Việc triển khai đồng bộ các chính sách bảo tồn di sản văn hóa, phát triển du lịch cộng đồng và nâng cao năng lực của người dân đã từng bước hình thành mô hình phát triển dựa trên khai thác hợp lý các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương.
Khơi dậy giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực phát triển
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc đều sở hữu hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, bao gồm tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội, tín ngưỡng, nghệ thuật trình diễn dân gian, nghề thủ công truyền thống, kiến trúc, ẩm thực và kho tàng tri thức bản địa được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đây là những giá trị đặc sắc góp phần tạo nên sự đa dạng trong nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, đồng thời là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng.
Tuy nhiên, trước tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Một số tiếng nói, chữ viết của các dân tộc rất ít người dần ít được sử dụng; nhiều nghề thủ công truyền thống gặp khó khăn trước sự cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp; không ít lễ hội, nghi thức văn hóa có nguy cơ bị biến đổi hoặc thương mại hóa; trong khi lớp trẻ ngày càng ít có điều kiện tiếp cận và kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chương trình mục tiêu quốc gia đã triển khai Dự án 6 với nhiều nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ, hướng tới mục tiêu vừa gìn giữ bản sắc văn hóa, vừa khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Theo kế hoạch, Chương trình triển khai khoảng 320 lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể; hỗ trợ khoảng 200 dự án sưu tầm, phục dựng, bảo tồn các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một; bảo tồn 120 lễ hội truyền thống và 80 làng, bản, buôn tiêu biểu phục vụ phát triển du lịch; xây dựng 240 mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống, 800 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian; đầu tư xây dựng 3.590 thiết chế văn hóa, thể thao cấp thôn và hỗ trợ xây dựng 80 điểm đến du lịch tiêu biểu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Điểm nổi bật của Chương trình là chuyển từ tư duy bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát huy giá trị, coi cộng đồng là chủ thể của quá trình bảo tồn và hưởng lợi trực tiếp từ các giá trị văn hóa. Thông qua phát triển du lịch cộng đồng, nhiều yếu tố văn hóa truyền thống được đưa trở lại đời sống thường nhật, tạo điều kiện để đồng bào vừa gìn giữ, trao truyền di sản cho thế hệ trẻ, vừa tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập.
Tại nhiều địa phương, các sản phẩm du lịch được xây dựng trên cơ sở khai thác bản sắc văn hóa bản địa như trải nghiệm lưu trú tại nhà sàn truyền thống, thưởng thức ẩm thực dân tộc, tham gia lễ hội, học dệt thổ cẩm, đan lát, chế tác nhạc cụ dân tộc, biểu diễn dân ca, dân vũ và tìm hiểu phong tục, tập quán của cộng đồng. Qua đó, văn hóa không còn là giá trị được lưu giữ một cách tĩnh tại mà trở thành nguồn lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân.
![]()
Hướng tới phát triển du lịch bền vững trên nền tảng bản sắc văn hóa
Sau gần 5 năm triển khai Chương trình, công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng, bảo tồn và tổ chức thường xuyên; nhiều lớp truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể như hát Then, hát Khắp, nghệ thuật cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm, nghề đan lát... được tổ chức, góp phần trao truyền tri thức và kỹ năng cho thế hệ trẻ.
Cùng với đó, nhiều mô hình du lịch cộng đồng được hình thành và phát triển tại các địa phương như Phú Thọ, Thái Nguyên, Đắk Lắk, Sóc Trăng cùng nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Các mô hình này từng bước tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa và con người các dân tộc thiểu số đến với du khách trong và ngoài nước.
Đáng chú ý, phát triển du lịch cộng đồng đã tạo ra cơ chế để người dân trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú, ẩm thực, hướng dẫn trải nghiệm văn hóa và tiêu thụ các sản phẩm thủ công truyền thống. Điều này không chỉ giúp đa dạng hóa sinh kế mà còn tạo động lực để cộng đồng chủ động gìn giữ các giá trị văn hóa, bởi chính những giá trị đó trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới. Tại một số địa phương, tình trạng thương mại hóa hoặc "sân khấu hóa" các hoạt động văn hóa nhằm phục vụ khách du lịch có nguy cơ làm giảm tính nguyên gốc của di sản; áp lực từ phát triển du lịch cũng có thể tác động đến cảnh quan, môi trường sinh thái và không gian văn hóa truyền thống nếu thiếu quy hoạch và quản lý phù hợp.
Điều đó đòi hỏi các cấp chính quyền cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa; phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc quyết định những giá trị cần gìn giữ, phương thức khai thác và mức độ tham gia của hoạt động du lịch, qua đó bảo đảm phát triển đúng định hướng và bền vững.
Trong giai đoạn 2026-2030, cần tiếp tục ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch cộng đồng, nhất là hệ thống giao thông, điện, nước sạch, hạ tầng số và các thiết chế văn hóa tại các làng, bản; đồng thời tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn khẩn cấp đối với các loại hình di sản có nguy cơ mai một, hỗ trợ phục hồi nghề thủ công truyền thống và gìn giữ tri thức bản địa.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng làm du lịch, quản trị dịch vụ, ngoại ngữ, kỹ năng số và quảng bá sản phẩm cho người dân địa phương; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn, số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa và quảng bá điểm đến trên các nền tảng số. Việc hình thành các chuỗi liên kết giữa cộng đồng, chính quyền địa phương, doanh nghiệp lữ hành và các cơ sở đào tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị cho các sản phẩm văn hóa bản địa.
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch không chỉ góp phần giữ gìn những giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế dựa trên khai thác hợp lý nguồn lực văn hóa. Đây là mô hình phát triển hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại, góp phần nâng cao đời sống của đồng bào, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn mới.
Minh Trang
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả