Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Hiệu quả công tác phối hợp triển khai Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Ngày đăng: 20/07/2026   17:15
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một chủ trương lớn mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước, có tính chất liên ngành sâu sắc, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của nhiều bộ, ngành, địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội.

Qua thực tiễn triển khai giai đoạn I (2021 - 2025) đã khẳng định bài học sâu sắc: Ở đâu có sự phối hợp chặt chẽ, chủ động và thường xuyên, ở đó tiến độ và hiệu quả được bảo đảm; ngược lại, các điểm nghẽn trong phối hợp sẽ tạo rào cản cho kết quả chung. Việc nhìn nhận khách quan các thành tựu và hạn chế sẽ mở ra hướng đi đột phá, giúp Chương trình vận hành trơn tru và tạo tác động lan tỏa bền vững trong giai đoạn II (2026 - 2030).

Chuyển biến tích cực mang tính đồng bộ từ Trung ương đến địa phương

Nhìn lại chặng đường giai đoạn I (2021 - 2025), công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (được thực hiện theo các Nghị quyết số 88/2019/QH14 và Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội) đã ghi nhận những nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị. Ngay từ những ngày đầu, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã khẩn trương thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia. Đây là cơ quan đầu mối quan trọng, đóng vai trò hạt nhân trong việc điều phối hoạt động giữa tất cả các bộ, ngành liên quan, thiết lập một cơ chế vận hành thông suốt từ vĩ mô đến vi mô.

Nhiều danh mục đầu tư thuộc Chương trình rất phù hợp nhất với đặc thù văn hóa và nhu cầu thực tế của đồng bào dân tộc tại cơ sở.

Báo cáo chính thức của Chính phủ đã ghi nhận một cách khách quan: “Công tác phối hợp trong chỉ đạo, điều hành, quản lý tổ chức thực hiện Chương trình giữa các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương cơ bản được triển khai đồng bộ, thường xuyên và chặt chẽ”. Sự quyết liệt này không chỉ dừng lại ở các văn bản hành chính mà được minh chứng sinh động bằng những hành động thực tế trên thực địa. Điển hình là trong hai năm 2023 - 2024, đã có tới 40 đoàn công tác liên ngành trực tiếp đi kiểm tra, đánh giá, giám sát tình hình thực hiện tại các địa phương. Tần suất làm việc dày đặc này thể hiện tinh thần bám sát cơ sở, chủ động tháo gỡ khó khăn của các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương, giúp các chính sách nhanh chóng bám rễ vào đời sống thực tiễn.


Tại cấp địa phương, tính đồng bộ trong tổ chức bộ máy chỉ đạo đã đạt được một kết quả mang tính bước ngoặt: 100% các tỉnh vùng thụ hưởng đã thành lập Ban Chỉ đạo từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Đây là một thành tựu tổ chức vô cùng đáng kể, bởi trước khi Chương trình này ra đời, nhiều địa phương vẫn thiếu vắng một cơ chế phối hợp liên ngành thực sự bài bản, chuyên sâu dành riêng cho công tác dân tộc. Nhờ sự hình thành của hệ thống Ban Chỉ đạo các cấp, vai trò điều phối đã được phát huy mạnh mẽ, giúp giải quyết nhanh chóng các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn một cách kịp thời, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong quá trình triển khai các dự án và tiểu dự án trên cùng một địa bàn.

Đặc biệt, công tác phối hợp trong hệ thống giám sát còn ghi nhận sự tham gia tích cực và hiệu quả của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng. Cơ chế này đã phát huy vai trò rất tốt trong việc kịp thời kiến nghị với chủ đầu tư và cấp có thẩm quyền nhằm ngăn chặn những biểu hiện làm sai quy định, ngăn ngừa lãng phí, thất thoát nguồn lực quốc gia. Đây được xem là một kênh giám sát từ dưới lên vô cùng quan trọng, giúp phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo ra lá chắn bảo vệ hiệu quả dòng vốn chính sách mà không phải chương trình phát triển kinh tế - xã hội nào cũng thiết lập thành công.

Tinh gọn bộ máy, phân cấp triệt để

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, với tinh thần nhìn thẳng vào thực tế để cải tiến, Báo cáo số 2245/BC-BDTTG ngày 07/10/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã thẳng thắn chỉ ra ba nhóm hạn chế cốt lõi trong công tác phối hợp cần phải được khắc phục. 

Thứ nhất, do tính chất quy mô lớn của Chương trình, sự tham gia của quá nhiều ngành, nhiều cấp dẫu mang lại góc nhìn đa chiều nhưng vô hình trung lại khiến cho quá trình xây dựng nội dung và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý mất rất nhiều thời gian. Sự khác biệt về quy trình thủ tục của từng ngành đã tạo ra độ trễ nhất định khi cần đưa ra quyết định chung.

Thứ hai, tinh thần trách nhiệm và tốc độ triển khai tại một số bộ, ngành và địa phương chưa thực sự đồng đều. Việc xây dựng kế hoạch thực hiện cũng như tiến độ gửi báo cáo về cho cơ quan chủ trì Chương trình ở một số nơi còn chậm trễ, kéo dài. Sự thiếu hụt thông tin kịp thời này đã ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ tổng hợp, phân tích và điều hành chung của toàn quốc. 

Thứ ba, sự không thống nhất về mô hình tổ chức của cơ quan thường trực tham mưu giúp việc Chương trình giữa các địa phương khác nhau đã gây ra những khó khăn nhất định trong công tác phối hợp dọc giữa Trung ương và địa phương, làm giảm hiệu năng chuyển tải thông tin và tổ chức thực thi chính sách.

Theo đánh giá của các chuyên gia, những hạn chế nêu trên là điều khó tránh khỏi khi đặt trong bối cảnh Chương trình giai đoạn I có quy mô cực kỳ lớn, triển khai trên địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp với cấu trúc phức tạp bao gồm 10 Dự án, 14 Tiểu dự án và 36 Nội dung thành phần. Khi mỗi nội dung thành phần lại gắn liền với chức năng quản lý nhà nước của một hoặc nhiều bộ, ngành khác nhau, việc điều phối, đồng bộ hóa các bước thực hiện trở thành một thách thức mang tính quản trị hệ thống rất lớn.

Thấm nhuần sâu sắc các bài học kinh nghiệm từ giai đoạn I, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn II (2026 - 2030) đã được Đảng, Quốc hội và Chính phủ thiết kế lại một cách căn bản, khoa học nhằm giải quyết triệt để các điểm nghẽn về mặt phối hợp. Giải pháp đột phá đầu tiên chính là việc thực hiện cắt giảm mạnh mẽ gần 70% đầu mối nội dung Chương trình. Từ một cấu trúc cồng kềnh gồm 10 Dự án, 14 Tiểu dự án, 36 Nội dung thành phần của giai đoạn I, bước sang giai đoạn II, Chương trình được cô đọng, tinh gọn xuống chỉ còn 5 Nội dung thành phần cốt lõi.

Sự tinh giản mang tính chiến lược này đồng nghĩa với việc giảm thiểu đáng kể số lượng các chủ thể đầu mối phải tham gia phối hợp ở cả cấp Trung ương lẫn địa phương. Từ đó, cắt giảm tối đa thời gian và chi phí điều phối hành chính, giúp các cơ quan chuyên môn tập trung nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ then chốt, thúc đẩy tốc độ xử lý công việc nhanh chóng hơn. 

Đi đôi với tinh gọn đầu mối là việc đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý thông qua phân cấp, phân quyền triệt để. Theo định hướng mới, Bộ Dân tộc và Tôn giáo với tư cách là cơ quan chủ quản “dứt khoát không làm dự án, không duyệt dự án, chỉ phân bổ kinh phí và giám sát kiểm tra”. Cơ chế này giúp phân định một cách rõ ràng, minh bạch trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi giá trị chính sách: Cấp Trung ương sẽ tập trung toàn bộ tâm sức vào việc kiến tạo thể chế, hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý, phân bổ nguồn lực vĩ mô và tổ chức kiểm tra, giám sát. Ngược lại, quyền chủ động hoàn toàn được trao cho các địa phương trong việc tự tổ chức thực hiện, lựa chọn danh mục đầu tư sao cho phù hợp nhất với đặc thù văn hóa, điều kiện tự nhiên và nhu cầu thực tế của đồng bào dân tộc tại cơ sở. 

Theo Quyết định số 1641/QĐ-TTg ngày 31/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về phân bổ nguồn vốn thực hiện Chương trình, tổng mức vốn dự kiến dành cho giai đoạn II lên tới 158.314 tỷ đồng, tăng khoảng 15% so với tổng nguồn lực của giai đoạn I. Đây là nguồn lực tài chính vô cùng to lớn, thể hiện cam kết mạnh mẽ và sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 

Với một nguồn vốn dồi dào hơn, kết hợp chặt chẽ cùng cơ chế phối hợp đã được đơn giản hóa tối đa và sự phân định rõ ràng về mặt trách nhiệm, giai đoạn II của Chương trình hứa hẹn sẽ vận hành một cách hiệu quả, trơn tru hơn. Sự thay đổi mang tính bản lề này chắc chắn sẽ giúp giảm thiểu tối đa hiện tượng chồng chéo, tăng tốc mạnh mẽ tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Đặc biệt là đưa nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước đến đúng các đối tượng thụ hưởng một cách nhanh chóng, minh bạch, thiết thực và bền vững nhất, góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong kỷ nguyên mới./. 

Chí Tâm

Bài viết cùng tác giả