Từ khóa: Giai cấp công nhân; kỷ nguyên mới; sứ mệnh lịch sử; vai trò của giai cấp công nhân; Việt Nam.
Abstract: In the context of globalization, the Fourth Industrial Revolution, economic restructuring, and the rapid transformation of the labor market, the Vietnamese working class is facing increasingly demanding requirements in terms of political steadfastness, professional qualifications, vocational skills, the ability to master science and technology, industrial work discipline, and organizational awareness. Based on an analysis of the characteristics, context, and historical mission of the Vietnamese working class in the new era, this article proposes several solutions to build a modern, strong, and highly capable working class that meets the requirements of national development and contributes to the successful cause of building and defending the Socialist Republic of Vietnam.
Keywords: Working class; new era; historical mission; role of the working class; Vietnam.
Ảnh minh họa.
1. Đặt vấn đề
Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội hiện đại. Ở Việt Nam, giai cấp công nhân ra đời và trưởng thành gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là lực lượng nòng cốt trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam không ngừng phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu; trực tiếp tham gia tạo ra của cải vật chất, tiếp nhận, vận hành công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động và đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia. Sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và các phương thức tổ chức sản xuất mới đang làm biến đổi sâu sắc cơ cấu nghề nghiệp, nội dung và phương thức lao động của giai cấp công nhân. Bối cảnh đó đòi hỏi việc xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân phải gắn chặt với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm, bối cảnh, sứ mệnh của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh và phát huy đầy đủ vai trò của giai cấp này trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
2. Giai cấp công nhân Việt Nam và sứ mệnh trong kỷ nguyên mới
2.1. Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới
“Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”(1). Đây là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giữ vai trò đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức(2). Ra đời và trưởng thành gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giai cấp công nhân Việt Nam có lợi ích căn bản thống nhất với lợi ích của dân tộc và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam phát triển nhanh về số lượng, đồng thời biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động và môi trường làm việc. Theo Cục Thống kê, năm 2025, cả nước có 52,4 triệu lao động có việc làm, tăng 578,3 nghìn người so với năm 2024(3). Trong 06 tháng đầu năm 2026, số lao động có việc làm đạt 52,6 triệu người; trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng có khoảng 17,8 triệu người, chiếm 33,9%; khu vực dịch vụ có khoảng 21,6 triệu người, chiếm 40,9%(4). Sự phát triển của các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ hiện đại đang mở rộng không gian việc làm, làm phong phú cơ cấu nghề nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam.
Bên cạnh đội ngũ công nhân trong các ngành công nghiệp truyền thống, lực lượng công nhân làm việc trong những ngành, lĩnh vực có hàm lượng khoa học và công nghệ cao ngày càng gia tăng. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định, “khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc, là động lực then chốt để phát triển đất nước”(5); tập trung phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng và các ngành công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Những định hướng đó đang làm biến đổi cơ cấu nghề nghiệp, nội dung lao động và phương thức tổ chức sản xuất, từ đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với trình độ và năng lực của giai cấp công nhân. Nhu cầu về công nhân kỹ thuật, công nhân có kỹ năng số, có khả năng vận hành thiết bị tự động, làm chủ công nghệ và thích ứng với môi trường sản xuất hiện đại ngày càng tăng.
Xu hướng trí thức hóa giai cấp công nhân ngày càng rõ nét. Một bộ phận công nhân, nhất là công nhân trẻ, có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng tiếp cận công nghệ mới ngày càng cao; tác phong lao động chuyển biến theo hướng công nghiệp, chuyên nghiệp và hiện đại. Tuy nhiên, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 mới đạt 29,2%(6); trong 06 tháng đầu năm 2026 đạt 29,7%(7), cho thấy nguồn nhân lực đã qua đào tạo chính quy còn chiếm tỷ lệ thấp. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nghề, đào tạo lại và bồi dưỡng kỹ năng, qua đó nâng cao chất lượng và thúc đẩy quá trình trí thức hóa giai cấp công nhân Việt Nam.
2.2. Bối cảnh và những yêu cầu mới đối với giai cấp công nhân Việt Nam
Kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Quá trình này thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp hiện đại, dịch vụ công nghiệp và những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, đồng thời làm biến đổi nhanh cơ cấu nghề nghiệp, nội dung và phương thức lao động của giai cấp công nhân. Công nhân không chỉ trực tiếp vận hành máy móc, thiết bị và dây chuyền sản xuất mà ngày càng tham gia sâu hơn vào các khâu đòi hỏi trình độ kỹ thuật, năng lực quản lý và khả năng ứng dụng công nghệ trong chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng. Bối cảnh đó tạo điều kiện mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, đồng thời đòi hỏi cơ cấu và năng lực của giai cấp công nhân phải được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
Cùng với đó, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, dữ liệu lớn và công nghệ số, đang làm thay đổi sâu sắc lực lượng sản xuất, mô hình quản trị và tổ chức lao động. Đảng ta xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại”(8). Điều này mở ra cơ hội để công nhân tiếp cận công nghệ tiên tiến, giảm lao động nặng nhọc và nâng cao năng suất, nhưng đồng thời làm gia tăng nguy cơ tụt hậu về trình độ, kỹ năng, chuyển dịch hoặc mất việc làm đối với lao động giản đơn. Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng cũng đòi hỏi giai cấp công nhân phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn về năng lực chuyên môn, chất lượng lao động, kỷ luật, an toàn và khả năng thích ứng với môi trường sản xuất hiện đại.
Trước bối cảnh đó, giai cấp công nhân Việt Nam phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ giai cấp, ý thức dân tộc và trách nhiệm công dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, giai cấp công nhân phải thường xuyên nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực số và khả năng đổi mới sáng tạo; chủ động học tập, đào tạo lại, tiếp nhận, làm chủ và cải tiến công nghệ. Quá trình trí thức hóa giai cấp công nhân cần gắn với xây dựng đội ngũ công nhân trẻ có trình độ, kỹ năng nghề nghiệp cao, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh với sự biến đổi của sản xuất.
Đồng thời, giai cấp công nhân cần rèn luyện tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần hợp tác và trách nhiệm trong lao động; nâng cao hiểu biết pháp luật, năng lực đối thoại và khả năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng. Đáp ứng đồng bộ những yêu cầu đó là điều kiện để giai cấp công nhân Việt Nam thích ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và thị trường lao động, nâng cao năng suất, chất lượng lao động và phát huy vai trò trong kỷ nguyên mới.
2.3. Sứ mệnh của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Một là, thực hiện sứ mệnh chính trị, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; củng cố khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Việc phát hiện, bồi dưỡng công nhân ưu tú để kết nạp vào Đảng, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ công nhân có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
Hai là, đi đầu trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là lực lượng trực tiếp tham gia quá trình sản xuất công nghiệp và vận hành cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế, giai cấp công nhân có trách nhiệm tiếp nhận, làm chủ, ứng dụng và cải tiến công nghệ; tích cực tham gia chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới phương thức tổ chức sản xuất. Sứ mệnh đó được thể hiện tập trung ở năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động và khả năng tạo ra sản phẩm có hàm lượng khoa học, công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Ba là, tiên phong trong lao động sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Công nhân trong kỷ nguyên mới không chỉ thành thạo nghề nghiệp mà còn phải có năng lực số, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng và tinh thần “học tập suốt đời”(9). Thông qua sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao chất lượng sản phẩm, giai cấp công nhân trực tiếp góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(10).
Bốn là, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, thực hiện công bằng xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Giai cấp công nhân cần phát huy ý thức tổ chức, kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội; chủ động tham gia đối thoại, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với doanh nghiệp, cộng đồng và đất nước. Bằng lao động có năng suất, chất lượng và kỷ luật, nhất là trong các ngành, lĩnh vực kinh tế, công nghệ và hạ tầng trọng yếu, giai cấp công nhân góp phần củng cố tiềm lực quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Sứ mệnh của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới là sự thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị với nhiệm vụ kinh tế - xã hội; giữa phát triển lực lượng sản xuất hiện đại với xây dựng quan hệ lao động tiến bộ. Thực hiện đầy đủ sứ mệnh đó là điều kiện để giai cấp công nhân phát huy vị trí tiên phong, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Một số giải pháp phát huy vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xác định xây dựng giai cấp công nhân là nhiệm vụ chiến lược, gắn với xây dựng Đảng, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Các chủ trương của Đảng phải được cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch và chính sách phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, địa bàn và loại hình doanh nghiệp; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động và giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân gắn với nâng cao trách nhiệm, ý thức tổ chức, kỷ luật và hiệu quả lao động.
Hai là, đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị và ý thức trách nhiệm của công nhân. Nội dung giáo dục cần gắn lý luận với những vấn đề trực tiếp đặt ra trong đời sống, việc làm và quan hệ lao động; làm rõ vị trí, vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hình thức tuyên truyền phải phù hợp với đặc điểm công nhân trẻ, công nhân trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường sử dụng nền tảng số, mạng xã hội và các thiết chế văn hóa tại khu công nghiệp. Cùng với giáo dục lý tưởng, đạo đức nghề nghiệp và lòng yêu nước, cần trang bị kiến thức pháp luật, kỹ năng đối thoại, khả năng nhận diện và đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc, qua đó củng cố niềm tin của công nhân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ba là, xây dựng giai cấp công nhân có trình độ, kỹ năng nghề nghiệp cao, đẩy mạnh quá trình trí thức hóa giai cấp công nhân. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp cần được đổi mới theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và biến đổi của thị trường lao động. Chương trình đào tạo phải chú trọng phát triển kỹ năng số, khả năng vận hành thiết bị tự động, trình độ ngoại ngữ, tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xanh và năng lực thích ứng với sự thay đổi của công nghệ. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ đào tạo lại, đào tạo nâng cao và chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động chịu tác động của tự động hóa; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo tại chỗ, tăng cường liên kết với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và bố trí, sử dụng lao động phù hợp với trình độ, năng lực. Mỗi công nhân cần hình thành ý thức học tập thường xuyên, chủ động nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ.
Bốn là, tạo môi trường và cơ chế để công nhân phát huy năng lực sáng tạo, tích cực tham gia phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Doanh nghiệp cần xây dựng môi trường làm việc dân chủ, khuyến khích công nhân đề xuất sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đổi mới quy trình sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm. Cần hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, đánh giá, áp dụng, khen thưởng sáng kiến và bảo đảm lợi ích chính đáng của người lao động có giải pháp mang lại hiệu quả. Các phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo phải gắn với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Qua đó, công nhân không chỉ thực hiện các quy trình công nghệ mà còn trực tiếp tham gia cải tiến sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.
Năm là, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ. Chính sách tiền lương cần bảo đảm tương xứng với năng suất, chất lượng và giá trị lao động, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thiết yếu của công nhân và gia đình. Nhà nước, chính quyền địa phương và doanh nghiệp cần ưu tiên giải quyết những vấn đề như nhà ở, trường học, cơ sở y tế, giao thông, thiết chế văn hóa và các dịch vụ xã hội tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động; kịp thời xử lý các hành vi nợ lương, chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, vi phạm quy định về an toàn lao động và xâm phạm quyền lợi của người lao động. Đồng thời, tăng cường đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và giải quyết tranh chấp lao động ngay từ cơ sở, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.
Sáu là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn, tăng cường xây dựng tổ chức đảng và phát huy lực lượng nòng cốt trong công nhân. Tổ chức công đoàn cần hướng mạnh hoạt động về cơ sở, nhất là tại doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thực hiện tốt chức năng đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng công nhân ưu tú để giới thiệu kết nạp vào Đảng; quan tâm đào tạo, quy hoạch và sử dụng cán bộ trưởng thành từ công nhân, nhất là công nhân trẻ, công nhân kỹ thuật cao và công nhân trực tiếp sản xuất. Đồng thời, tiếp tục củng cố liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong xây dựng và phát triển đất nước. Xây dựng đội ngũ công nhân tiêu biểu, có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, ý thức kỷ luật và uy tín là cơ sở hình thành lực lượng nòng cốt, dẫn dắt các phong trào lao động, sản xuất và tham gia xây dựng hệ thống chính trị.
Kỷ nguyên mới tạo ra những điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân Việt Nam phát triển về quy mô, cơ cấu và chất lượng, đồng thời đặt ra những yêu cầu cao hơn trước sự biến đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ, phương thức sản xuất và thị trường lao động. Trong bối cảnh đó, sự trưởng thành của giai cấp công nhân không chỉ được thể hiện ở số lượng lao động mà trước hết ở bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực làm chủ công nghệ, tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm đối với doanh nghiệp, cộng đồng và đất nước.
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội, đồng thời cần khơi dậy ý thức tự học tập, tự rèn luyện và khát vọng cống hiến của mỗi công nhân. Khi được tạo điều kiện phát triển toàn diện, được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, giai cấp công nhân sẽ phát huy tốt hơn tiềm năng, sức sáng tạo và trách nhiệm xã hội, góp phần hiện thực hóa “hai mục tiêu chiến lược 100 năm, để đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, là nước xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”(11)./.
----------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 67, Nxb CTQG-ST, H.2018, tr.72.
2. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3, 6. Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/.
4, 7. Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng đầu năm 2026, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/07/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-ii-va-6-thang-dau-nam-2026/.
5, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.60, tr.210.
8. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tr.1.
9. Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: Học tập suốt đời, https://baochinhphu.vn/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-hoc-tap-suot-doi-102250301172143439.htm, ngày 02/3/2025.
11. Toàn văn: Phát biểu nhậm chức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-nham-chuc-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-119260407100601921.htm.
ThS Nguyễn Tuấn Phong - Trường Chính trị tỉnh Lào Cai
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả