Từ khóa: Báo cáo tài chính nhà nước; chuẩn mực kế toán công; trách nhiệm giải trình; tài chính công; minh bạch.
Abstract: The development of Vietnam’s public sector accounting standards has gradually established a common framework for the recognition, presentation, and disclosure of financial information in the public sector. This article analyzes relevant legal documents, synthesizes secondary data, and evaluates the current framework against normative requirements for transparency and accountability. Based on the findings, the article proposes seven key measures: improving public sector accounting standards and related accounting regulations; standardizing public financial data; enhancing the disclosure of the State Financial Statements; clearly defining the responsibilities of agency heads and chief accountants; strengthening the monitoring of audit recommendations; improving the capacity of accounting personnel; and developing a set of performance indicators to assess implementation outcomes.
Keywords: State Financial Statements; public sector accounting standards; accountability; public finance; transparency.
Khóa đào tạo Chuẩn mực kế toán công quốc tế do
Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán phối hợp với Ngân hàng Thế giới và Cục
Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ tổ chức tại Hà Nội.
Minh bạch và trách nhiệm giải trình là hai yêu cầu gắn liền với quá trình quản lý nguồn lực công. Bên cạnh việc sử dụng kinh phí đúng dự toán và đúng chế độ, cơ quan, đơn vị còn phải giải thích nguồn lực đã được quản lý như thế nào, tài sản và nghĩa vụ tài chính phát sinh ra sao, cũng như kết quả đạt được từ khoản kinh phí đã sử dụng. Một hệ thống thông tin chỉ phản ánh số thu và số chi sẽ chưa đủ để nhận diện đầy đủ tình hình tài chính, các rủi ro đang tồn tại và hiệu quả quản lý nguồn lực công.
Quy mô thu, chi và các nghĩa vụ tài chính phát sinh cho thấy thông tin kế toán công cần được trình bày chi tiết hơn thay vì chỉ dừng ở kết quả thực hiện dự toán. Năm 2024, tổng thu ngân sách nhà nước đạt gần 2,06 triệu tỷ đồng, tương đương 121% dự toán; tổng chi gần 2,15 triệu tỷ đồng, đạt 98,8% dự toán. Đến ngày 31/12/2024, nợ thuế vượt 204 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với năm trước. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 81,8%, nhưng tỷ lệ đối với nguồn vốn nước ngoài chỉ đạt 51,8%. Từng chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh riêng của quản lý tài chính công và đặt ra những yêu cầu thông tin khác nhau về khả năng thu hồi khoản phải thu, tiến độ hình thành tài sản và nghĩa vụ chuyển sang kỳ sau.
Theo Quyết định số 1299/QĐ-BTC ngày 31/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Đề án công bố hệ thống Chuẩn mực kế toán công Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng 21 chuẩn mực. Bộ Tài chính sau đó tổ chức ba đợt công bố vào các năm 2021, 2022 và 2024, với tổng cộng 16 chuẩn mực, tương ứng 76,2% mục tiêu của Đề án. Quá trình này được bổ sung bởi Thông tư số 24/2024/TT-BTC về chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp, áp dụng từ ngày 01/01/2025 và Nghị định số 140/2026/NĐ-CP ngày 16/4/2026 về Báo cáo tài chính nhà nước. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng cho việc thống nhất cách thu thập, xử lý và tổng hợp thông tin tài chính công.
Khuôn khổ khái niệm của Hội đồng Chuẩn mực kế toán công quốc tế xác định báo cáo tài chính khu vực công phải cung cấp thông tin có ích cho cả việc ra quyết định và đánh giá trách nhiệm đối với nguồn lực đã được giao. Trong phạm vi bài viết này, minh bạch được hiểu là khả năng tiếp cận thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời, có thể so sánh và kiểm chứng. Trách nhiệm giải trình có phạm vi rộng hơn: chủ thể quản lý không chỉ cung cấp số liệu mà còn phải giải thích quyết định, làm rõ kết quả và chịu sự đánh giá đối với cách thức sử dụng nguồn lực công.
Công bố báo cáo mới chỉ đáp ứng một phần yêu cầu này. Trách nhiệm giải trình chỉ trở nên cụ thể khi xác định được người có nghĩa vụ giải thích, nội dung cần giải trình, thời hạn phản hồi và cơ chế xử lý nếu sai sót không được khắc phục. Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cũng cho thấy trách nhiệm giải trình có vai trò quan trọng trong mối liên hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kết quả hoạt động của các tổ chức công tại Việt Nam.
Khi áp dụng cơ sở dồn tích, thông tin kế toán không còn giới hạn ở dòng tiền đã thu hoặc đã chi. Báo cáo còn phản ánh tài sản, khoản phải thu, khoản phải trả, doanh thu, chi phí và các nghĩa vụ có thể phát sinh trong tương lai. Nhờ đó, việc đánh giá trách nhiệm quản lý có thể mở rộng từ tuân thủ dự toán sang bảo toàn tài sản, kiểm soát nghĩa vụ tài chính và nhận diện rủi ro.
16 chuẩn mực đã được công bố điều chỉnh nhiều nội dung trọng yếu, từ trình bày báo cáo tài chính, lưu chuyển tiền tệ và tài sản đến doanh thu, chi phí, dự phòng, nghĩa vụ tiềm tàng, nhượng quyền dịch vụ và hợp đồng thuê. Phạm vi này cho phép hệ thống báo cáo phản ánh rõ hơn các nguồn lực cũng như nghĩa vụ mà đơn vị công đang quản lý.
Trong số các chuẩn mực đã ban hành, VPSAS 24 có liên hệ trực tiếp với hoạt động giám sát ngân sách do yêu cầu trình bày thông tin dự toán trong báo cáo tài chính. Việc đặt số thực hiện bên cạnh dự toán được phê duyệt, kèm theo giải thích về các chênh lệch trọng yếu, tạo thêm căn cứ để xem xét mức độ tuân thủ và khả năng tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào việc các yêu cầu của chuẩn mực được chuyển hóa như thế nào vào chế độ kế toán, quy trình nghiệp vụ và hệ thống dữ liệu của từng nhóm đơn vị.
Bảng 1. Các chuẩn mực kế toán công Việt Nam đã được công bố
|
Đợt công bố |
Số lượng |
Các chuẩn mực |
Nội dung chủ yếu |
|
Năm 2021 |
5 |
VPSAS 01, 02, 12, 17, 31 |
Báo cáo tài chính; lưu chuyển tiền tệ; hàng tồn kho; tài sản cố định hữu hình; tài sản vô hình |
|
Năm 2022 |
6 |
VPSAS 05, 09, 11, 14, 23, 24 |
Chi phí đi vay; doanh thu; hợp đồng xây dựng; sự kiện sau kỳ kế toán; dự toán và thực hiện ngân sách |
|
Năm 2024 |
5 |
VPSAS 03, 04, 19, 32, 43 |
Chính sách và sai sót kế toán; tỷ giá; dự phòng; nhượng quyền dịch vụ; hợp đồng thuê |
|
Tổng cộng |
16 |
16/21 chuẩn mực theo Đề án |
Đạt 76,2% số chuẩn mực dự kiến |
Nguồn: Tổng hợp từ các Quyết định số 1676/QĐ-BTC, Quyết định số 1366/QĐ-BTC và Quyết định số 1351/QĐ-BTC.
Thông tư số 24/2024/TT-BTC được áp dụng từ ngày 01/01/2025 và thay đổi đáng kể chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp. Một yêu cầu quan trọng là đơn vị phải phản ánh đầy đủ tài sản hiện có trên sổ kế toán. Hệ thống báo cáo theo Thông tư gồm báo cáo tình hình tài chính, báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh.
Đối với phạm vi toàn quốc và từng địa phương, Nghị định số 140/2026/NĐ-CP xác định cấu phần của Báo cáo tài chính nhà nước, gồm báo cáo tình hình tài chính, báo cáo kết quả hoạt động tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh. Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công khai báo cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày báo cáo trước Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Khả năng thực thi các quy định này không chỉ phụ thuộc vào biểu mẫu báo cáo. Chất lượng đầu ra còn chịu ảnh hưởng của mức độ đầy đủ của dữ liệu và khả năng đối chiếu thông tin giữa cơ quan thu, Kho bạc Nhà nước, đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan quản lý tài sản và chính quyền địa phương.
Số liệu tài chính công năm 2024 cho thấy việc đánh giá tình hình quản lý nguồn lực cần nhiều thông tin hơn số thực thu và thực chi. Ví dụ, khoản nợ thuế trên 204 nghìn tỷ đồng, cần được phân tích thêm theo thời gian phát sinh, khả năng thu hồi và mức độ rủi ro. Với tỷ lệ giải ngân vốn nước ngoài ở mức 51,8% và 11.615 dự án hoàn thành nhưng chậm quyết toán, thông tin cần cho phép đối chiếu giữa số vốn đã bố trí, khối lượng thực hiện, tài sản hình thành và nghĩa vụ chưa thanh toán.
Kinh phí chuyển nguồn gần 1,44 triệu tỷ đồng, tương ứng 40,1% tổng chi, và nợ công trên 3,91 triệu tỷ đồng, bằng 34,03% GDP, phản ánh những nội dung khác nhau của tài chính công. Khi trình bày trên báo cáo, từng khoản mục cần có thuyết minh phù hợp về nguyên nhân, cơ cấu, kỳ hạn, chi phí và rủi ro liên quan. Các số liệu này được sử dụng để xác định nhu cầu thông tin, không phải để quy kết trực tiếp kết quả quản lý cho việc có hay chưa có một chuẩn mực kế toán cụ thể.
Bảng 2. Một số chỉ tiêu về ngân sách và tài chính công năm 2024
|
Chỉ tiêu |
Kết quả |
|
Tổng thu ngân sách nhà nước |
Gần 2,06 triệu tỷ đồng; đạt 121% dự toán |
|
Tổng chi ngân sách nhà nước |
Gần 2,15 triệu tỷ đồng; đạt 98,8% dự toán |
|
Nợ thuế đến ngày 31/12/2024 |
Trên 204 nghìn tỷ đồng; tăng 10,5% |
|
Giải ngân vốn đầu tư công |
81,8% |
|
Giải ngân vốn nước ngoài |
51,8% |
|
Dự án hoàn thành chậm quyết toán |
11.615 dự án |
|
Kinh phí chuyển nguồn |
Gần 1,44 triệu tỷ đồng; bằng 40,1% tổng chi |
|
Nợ công |
Trên 3,91 triệu tỷ đồng; bằng 34,03% GDP |
Nguồn: Kiểm toán nhà nước.
Open Budget Survey 2023 (Khảo sát Ngân sách Mở năm 2023 được thực hiện bởi Tổ chức Hợp tác Ngân sách Quốc tế) chấm Việt Nam đạt 51/100 điểm về minh bạch ngân sách, 19/100 điểm về sự tham gia của công chúng và 82/100 điểm về giám sát ngân sách. Kết quả phản ánh các tài liệu, sự kiện và hoạt động đến ngày 31/12/2022, trước khi các quy định kế toán và Báo cáo tài chính nhà nước mới được ban hành.
Trong phạm vi khảo sát, điểm tham gia của công chúng ở giai đoạn thực hiện ngân sách và kiểm toán đều bằng 0. Chênh lệch giữa điểm giám sát ngân sách 82/100 và điểm tham gia của công chúng 19/100 cho thấy hoạt động giám sát chính thức được đánh giá cao hơn các cơ chế để công chúng tham gia và phản hồi. Nhận định này chỉ có giá trị trong phạm vi và kỳ đánh giá của Open Budget Survey 2023.
Đến ngày 31/12/2024, các kiến nghị xử lý tài chính và kiến nghị khác đã thực hiện đạt 41.624,48/49.940,10 tỷ đồng, tương đương 83,35%; số chưa thực hiện là 8.315,63 tỷ đồng. Trong 214 kiến nghị về văn bản, 67 nội dung đã hoàn thành; 80/111 báo cáo có kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm đã được thực hiện toàn bộ hoặc một phần.
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về minh bạch và thực hiện trách nhiệm giải trình
|
Chỉ tiêu |
Kết quả |
|
Điểm minh bạch ngân sách |
51/100 |
|
Điểm tham gia của công chúng |
19/100 |
|
Điểm giám sát ngân sách |
82/100 |
|
Kiến nghị xử lý tài chính và kiến nghị khác đã thực hiện |
41.624,48/49.940,10 tỷ đồng; đạt 83,35% |
|
Kiến nghị chưa thực hiện |
8.315,63 tỷ đồng; chiếm 16,65% |
|
Kiến nghị về văn bản đã hoàn thành |
67/214 nội dung |
|
Báo cáo có kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần |
80/111 báo cáo |
Nguồn: International Budget Partnership và Kiểm toán nhà nước.
Một vướng mắc đáng chú ý là mức độ chuyển hóa chuẩn mực vào chế độ kế toán, quy trình nghiệp vụ và phần mềm chưa đồng đều giữa các nhóm đơn vị. Khi mã định danh, thời điểm khóa sổ hoặc cách phân loại giao dịch không thống nhất, cơ quan tổng hợp phải dành thêm thời gian cho đối chiếu và điều chỉnh. Điều này có thể ảnh hưởng đến tiến độ cũng như tính nhất quán của báo cáo.
Vướng mắc khác nằm ở khả năng sử dụng thông tin sau khi công khai. Một báo cáo kỹ thuật dù được đăng tải đúng hạn vẫn khó phục vụ giám sát nếu thiếu phần giải thích biến động, bản tóm tắt dễ tiếp cận hoặc dữ liệu có thể khai thác lại. Bên cạnh đó, năng lực xét đoán kế toán và phân tích dữ liệu còn khác nhau giữa các đơn vị, trong khi trách nhiệm đối với chất lượng số liệu chưa được phân định rõ ở mọi khâu.
Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam và các chế độ kế toán liên quan. Năm chuẩn mực còn lại cần được xây dựng trên cơ sở khoảng trống thông tin và khả năng áp dụng; 16 chuẩn mực đã công bố cần được đối chiếu với chế độ kế toán ngân sách, hành chính, sự nghiệp, kho bạc và tài sản công.
Thứ hai, chuẩn hóa dữ liệu tài chính công theo nguyên tắc một giao dịch được ghi nhận tại nguồn và sử dụng thống nhất cho nhiều mục đích. Mã định danh đơn vị, dự án, tài sản, hợp đồng và nguồn vốn cần được liên thông; mọi điều chỉnh sau khóa sổ phải được lưu vết và phê duyệt.
Thứ ba, công khai Báo cáo tài chính nhà nước theo hướng dễ tiếp cận và có thể sử dụng. Cùng với báo cáo đầy đủ, cần công bố bản tóm tắt các biến động trọng yếu và dữ liệu có cấu trúc để so sánh giữa các năm, các cấp ngân sách.
Thứ tư, xác định trách nhiệm giải trình theo từng lớp thông tin. Người đứng đầu chịu trách nhiệm về tài sản, nghĩa vụ, cam kết và rủi ro được báo cáo; người phụ trách kế toán chịu trách nhiệm về chính sách kế toán và chất lượng số liệu. Chênh lệch trọng yếu và sai sót sau kiểm toán phải có giải trình, biện pháp và thời hạn khắc phục.
Thứ năm, tăng cường theo dõi kiến nghị kiểm toán. Mỗi kiến nghị cần có đơn vị chịu trách nhiệm, giá trị tài chính, thời hạn và trạng thái xử lý; kết quả thực hiện phải được công khai và sử dụng trong đánh giá cơ quan, đơn vị và người đứng đầu.
Thứ sáu, nâng cao năng lực đội ngũ kế toán công và cán bộ tổng hợp Báo cáo tài chính nhà nước. Bồi dưỡng cần tập trung vào kế toán dồn tích, đánh giá tài sản, dự phòng, nghĩa vụ tiềm tàng, phân tích hợp đồng, đối chiếu dữ liệu và lập thuyết minh.
Thứ bảy, thiết lập bộ chỉ tiêu kết quả, gồm tỷ lệ gửi dữ liệu và công khai báo cáo đúng hạn, tỷ lệ tài sản đủ hồ sơ, tỷ lệ chênh lệch trọng yếu có giải trình, tỷ lệ kiến nghị kiểm toán được thực hiện và số sai sót phải điều chỉnh sau kiểm toán.
Công bố 16 Chuẩn mực kế toán công Việt Nam, áp dụng chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp mới và hoàn thiện quy định về Báo cáo tài chính nhà nước đã tạo nền tảng quan trọng cho đổi mới quản lý tài chính công. Các chuẩn mực mở rộng phạm vi thông tin từ thu, chi ngân sách sang tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí, dòng tiền và nghĩa vụ tiềm tàng.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu về minh bạch ngân sách và thực hiện kiến nghị kiểm toán cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa lập báo cáo, sử dụng thông tin, giải trình và khắc phục. Khoảng cách này đòi hỏi sự đồng bộ giữa chuẩn mực, chế độ kế toán, dữ liệu, công khai, kiểm toán và trách nhiệm của người đứng đầu.
Chuẩn mực kế toán công chỉ phát huy giá trị khi thông tin được ghi nhận trung thực, tổng hợp nhất quán, công bố kịp thời và gắn với xử lý sau giám sát. Hoàn thiện chuỗi trách nhiệm này góp phần nâng cao kỷ luật tài chính, hiệu quả sử dụng nguồn lực công và chất lượng quản trị nhà nước./.
------------------------------------
1. Bộ Tài chính, Quyết định số 1299/QĐ-BTC ngày 31/7/2019 phê duyệt Đề án công bố hệ thống Chuẩn mực kế toán công Việt Nam.
2. Bộ Tài chính, Quyết định số 1676/QĐ-BTC ngày 01/9/2021 công bố 05 Chuẩn mực kế toán công Việt Nam đợt 1.
3. Bộ Tài chính, Quyết định số 1366/QĐ-BTC ngày 06/7/2022 công bố 06 Chuẩn mực kế toán công Việt Nam đợt 2.
4. Bộ Tài chính, Quyết định số 1351/QĐ-BTC ngày 14/6/2024 công bố 05 Chuẩn mực kế toán công Việt Nam đợt 3.
5. Bộ Tài chính, Thông tư số 24/2024/TT-BTC ngày 17/4/2024 hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp.
6. Chính phủ, Nghị định số 140/2026/NĐ-CP ngày 16/4/2026 về Báo cáo tài chính nhà nước.
7. Bộ Tài chính, “Nâng cao năng lực xây dựng chuẩn mực kế toán công theo chuẩn quốc tế”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, ngày 15/4/2026.
8. Kiểm toán nhà nước,“Thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán năm 2024 có nhiều chuyển biến”, ngày 09/7/2025.
9. Kiểm toán nhà nước, “Tổng Kiểm toán nhà nước báo cáo Quốc hội kết quả kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024”, ngày 09/4/2026.
10. International Budget Partnership (2024), Open Budget Survey 2023: Vietnam. Washington. DC.
11.International Public Sector Accounting Standards Board (2023), The Conceptual Framework for General Purpose Financial Reporting by Public Sector Entities. International Federation of Accountants. New York.
12. Tran, Y.T., Nguyen, N.P. and Hoang, T.C. (2021), “The role of accountability in determining the relationship between financial-reporting quality and the performance of public organizations: Evidence from Vietnam”. Journal of Accounting and Public Policy. 40(1). 106801. https://doi.org/10.1016/j.jaccpubpol.2020.106801.
ThS Nguyễn Minh Diệu Cầm, Trường Đại học Kinh tế (UEB) - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả