chừng, né tránh, chỉ chăm chăm “đúng quy trình” một cách máy móc để không phải chịu trách nhiệm, mà phải có gan phụ trách, dám nhận việc, dám quyết định trong phạm vi thẩm quyền, dám chịu trách nhiệm đến cùng với nhiệm vụ, quyết định và kết quả công việc. Dám chịu trách nhiệm cũng bao hàm cả dám nhìn nhận hạn chế, dám nhận sai, dám sửa sai, dám tự phê bình khi có khuyết điểm; không tranh công, đổ lỗi, không đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể, cấp trên, cấp dưới hoặc hoàn cảnh khách quan.

Thứ năm, dám đổi mới sáng tạo. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dám đổi mới sáng tạo là dám vượt qua lối làm việc cũ kỹ, bảo thủ, trì trệ; biết cải tiến phương pháp, phát huy sáng kiến, tìm cách làm hiệu quả hơn để phục vụ cách mạng và Nhân dân tốt hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chấp nhận sự máy móc, giáo điều, càng không chấp nhận lối làm việc quan liêu, xa thực tiễn, xa dân. Người luôn yêu cầu cán bộ phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát quần chúng, biết học hỏi kinh nghiệm hay, cách làm tốt, không ngừng cải tiến công việc. Người khẳng định: “Sáng kiến và kinh nghiệm là của quý chung cho cả dân tộc. Chúng ta phải ra sức làm cho nó dồi dào thêm và lan rộng mãi”(11). Dám đổi mới sáng tạo trước hết là dám phát hiện những bất cập trong tư duy, phương pháp, quy trình, cách thức tổ chức thực hiện; dám đề xuất cái mới, cách làm mới, mô hình mới khi cái cũ không còn phù hợp hoặc kém hiệu quả.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới sáng tạo không phải là hành động tùy tiện, chủ quan hay làm khác để thể hiện cá nhân, mà phải dựa trên mục tiêu đúng, căn cứ thực tiễn, tinh thần khoa học và lợi ích chung. Cán bộ dám đổi mới sáng tạo phải biết kết hợp giữa kế thừa và phát triển, giữa nguyên tắc và linh hoạt, giữa kỷ luật và sáng kiến; đồng thời phải có năng lực tổ chức thực hiện để biến ý tưởng đúng thành kết quả cụ thể. Cái “dám” ở đây không chỉ là dám nghĩ ra điều mới, mà còn là dám thay đổi lối làm việc trì trệ, dám khắc phục bệnh hình thức, dám tháo gỡ điểm nghẽn, dám thử nghiệm những giải pháp phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đó là tinh thần đổi mới có trách nhiệm, có kỷ luật, có cơ sở và hướng tới hiệu quả phục vụ Nhân dân.

Thứ sáu, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và hành động vì lợi ích chung. Là điểm hội tụ cao nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần “dám” của cán bộ. Người căn dặn: “Yêu nước thì việc gì có lợi cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức làm cho kỳ được. Điều gì có hại cho nhân dân, dù khó mấy cũng phải ra sức trừ cho kỳ hết”(12). Đây là thước đo cao nhất đối với động cơ, bản lĩnh và hành động của cán bộ. Cán bộ dám đương đầu không phải để khẳng định cá nhân, càng không phải để làm trái nguyên tắc, mà là dám vượt khó, dám bảo vệ cái đúng, dám đấu tranh với cái sai, dám làm những việc có lợi cho dân, dù khó khăn, phức tạp đến đâu.

Thực tiễn trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tinh thần dám nhận trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân. Sau những sai lầm trong cải cách ruộng đất, Người đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội và quốc dân đồng bào. Đó không chỉ là biểu hiện của văn hóa chính trị cao đẹp, mà còn là minh chứng sinh động cho tinh thần dám nói thật, dám nhận sai, dám chịu trách nhiệm và dám sửa chữa khuyết điểm. Từ đó có thể thấy, tinh thần “6 dám” theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn gắn liền với đạo đức cách mạng, với tự phê bình và phê bình, với trách nhiệm nêu gương và với mục tiêu tối thượng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Tinh thần “6 dám” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa bản lĩnh và đạo đức, giữa đổi mới và kỷ luật, giữa hành động và trách nhiệm, giữa cá nhân cán bộ và lợi ích chung. Nếu thiếu đạo đức, cái “dám” có thể biến thành chủ quan, liều lĩnh, vụ lợi. Nếu thiếu năng lực, cái “dám” có thể trở thành nóng vội, duy ý chí. Nếu thiếu trách nhiệm, cái “dám” có thể dẫn đến tùy tiện, sai phạm. Vì vậy, phát huy tinh thần “6 dám” hiện nay phải đồng thời xây dựng động cơ trong sáng, năng lực thực tiễn, cơ chế bảo vệ cán bộ và kỷ luật công vụ nghiêm minh.

3. Thực trạng phát huy tinh thần “6 dám” của cán bộ trong giai đoạn hiện nay

Trong thời gian qua, tinh thần “6 dám” của đội ngũ cán bộ đã được quan tâm, khuyến khích và từng bước cụ thể hóa trong thực tiễn. Nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là ở cơ sở, đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm, chủ động tham mưu, đề xuất sáng kiến, đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, giải quyết những vấn đề bức xúc của Nhân dân. Ở nhiều địa phương, đơn vị, những cách làm mới trong xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, xử lý điểm nghẽn trong quản lý đô thị, đất đai, đầu tư công, giáo dục, y tế… đã cho thấy vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo và dám hành động vì lợi ích chung.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc phát huy tinh thần “6 dám” vẫn còn không ít hạn chế. Đáng chú ý là tình trạng một bộ phận cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, sợ bị kiểm tra, sợ va chạm, dẫn đến né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng, chỉ chọn việc dễ, đẩy việc khó lên cấp trên hoặc sang cơ quan khác. Tâm lý “an toàn là trên hết” ở một số nơi làm giảm động lực đổi mới, làm chậm quá trình xử lý công việc, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và niềm tin của Nhân dân. Đại hội XIV của Đảng nhìn nhận: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, không dám làm, không dám đổi mới sáng tạo”(13). Điều đó cho thấy, tinh thần dám làm, dám đổi mới sáng tạo chưa được phát huy đồng đều; ở một số nơi còn bị lấn át bởi tâm lý phòng thủ, giữ mình, sợ va chạm, sợ trách nhiệm.

Một số cán bộ chưa thực sự dám nghĩ, dám nói. Trong sinh hoạt cấp ủy, cơ quan, đơn vị, vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại góp ý, ngại phản biện; thấy đúng không bảo vệ đến cùng, thấy sai không đấu tranh kịp thời. Có nơi, cán bộ có năng lực, có ý tưởng mới nhưng chưa mạnh dạn đề xuất vì lo ngại không được lắng nghe, không được chia sẻ trách nhiệm, thậm chí bị quy kết là “khác biệt”, “vượt rào”. Điều này làm cho nguồn lực sáng tạo trong hệ thống chưa được phát huy đầy đủ; đồng thời làm suy giảm chất lượng dân chủ, tự phê bình và phê bình trong tổ chức.

Một bộ phận cán bộ chưa dám làm, dám chịu trách nhiệm. Biểu hiện dễ thấy là chậm tham mưu, chậm xử lý hồ sơ, chậm ban hành quyết định; việc gì có lợi ích rõ thì làm, việc gì khó, nhạy cảm thì trì hoãn; việc thuộc thẩm quyền nhưng vẫn xin ý kiến nhiều vòng để tránh trách nhiệm cá nhân. Có trường hợp cán bộ không sai phạm rõ ràng nhưng không tạo ra chuyển biến, không giải quyết được việc khó, không có sản phẩm cụ thể; làm việc theo lối cầm chừng, an toàn, thiếu quyết liệt. Điều này làm giảm hiệu quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhất là trong những lĩnh vực cần đổi mới, cần xử lý nhanh, cần quyết định kịp thời.

Cá biệt, có nơi còn nhầm lẫn giữa “dám làm” với làm trái nguyên tắc, giữa “đổi mới sáng tạo” với tùy tiện, thiếu căn cứ pháp lý. Một số trường hợp lợi dụng danh nghĩa đổi mới, sáng tạo để làm sai quy định, gây thất thoát, lãng phí. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhận thức đúng tinh thần “6 dám”: khuyến khích cán bộ dám làm vì lợi ích chung, nhưng không dung túng cho sự liều lĩnh, chủ quan, vụ lợi, vi phạm kỷ luật, pháp luật. Nói cách khác, tinh thần “6 dám” phải được đặt trong khuôn khổ nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thẩm quyền được giao, trách nhiệm giải trình và sự giám sát của tổ chức, Nhân dân.

Những hạn chế trên có nguyên nhân từ cả nhận thức, năng lực và cơ chế. Về nhận thức, một số cán bộ chưa hiểu đúng tinh thần “6 dám”, chưa thấy đây là yêu cầu về đạo đức công vụ, trách nhiệm chính trị và năng lực hành động trong giai đoạn mới. Về năng lực, không ít cán bộ còn thiếu kiến thức pháp luật, kỹ năng phân tích chính sách, năng lực dự báo, năng lực quản trị rủi ro, nên dù muốn đổi mới nhưng còn lúng túng trong tham mưu, tổ chức thực hiện. Về cơ chế, việc đánh giá, sử dụng, khen thưởng, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm ở một số nơi chưa thật rõ ràng, chưa tạo được niềm tin đủ mạnh để cán bộ yên tâm đổi mới vì lợi ích chung. Bên cạnh đó, những bất cập về thể chế và tổ chức thực thi cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát huy tinh thần “6 dám” của cán bộ. Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn một số quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với thực tiễn; tổ chức thi hành pháp luật còn chưa tốt, cải cách thủ tục hành chính vẫn còn nhiều vướng mắc”(14). Trong điều kiện đó, nếu không kịp thời hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo vệ cán bộ, thì tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo rất dễ bị kìm hãm bởi tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm. Vì vậy, phát huy tinh thần “6 dám” không chỉ là vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất cá nhân cán bộ, mà còn là yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách, xây dựng môi trường công vụ minh bạch, an toàn và khuyến khích đổi mới vì lợi ích chung.

4. Giải pháp phát huy tinh thần “6 dám” của cán bộ hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Một là, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tinh thần “6 dám” chỉ có thể được phát huy thực chất khi cán bộ có môi trường thể chế đủ rõ để hành động, đủ chặt chẽ để kiểm soát rủi ro và đủ nhân văn để bảo vệ người làm đúng, làm vì lợi ích chung. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Kiên quyết khắc phục tình trạng “cào bằng” trong đánh giá cán bộ; chậm thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; không ghi nhận, bảo vệ và sử dụng cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có sản phẩm, có uy tín”(15). Quan điểm đó đặt ra yêu cầu phải xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ một cách cụ thể, minh bạch, có tiêu chí rõ ràng, nhất là đối với những việc mới, việc khó, việc chưa có tiền lệ. Bảo vệ cán bộ dám làm không có nghĩa là bao che sai phạm, mà là phân biệt công bằng giữa sai sót khách quan trong quá trình đổi mới với hành vi cố ý làm trái, vụ lợi, thiếu trách nhiệm. Vì vậy, cơ chế khuyến khích phải đi liền với cơ chế kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và đánh giá khách quan; vừa khơi thông động lực đổi mới, vừa giữ vững kỷ luật, kỷ cương.

Hai là, đổi mới công tác đánh giá, lựa chọn, sử dụng cán bộ theo kết quả, sản phẩm và năng lực thực chất. Một trong những nguyên nhân làm suy giảm tinh thần “6 dám” là cách đánh giá nặng về an toàn, hình thức, ít chú trọng đến sản phẩm, hiệu quả và đóng góp thực tế. Nếu cán bộ làm việc cầm chừng, không sai nhưng cũng không tạo ra chuyển biến vẫn được đánh giá như người dám nhận việc khó, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm, thì sẽ khó tạo động lực cho hành động sáng tạo. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ đánh giá theo quá trình sang đánh giá theo kết quả; từ nhận xét chung chung sang đo bằng chất lượng tham mưu, tiến độ xử lý công việc, mức độ hài lòng của Nhân dân, năng lực tháo gỡ điểm nghẽn, sản phẩm cụ thể và uy tín thực tiễn. Trong lựa chọn cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước giai đoạn mới, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cần ưu tiên “những người có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có tầm nhìn và năng lực tham gia hoạch định chính sách kiến tạo cho phát triển địa phương và đất nước trong giai đoạn mới”(16). Điều đó cho thấy, công tác cán bộ phải trở thành động lực thúc đẩy tinh thần “6 dám”: người có năng lực, có sản phẩm, có uy tín, dám nhận việc khó phải được ghi nhận, sử dụng và bảo vệ; người né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu phải được nhắc nhở, kiểm điểm, điều chuyển hoặc thay thế kịp thời.

Ba là, nâng cao năng lực thực tiễn, năng lực pháp lý, năng lực quản trị rủi ro và khả năng thích ứng của cán bộ trong điều kiện mới. Dám nghĩ, dám làm phải đi liền với biết nghĩ đúng, làm đúng và làm hiệu quả. Nếu chỉ có nhiệt huyết mà thiếu tri thức, thiếu phương pháp, thiếu hiểu biết pháp lý và thiếu năng lực quản trị rủi ro, tinh thần “dám” rất dễ rơi vào chủ quan, nóng vội, thậm chí sai lệch. Ngược lại, nếu có kiến thức, có bản lĩnh, có kỹ năng và có quy trình chặt chẽ, cán bộ sẽ tự tin hơn khi tham mưu, quyết định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về phân tích chính sách, pháp luật, quản trị công, chuyển đổi số, kỹ năng tham mưu, kỹ năng đối thoại với Nhân dân, kỹ năng nhận diện, dự báo và kiểm soát rủi ro. Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị”(17). Tinh thần học tập suốt đời vì thế không chỉ là yêu cầu nâng cao trình độ, mà còn là điều kiện để cán bộ có đủ năng lực hành động, đủ tự tin đổi mới và đủ bản lĩnh chịu trách nhiệm trước những nhiệm vụ phức tạp của kỷ nguyên mới.

Bốn là, phát huy dân chủ, tự phê bình và phê bình, tạo môi trường để cán bộ dám nói, dám đề xuất, dám phản biện. Muốn cán bộ dám nói thì tổ chức phải có dân chủ thực chất; muốn cán bộ dám đề xuất thì người đứng đầu phải biết lắng nghe; muốn cán bộ dám phản biện thì môi trường làm việc phải tôn trọng sự thật và ý kiến khác biệt vì mục tiêu chung. Cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần khuyến khích cán bộ nói thật, nói thẳng, góp ý có trách nhiệm, phản biện có căn cứ; đồng thời bảo vệ người nói đúng, nói thật, không định kiến, quy chụp hoặc làm thui chột những ý tưởng mới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức cách mạng muốn tiến bộ phải có gan nhìn thẳng vào sự thật, “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó”(18). Vì vậy, phát huy dân chủ không chỉ là mở rộng quyền được nói, mà còn là xây dựng năng lực biết nghe, biết tiếp thu, biết sửa chữa của tổ chức và người đứng đầu. Một tập thể dám nghe sự thật, dám nhận khuyết điểm, dám sửa chữa sai lầm sẽ tạo ra môi trường chính trị lành mạnh, trong đó cán bộ có thể yên tâm đổi mới, mạnh dạn chịu trách nhiệm và hành động vì lợi ích chung.

Năm là, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, xây dựng văn hóa công vụ liêm chính, phụng sự và kiểm soát quyền lực hiệu quả. Người đứng đầu là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến khí chất hành động của cả cơ quan, đơn vị. Ở đâu người đứng đầu dám nghĩ, dám làm, công tâm, minh bạch, biết lắng nghe, biết bảo vệ cán bộ dưới quyền, ở đó tinh thần đổi mới sáng tạo có điều kiện phát triển. Ngược lại, nếu người đứng đầu bảo thủ, né tránh, sợ trách nhiệm, không dám quyết, không dám bảo vệ cái đúng, thì tinh thần “6 dám” rất dễ bị thay thế bằng tâm lý phòng thủ, giữ mình, làm việc cầm chừng. Vì vậy, cần gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả đổi mới, chất lượng thực thi công vụ, mức độ hài lòng của Nhân dân và khả năng phát huy của cán bộ trong cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải xây dựng văn hóa công vụ liêm chính, phụng sự, lấy Nhân dân làm trung tâm; cán bộ phải gần dân, hiểu dân, trọng dân, học dân, có trách nhiệm với dân, coi lợi ích chính đáng và niềm tin của Nhân dân là thước đo hiệu quả công vụ. Cùng với khuyến khích đổi mới, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực để tinh thần “6 dám” đi đúng hướng; không để danh nghĩa dám nghĩ, dám làm bị lợi dụng nhằm hợp thức hóa lợi ích nhóm, vi phạm kỷ luật, pháp luật. Đó cũng là cách bảo vệ tinh thần “6 dám” một cách bền vững: khuyến khích cái đúng, bảo vệ người tốt, ngăn ngừa cái sai và giữ vững mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Tinh thần “6 dám” của cán bộ là sự vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, đạo đức cách mạng và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Đó là cái “dám” có nguyên tắc, có kỷ luật, có trí tuệ, có đạo đức và hướng tới lợi ích chung, không phải sự liều lĩnh hay tùy tiện. Trong kỷ nguyên mới, phát huy tinh thần “6 dám” là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; đồng thời khơi dậy năng lực đổi mới sáng tạo trong đội ngũ cán bộ. Khi tinh thần ấy được nuôi dưỡng bằng đạo đức cách mạng, được bảo đảm bằng thể chế và được kiểm chứng bằng hiệu quả phục vụ Nhân dân, đội ngũ cán bộ sẽ có thêm bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước./.

-----------------------------

Ghi chú:

1, 8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG-ST, H. 2011, tr.309, tr.233.

2, 3, 4, 5, 6, 7, 10, 18. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H. 2011, tr.290, tr.283, tr.315, tr.319, tr.319-320, tr.320, tr.301.

9.  Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG-ST, H. 2011, tr.508.

11. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG-ST, H. 2011, tr.404.

12. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H. 2011, tr.497.

13, 14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.68, tr.69.

15. Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thông báo số 90-TB/VPTW ngày 10/6/2026 về “Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về trọng tâm công tác xây dựng Đảng, công tác tổ chức, cán bộ”, tr.3.

16. Tô Lâm, Phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, ngày 05/11/2025.

17. Tô Lâm, “Học tập suốt đời”, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, ngày 02/3/2025.

TS Vũ Lộc An - Phó Hiệu trưởng Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, Thành phố Hà Nội

Bài viết cùng tác giả