Trên cơ sở phân tích bối cảnh già hóa dân số, đánh giá kết quả thực thi Luật và đối chiếu với các nghị quyết quan trọng của Đảng, bài viết chỉ ra những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện và đề xuất định hướng sửa đổi pháp luật hiện hành theo cách tiếp cận hệ thống, hướng tới xây dựng hệ thống chăm sóc dài hạn quốc gia, phát triển chuỗi dịch vụ chăm sóc liên tục và hình thành nền kinh tế bạc ở Việt Nam.
Từ khóa: Người cao tuổi; già hóa dân số; chăm sóc dài hạn; an sinh xã hội; Luật Người cao tuổi; kinh tế bạc.
Abstract: Vietnam is entering a phase of rapid population aging, leading to profound changes in healthcare needs, income security, and the organization of social service systems. After more than 15 years of implementation, the 2009 Law on the Elderly and related policies have established an important legal foundation for the protection and care of older persons; however, they have not yet fully met the requirements for developing a long-term care system in the new context.
Based on an analysis of the population aging context, an assessment of the Law’s implementation outcomes, and a comparison with key Party resolutions, this article identifies areas requiring further improvement and proposes directions for amending the current legal framework through a systemic approach. The goal is to develop a national long-term care system, expand a continuum of care services, and foster the silver economy in Vietnam.
Keywords: Older persons; population aging; long-term care; social security; Law on the Elderly; silver economy.
1. Giới thiệu
Già hóa dân số là xu hướng nhân khẩu học toàn cầu, tác động sâu sắc đến hệ thống an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, thị trường lao động và phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, già hóa dân số không chỉ là vấn đề dân số mà đã trở thành một vấn đề phát triển, đòi hỏi các quốc gia cần điều chỉnh đồng bộ thể chế và chính sách nhằm bảo đảm an sinh và phát huy nguồn lực người cao tuổi[1]
Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh ở châu Á. Dự báo đến năm 2036, Việt Nam sẽ chuyển sang giai đoạn dân số già. Năm 2025, cả nước có khoảng 16,5 triệu người cao tuổi, chiếm gần 16% dân số; tuổi thọ tiếp tục tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh còn thấp, trong khi các bệnh không lây nhiễm và nhu cầu chăm sóc dài hạn ngày càng gia tăng[2]. Đáp ứng yêu cầu thích ứng với già hóa dân số, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng về đổi mới chính sách xã hội. Nghị quyết số 42-NQ/TW xác định mục tiêu xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, hiện đại, bao trùm và bền vững; Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong cung ứng dịch vụ xã hội; đồng thời, các chủ trương của Đảng về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân nhấn mạnh yêu cầu phát triển chăm sóc liên tục và chăm sóc dài hạn, phù hợp với bối cảnh già hóa dân số.
Sau hơn 15 năm thi hành, Luật Người cao tuổi năm 2009 và các chính sách liên quan đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Độ bao phủ bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi đạt trên 95%; hệ thống trợ giúp xã hội, khám chữa bệnh lão khoa và các mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng từng bước được mở rộng[3]. Tuy nhiên, quá trình già hóa nhanh, sự gia tăng nhu cầu chăm sóc dài hạn, quy mô hộ gia đình ngày càng thu hẹp và sự phát triển của công nghệ số đang đặt ra nhiều yêu cầu mới mà khuôn khổ pháp luật hiện hành chưa đáp ứng đầy đủ. Trong các quy định hiện hành chưa hình thành đầy đủ được một hệ thống chính sách tích hợp, bảo đảm sự liên thông giữa chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xã hội, chăm sóc dài hạn và phát huy vai trò người cao tuổi. Phần lớn các quy định còn phân tán theo từng lĩnh vực quản lý, thiếu cơ chế phối hợp và chưa tạo nền tảng pháp lý cho phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn cũng như nền kinh tế bạc trong bối cảnh già hóa dân số[4].
Trong khuôn khổ bài viết, đánh giá nhanh bối cảnh già hóa dân số và một số kết quả thực hiện Luật Người cao tuổi năm 2009; phân tích những khoảng trống của khuôn khổ pháp luật hiện hành; đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo cách tiếp cận hệ thống, góp phần phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn, hoàn thiện chính sách an sinh xã hội làm tiền đề thúc đẩy nền kinh tế bạc ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
![]()
2. Bối cảnh già hóa dân số và yêu cầu hoàn thiện Luật Người cao tuổi
2.1. Già hóa dân số và yêu cầu đổi mới hệ thống chính sách
Già hóa dân số là một trong những xu hướng nhân khẩu học có tác động sâu sắc nhất đến tiến trình phát triển của các quốc gia trong thế kỷ XXI. Khác với giai đoạn trước khi chính sách đối với người cao tuổi chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề trợ giúp xã hội cho một nhóm dân cư dễ bị tổn thương, bối cảnh hiện nay đặt ra yêu cầu nhìn nhận già hóa dân số như một quá trình chuyển đổi cấu trúc dân số có ảnh hưởng toàn diện đến tăng trưởng kinh tế, thị trường lao động, hệ thống an sinh xã hội, y tế, giáo dục, phát triển đô thị và cơ chế quản lý, điều phối. Trong điều kiện đó, chính sách đối với người cao tuổi không còn là chính sách dành riêng cho một nhóm đối tượng mà trở thành một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển quốc gia nhằm chủ động thích ứng với già hóa dân số.
Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, được dự báo sẽ chuyển sang giai đoạn dân số già vào khoảng năm 2036[5] và trở thành một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh trong khu vực châu Á khi thời gian chuyển đổi từ xã hội già hóa sang xã hội già dự kiến chỉ khoảng 20 - 25 năm, ngắn hơn đáng kể so với nhiều quốc gia phát triển. Đến năm 2025, cả nước có khoảng 16,5 triệu người cao tuổi, chiếm gần 16% dân số; tuổi thọ trung bình đạt 74,7[6] tuổi nhưng số năm sống khỏe mạnh còn thấp, phản ánh tình trạng nhiều người cao tuổi đang sống trong thời gian dài với bệnh mạn tính, suy giảm chức năng hoặc cần được hỗ trợ chăm sóc.
Đặc điểm nổi bật của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam là diễn ra trong điều kiện nền kinh tế vẫn đang trong giai đoạn phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn ở mức trung bình và hệ thống an sinh xã hội chưa hoàn thiện. Điều này dẫn đến thách thức kép: vừa bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa mở rộng hệ thống chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của dân số cao tuổi. Nếu không có những điều chỉnh kịp thời về thể chế và chính sách, quá trình già hóa dân số có thể làm gia tăng áp lực đối với ngân sách nhà nước, hệ thống y tế, thị trường lao động và gia đình; ngược lại, nếu được chuẩn bị đầy đủ, đây sẽ là cơ hội để thúc đẩy đổi mới mô hình phát triển, mở rộng các ngành dịch vụ mới và khai thác hiệu quả nguồn lực của người cao tuổi.
Quá trình già hóa dân số ở Việt Nam cũng diễn ra đồng thời với những biến đổi mạnh mẽ về mô hình gia đình và điều kiện kinh tế - xã hội. Quy mô hộ gia đình có xu hướng thu hẹp, mô hình gia đình nhiều thế hệ (từ ba thế hệ trở lên: ông bà, cha mẹ, con cháu) dần được thay thế bởi gia đình hạt nhân (gồm cha mẹ và con cái chưa lập gia đình); tỷ lệ sinh giảm và xu hướng di cư lao động ngày càng phổ biến làm suy giảm khả năng chăm sóc truyền thống của gia đình đối với người cao tuổi. Trong khi đó, người cao tuổi ngày nay có trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu tham gia xã hội cao hơn trước, mong muốn tiếp tục lao động, học tập, cống hiến và duy trì cuộc sống độc lập lâu hơn. Những thay đổi này đòi hỏi hệ thống chính sách cần chuyển từ cách tiếp cận thiên về bảo trợ sang tạo lập môi trường để người cao tuổi được phát triển toàn diện, được bảo vệ khi gặp rủi ro và tiếp tục đóng góp cho gia đình, cộng đồng và xã hội.
Cùng với đó, mô hình bệnh tật của người cao tuổi cũng có sự thay đổi căn bản. Nếu trước đây, các chính sách y tế chủ yếu tập trung vào điều trị các bệnh cấp tính thì hiện nay bệnh không lây nhiễm, đa bệnh lý, sa sút trí tuệ, suy giảm chức năng và nhu cầu phục hồi chức năng ngày càng gia tăng[7]. Điều này làm thay đổi bản chất của nhu cầu chăm sóc, từ khám chữa bệnh đơn lẻ sang quản lý sức khỏe liên tục, chăm sóc tích hợp và chăm sóc dài hạn. Vì vậy, việc tiếp tục duy trì mô hình chính sách chủ yếu dựa vào trợ cấp xã hội và điều trị y tế sẽ khó đáp ứng đẩy đủ yêu cầu thực tiễn.
2.2. Chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống an sinh xã hội thích ứng với già hóa dân số
Những chuyển biến của bối cảnh kinh tế - xã hội đã được Đảng nhận diện và thể hiện trong nhiều nghị quyết quan trọng ban hành trong thời gian gần đây, đặc biệt trong giai đoạn của đại hội XIII. Qua đó có quan điểm về chính sách xã hội đã có sự phát triển từ bảo đảm mức sống tối thiểu sang phát triển con người toàn diện, xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, bao trùm và bền vững.
Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII[8] xác định mục tiêu “xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; phát triển hệ thống chính sách xã hội theo hướng chủ động, tích cực, lấy con người làm trung tâm và bảo đảm mọi người dân được thụ hưởng thành quả phát triển” “phát triển hệ thống các dịch vụ xã hội theo hướng liên thông, liên tục và chuyên nghiệp nhằm tăng khả năng tiếp cận cho mọi người”. Đây là định hướng có ý nghĩa đặc biệt đối với việc hoàn thiện chính sách người cao tuổi bởi già hóa dân số không còn được xem là vấn đề riêng của mỗi ngành mà là một nội dung của chiến lược phát triển quốc gia. Theo tinh thần Nghị quyết, chính sách đối với người cao tuổi cần được xây dựng theo vòng đời, bảo đảm sự kết nối giữa bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn, phát triển nguồn nhân lực chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi trong phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị quyết số 72-NQ/TW[9] về đổi mới trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục khẳng định yêu cầu chuyển mạnh từ “chữa bệnh sang phòng bệnh, quản lý sức khỏe toàn dân và phát triển các dịch vụ chăm sóc liên tục”. Quan điểm này phù hợp với xu hướng quốc tế về già hóa khỏe mạnh, trong đó mục tiêu không chỉ là kéo dài tuổi thọ mà còn kéo dài số năm sống khỏe mạnh, duy trì khả năng hoạt động và giảm nhu cầu chăm sóc dài hạn trong tương lai. Điều đó đặt ra yêu cầu pháp luật Người cao tuổi sửa đổi cần bổ sung các quy định về quản lý sức khỏe theo vòng đời, phòng ngừa suy giảm chức năng, chăm sóc sức khỏe tinh thần, phục hồi chức năng và xây dựng môi trường sống thân thiện với người cao tuổi.
Cùng với đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW[10] về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo cơ sở chính trị quan trọng cho việc “đổi mới phương thức cung ứng dịch vụ chăm sóc”. Sự phát triển của dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, thiết bị hỗ trợ và công nghệ chăm sóc mở ra khả năng tổ chức hệ thống chăm sóc hiệu quả hơn, đồng thời hình thành các ngành dịch vụ mới phục vụ xã hội già hóa. Đây là những nội dung mới, chưa được phản ánh trong Luật Người cao tuổi năm 2009 và các chính sách hiện hành nhưng sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hoàn thiện thể chế trong giai đoạn tới.
Các nghị quyết của Đảng ban hành trong nhiệm kỳ Đại hội XIII giai đoạn 2021-2026 đã tạo lập nền tảng chính trị để chuyển đổi tư duy xây dựng chính sách đối với người cao tuổi từ cách tiếp cận bảo trợ sang cách tiếp cận phát triển; từ giải quyết các nhu cầu phát sinh sang chủ động thích ứng với già hóa dân số; từ bảo đảm an sinh tối thiểu sang xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, toàn diện và bền vững. Đây cũng là định hướng xuyên suốt cần được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật về Người cao tuổi trong thời gian tới, đặc biệt là đối với Luật Người cao tuổi sửa đổi, bổ sung.
2.3. Yêu cầu đổi mới trong xây dựng chính sách pháp luật dành cho Người cao tuổi
Sau hơn 15 năm thực hiện, Luật Người cao tuổi năm 2009 đã đóng góp không nhỏ vào giai đoạn đầu của quá trình già hóa dân số. Luật đã tạo cơ sở pháp lý để mở rộng trợ giúp xã hội, chăm sóc sức khỏe, phát huy vai trò của người cao tuổi và huy động sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên, những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh phát triển đang đặt ra yêu cầu cần đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật về người cao tuổi.
Thứ nhất, cần chuyển từ tư duy xây dựng chính sách đối với một nhóm đối tượng sang tư duy xây dựng hệ thống chính sách thích ứng với già hóa dân số. Đây không chỉ là sự thay đổi về phạm vi điều chỉnh mà còn là sự thay đổi về mục tiêu của Luật và các chính sách liên quan. Nếu hệ thống luật pháp về Người cao tuổi chủ yếu hướng tới bảo vệ người cao tuổi khi đã phát sinh khó khăn thì trong giai đoạn tới cần hướng tới quản lý toàn bộ quá trình già hóa của mỗi cá nhân, đầu tư cho già hóa khỏe mạnh, phòng ngừa suy giảm chức năng, bảo đảm an ninh thu nhập và an ninh chăm sóc trong suốt vòng đời của con người.
Thứ hai, cần chuyển từ cách tiếp cận theo từng chính sách riêng lẻ sang cách tiếp cận hệ thống. Các chính sách về chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xã hội, chăm sóc dài hạn, phát triển nguồn nhân lực chăm sóc, cơ chế tài chính và quản trị cần được nhìn nhận, thiết kế như các cấu phần của một hệ thống thống nhất, có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau. Cách tiếp cận này sẽ khắc phục tình trạng phân tán chính sách, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
Thứ ba, cần chuyển từ quan điểm coi người cao tuổi là đối tượng thụ hưởng sang khẳng định người cao tuổi là chủ thể của quá trình phát triển. Với trình độ học vấn ngày càng được nâng cao, tuổi thọ tăng và điều kiện sức khỏe được cải thiện, người cao tuổi có khả năng tiếp tục tham gia lao động, học tập, nghiên cứu, truyền nghề, tư vấn và các hoạt động xã hội. Chính sách cần tạo điều kiện để phát huy nguồn lực này, đồng thời bảo đảm quyền được chăm sóc khi suy giảm chức năng hoặc mất khả năng tự chăm sóc.
Thứ tư, việc sửa đổi pháp luật người cao tuổi cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu không chỉ là hoàn thiện chính sách đối với người cao tuổi mà còn xây dựng nền tảng thể chế cho hệ thống chăm sóc dài hạn quốc gia, phát triển hệ sinh thái dịch vụ chăm sóc và từng bước hình thành nền kinh tế bạc trên cơ sở khai thác hiệu quả tiềm năng của xã hội già hóa. Theo cách tiếp cận đó, pháp luật người cao tuổi, cụ thể là Luật Người cao tuổi sẽ trở thành một công cụ quan trọng góp phần hiện thực hóa chủ trương của Đảng về phát triển con người, nâng cao chất lượng chính sách xã hội và bảo đảm phát triển nhanh, toàn diện và bền vững trong bối cảnh chuyển đổi nhân khẩu học.
3. Một số kết quả thực hiện an sinh xã hội cho người cao tuổi
Sau hơn 15 năm thực hiện, Luật Người cao tuổi năm 2009 và hệ thống các văn bản liên quan đã tạo lập nền tảng pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi; góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước mới bước vào giai đoạn già hóa dân số, Luật đã thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về chăm lo người cao tuổi, huy động sự tham gia của Nhà nước, gia đình và xã hội trong chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò của người cao tuổi.
Tuy nhiên, nếu chỉ đánh giá theo mức độ thực hiện từng nhóm chính sách sẽ chưa phản ánh đầy đủ những đóng góp cũng như những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành. Dưới góc độ phát triển hệ thống an sinh xã hội, kết quả thực hiện Luật Người cao tuổi cần được xem xét thông qua bốn trụ cột cơ bản gồm: bảo đảm an ninh thu nhập; bảo đảm chăm sóc sức khỏe; phát triển các dịch vụ chăm sóc xã hội; và phát huy vai trò, sự tham gia của người cao tuổi trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây cũng là những cấu phần quyết định khả năng thích ứng của hệ thống chính sách trước quá trình già hóa dân số.
3.1. Đảm bảo an ninh thu nhập cho người cao tuổi
Một trong những kết quả quan trọng nhất của Luật Người cao tuổi là góp phần mở rộng hệ thống bảo đảm thu nhập đối với người cao tuổi thông qua sự kết hợp giữa chính sách bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội. Sau hơn mười lăm năm thực hiện, chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên không ngừng được mở rộng cả về đối tượng và mức hỗ trợ, từng bước hình thành tầng bảo vệ cơ bản đối với người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc không còn khả năng lao động.
Đến năm 2025, cả nước có trên 1,7 triệu người cao tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên; cùng với việc triển khai Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, dự kiến có thêm khoảng 1,5 triệu người được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Đồng thời, khoảng 3,4 triệu người cao tuổi đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng[11]. Những kết quả này phản ánh sự phát triển từng bước của hệ thống bảo đảm thu nhập theo hướng kết hợp giữa bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội, phù hợp với mục tiêu mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội mà Đảng đã xác định.
Việc mở rộng bảo đảm thu nhập không chỉ góp phần cải thiện điều kiện sống của hàng triệu người cao tuổi mà còn giảm đáng kể nguy cơ nghèo đói khi về già, tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ y tế và chăm sóc xã hội. Đây là bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển từ mô hình cứu trợ xã hội sang bảo đảm quyền được an sinh của người dân theo tiếp cận vòng đời.
Tuy nhiên, xét trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh, mức độ bao phủ của trụ cột này vẫn còn khoảng cách khá lớn so với nhu cầu thực tiễn. Với khoảng 16,5 triệu người cao tuổi, số người đang được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp xã hội mới chỉ chiếm một bộ phận của tổng số người cao tuổi; nhiều người, đặc biệt ở khu vực phi chính thức và nông thôn, vẫn chưa có nguồn thu nhập ổn định khi bước vào tuổi già. Điều đó cho thấy hệ thống bảo đảm thu nhập mới hình thành nền tảng ban đầu, chưa đạt mục tiêu bảo đảm an ninh thu nhập phổ quát đối với người cao tuổi.
3.2. Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Nếu bảo đảm thu nhập tạo nền tảng về kinh tế thì chăm sóc sức khỏe là điều kiện quyết định để người cao tuổi duy trì khả năng hoạt động và chất lượng cuộc sống. Sau khi Luật Người cao tuổi được ban hành, mạng lưới chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã có bước phát triển tương đối toàn diện, thể hiện cả ở mức độ bao phủ bảo hiểm y tế, năng lực của hệ thống khám chữa bệnh và sự tham gia của y tế cơ sở.
Đến nay, trên 95% người cao tuổi đã có thẻ bảo hiểm y tế, thuộc nhóm có tỷ lệ bao phủ cao nhất trong hệ thống an sinh xã hội. Hệ thống khám chữa bệnh lão khoa từng bước được hình thành với khoảng 110 bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh có khoa hoặc đơn nguyên lão khoa, hơn 10.000 giường điều trị, khoảng 1.791 cán bộ y tế được đào tạo chuyên ngành lão khoa; khoảng 69% người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ hằng năm và gần 46.000 tình nguyện viên tham gia chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng[12].
Những kết quả trên cho thấy chính sách chăm sóc sức khỏe đã có bước chuyển từ việc ưu tiên điều trị sang quan tâm nhiều hơn đến quản lý sức khỏe, phòng bệnh và chăm sóc tại cộng đồng. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các mô hình chăm sóc liên tục trong thời gian tới.
Tuy nhiên, xét dưới góc độ thích ứng với già hóa dân số, hệ thống chăm sóc sức khỏe vẫn chủ yếu được tổ chức theo mô hình khám chữa bệnh, trong khi quản lý sức khỏe dài hạn, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe tinh thần và chăm sóc tích hợp còn phát triển chậm. Tỷ lệ người cao tuổi được lập hồ sơ quản lý sức khỏe còn thấp; khả năng tiếp cận dịch vụ giữa các vùng miền chưa đồng đều; mạng lưới lão khoa chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu khi số người cao tuổi tiếp tục tăng nhanh. Điều này phản ánh khoảng cách giữa mở rộng tiếp cận dịch vụ y tế và xây dựng một hệ thống chăm sóc sức khỏe thích ứng với xã hội già hóa.
3.3. Về dịch vụ chăm sóc xã hội của người cao tuổi
Một trong những kết quả tích cực của quá trình thực hiện Luật là sự phát triển bước đầu của các mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng. Tiêu biểu là mô hình Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau, với hơn 6.000 câu lạc bộ hoạt động trên phạm vi cả nước, góp phần hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần, hỗ trợ sinh kế và tăng cường sự gắn kết cộng đồng[13]. Bên cạnh đó, nhiều địa phương đã phát triển các mô hình chăm sóc tại nhà, chăm sóc bán trú và mạng lưới tình nguyện viên, từng bước đa dạng hóa phương thức cung ứng dịch vụ chăm sóc.
Những kết quả này phản ánh sự chuyển biến từ mô hình chăm sóc hoàn toàn dựa vào gia đình sang mô hình có sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc trong tương lai.
Nhìn nhận dưới góc độ của một hệ thống chăm sóc dài hạn, những kết quả trên mới chỉ là những cấu phần ban đầu. Hiện cả nước mới có khoảng 218 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, chăm sóc tập trung cho khoảng 10.425 người[14], trong khi quy mô dân số người cao tuổi đã đạt khoảng 16,5 triệu người. Phần lớn hoạt động chăm sóc vẫn dựa vào gia đình; các loại hình chăm sóc tại nhà, chăm sóc ban ngày, quản lý ca, phục hồi chức năng và chăm sóc giảm nhẹ chưa được tổ chức thành mạng lưới thống nhất.
Như vậy, Luật Người cao tuổi đã góp phần hình thành các mô hình dịch vụ chăm sóc nhưng chưa tạo lập đầy đủ được khuôn khổ pháp lý để phát triển một hệ thống chăm sóc dài hạn quốc gia có khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội già hóa.
3.4. Về phát huy vai trò người cao tuổi
Luật Người cao tuổi là đã góp phần thay đổi nhận thức xã hội về vị thế của người cao tuổi. Người cao tuổi ngày càng được nhìn nhận không chỉ là đối tượng cần được bảo vệ mà còn là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức và uy tín xã hội, có thể tiếp tục tham gia phát triển kinh tế, xây dựng hệ thống chính trị và giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hiện nay, hệ thống Hội Người cao tuổi có trên 10,8 triệu hội viên, được tổ chức tại hầu hết các đơn vị hành chính trong cả nước. Có trên 733 nghìn người cao tuổi tham gia công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể và hòa giải ở cơ sở; hơn 1,1 triệu người tham gia bảo đảm an ninh, trật tự; hàng chục nghìn người làm chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc phát triển kinh tế hộ gia đình. Các phong trào "Tuổi cao - Gương sáng", "Người cao tuổi làm kinh tế giỏi", "Người cao tuổi tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" đã góp phần phát huy vai trò của người cao tuổi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội[15].
Tuy nhiên, xét dưới góc độ phát triển nguồn lực trong xã hội già hóa, chính sách hiện hành vẫn chủ yếu khuyến khích người cao tuổi tham gia các hoạt động xã hội truyền thống mà chưa tạo lập đầy đủ cơ chế đầy đủ để thúc đẩy việc làm linh hoạt, học tập suốt đời, khởi nghiệp, tư vấn chuyên môn, chuyển giao tri thức và phát huy vai trò của người cao tuổi trong nền kinh tế số cũng như nền kinh tế bạc. Đây là dư địa quan trọng cần tiếp tục hoàn thiện trong quá trình sửa đổi Luật.
Nhìn tổng thể, Luật Người cao tuổi năm 2009 đã tạo nền tảng quan trọng cho việc hình thành bốn trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội đối với người cao tuổi, bao gồm bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe, phát triển dịch vụ chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi. Những kết quả đạt được phản ánh sự quan tâm nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi, đồng thời khẳng định vai trò của Luật trong việc thúc đẩy phát triển chính sách xã hội trong giai đoạn đầu của quá trình già hóa dân số.
Tuy nhiên, các trụ cột này chủ yếu được hình thành và phát triển theo từng lĩnh vực quản lý, chưa được thiết kế như các cấu phần của một hệ thống chính sách thống nhất thích ứng với già hóa dân số. Mức độ liên kết giữa bảo đảm thu nhập với chăm sóc sức khỏe, giữa chăm sóc y tế với chăm sóc xã hội, giữa phát triển dịch vụ với cơ chế tài chính và quản trị hệ thống còn hạn chế. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho nhiều chính sách tuy đã được ban hành nhưng hiệu quả tổng thể chưa tương xứng với yêu cầu của một xã hội đang già hóa nhanh.
Chính từ thực tiễn đó, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục mở rộng các chính sách hiện có mà cần hoàn thiện khuôn khổ pháp luật theo hướng hình thành một hệ thống chính sách thống nhất, toàn diện và thích ứng với già hóa dân số. Đây cũng là cơ sở để phân tích những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện của Luật Người cao tuổi trong phần tiếp theo.
4. Những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện và yêu cầu sửa đổi, bổ sung pháp luật Người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số
Những kết quả đạt được sau hơn 15 năm thực hiện Luật Người cao tuổi năm 2009 và các quy định pháp luật liên quan khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh, những thay đổi về mô hình bệnh tật, cơ cấu gia đình, thị trường lao động và yêu cầu phát triển hệ thống an sinh xã hội hiện đại, nhiều quy định của Luật và các chính sách liên quan đã bộc lộ những hạn chế mang tính cấu trúc. Những hạn chế này không chỉ xuất phát từ nội dung của từng chính sách riêng lẻ mà chủ yếu bắt nguồn từ các yếu tố lịch sử tất yếu trong giai đoạn Việt Nam mới bước vào già hóa dân số.Trong khi các Nghị quyết mới của Đảng đã xác định xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, hiện đại, bao trùm và phát triển con người là mục tiêu xuyên suốt của quá trình phát triển đất nước thì khuôn khổ pháp luật hiện hành vẫn chủ yếu tập trung giải quyết các nhu cầu phát sinh khi người cao tuổi đã suy giảm sức khỏe hoặc gặp khó khăn về kinh tế. Chính sự khác biệt này tạo ra khoảng cách giữa yêu cầu phát triển và khả năng đáp ứng của hệ thống chính sách.
Từ góc độ đó, có thể nhận diện một số những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện cơ bản trong quá trình sửa đổi pháp Luật Người cao tuổi.
4.1. Chưa hình thành khuôn khổ pháp lý về già hóa khỏe mạnh
Quy định hiện hành trong pháp luật Người cao tuổi chưa thể hiện được việc chuyển đổi chăm sóc khi người cao tuổi đã suy giảm chức năng sang đầu tư cho quá trình già hóa khỏe mạnh ngay từ sớm. Các quy định hiện hành chủ yếu tập trung vào khám chữa bệnh, cấp thẻ bảo hiểm y tế, chăm sóc người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn hoặc hỗ trợ khi người cao tuổi đã phát sinh nhu cầu chăm sóc. Trong khi đó, những chính sách mang tính phòng ngừa như quản lý sức khỏe theo vòng đời, duy trì khả năng hoạt động, phòng chống suy giảm chức năng, chăm sóc sức khỏe tinh thần, phòng ngừa sa sút trí tuệ và xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi chưa được quy định như một định hướng chính sách độc lập.
Khoảng trống này làm cho hệ thống chính sách chưa chuyển mạnh từ điều trị sang phòng ngừa, chưa thực sự góp phần kéo dài số năm sống khỏe mạnh[16] và giảm nhu cầu chăm sóc dài hạn trong tương lai. Đây cũng là điểm chưa tương thích với định hướng của Nghị quyết số 72-NQ/TW về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân cũng như Khung hành động của WHO về Thập kỷ Già hóa khỏe mạnh 2021–2030[17].
Vì vậy, pháp luật Luật Người cao tuổi sửa đổi nên bổ sung một nhóm chính sách riêng về già hóa khỏe mạnh, trong đó quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý sức khỏe người dân theo vòng đời; phát triển các chương trình phòng ngừa suy giảm chức năng; chăm sóc sức khỏe tinh thần; phục hồi chức năng; thúc đẩy hoạt động thể chất; xây dựng môi trường sống thân thiện và nâng cao năng lực tự chăm sóc của người cao tuổi. Đây là giải pháp có ý nghĩa chiến lược nhằm giảm gánh nặng bệnh tật, giảm chi phí y tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.
4.2. Chưa thiết lập được hệ thống chăm sóc dài hạn quốc gia
Sự gia tăng nhanh của người cao tuổi mắc bệnh mạn tính, suy giảm chức năng và mất khả năng tự chăm sóc[18] đang làm cho chăm sóc dài hạn trở thành một nhu cầu xã hội ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, pháp Luật Người cao tuổi hiện hành chưa tạo lập đầy đủ được khuôn khổ pháp lý đầy đủ để tổ chức hệ thống chăm sóc dài hạn như một cấu phần của hệ thống an sinh xã hội.
Các quy định về chăm sóc hiện còn phân tán giữa lĩnh vực y tế, trợ giúp xã hội, phục hồi chức năng và công tác xã hội; chưa xác định rõ mô hình tổ chức mạng lưới chăm sóc; chưa quy định thống nhất về đánh giá mức độ phụ thuộc, quản lý trường hợp, phối hợp giữa dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội, cũng như trách nhiệm của các cơ quan trong tổ chức cung ứng dịch vụ. Điều này dẫn đến tình trạng chăm sóc vẫn chủ yếu dựa vào gia đình, cộng đồng trong khi hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp phát triển chậm và chưa đáp ứng đầy đủ được nhu cầu ngày càng gia tăng của xã hội.
Kinh nghiệm của Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc và Singapore cho thấy chăm sóc dài hạn chỉ có thể phát triển bền vững khi được luật hóa như một hệ thống độc lập với đầy đủ các cấu phần về tổ chức dịch vụ, tiêu chuẩn chuyên môn, cơ chế tài chính và quản trị. Vì vậy, pháp Luật sửa đổi cần xác lập rõ khái niệm, phạm vi, nguyên tắc và cấu trúc của hệ thống chăm sóc dài hạn quốc gia; quy định các loại hình chăm sóc tại nhà, chăm sóc cộng đồng, chăm sóc bán trú, chăm sóc tập trung, phục hồi chức năng và chăm sóc giảm nhẹ; đồng thời hình thành cơ chế phối hợp liên thông giữa y tế và chăm sóc xã hội.
4.3. Chưa bảo đảm đồng thời an ninh thu nhập và an ninh chăm sóc
Một trong những điểm mới của Nghị quyết số 42-NQ/TW là xây dựng hệ thống an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bao gồm cả bảo đảm thu nhập và bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản hướng đến phát triển các dịch vụ liên tục trong thực hiện các chính sách xã hội. Tuy nhiên, chính sách pháp luật người cao tuổi hiện hành mới chủ yếu tập trung vào các chính sách bảo đảm thu nhập thông qua trợ giúp xã hội và bảo hiểm xã hội, trong khi nội dung bảo đảm chăm sóc chưa được xác định như một trụ cột của hệ thống an sinh xã hội.
Trong bối cảnh số người cao tuổi sống chung với bệnh mạn tính, suy giảm chức năng và cần hỗ trợ trong sinh hoạt hằng ngày ngày càng tăng, việc chỉ mở rộng trợ cấp xã hội hoặc hạ độ tuổi hưởng trợ cấp sẽ chưa đủ để bảo đảm chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Trên thực tế, nhiều người có thu nhập nhưng vẫn không tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc phù hợp; ngược lại, nhiều gia đình đang gánh chịu chi phí chăm sóc rất lớn mặc dù người cao tuổi đã được hưởng trợ cấp xã hội.
Do đó, pháp luật sửa đổi cần chuyển từ cách tiếp cận bảo đảm thu nhập đơn thuần sang bảo đảm an ninh toàn diện, trong đó an ninh thu nhập và an ninh chăm sóc là hai trụ cột có quan hệ bổ trợ lẫn nhau. Chính sách cần hướng tới việc mọi người cao tuổi không chỉ có nguồn thu nhập tối thiểu mà còn được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc phù hợp khi có nhu cầu.
4.4. Chưa hình thành hệ sinh thái chăm sóc và cơ chế tài chính bền vững
Thực tiễn cho thấy sự phát triển của hệ thống chăm sóc không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước hoặc chăm sóc phi chính thức của gia đình. Trong khi đó, pháp luật Người cao tuổi hiện hành chưa có cơ chế khuyến khích đủ mạnh để phát triển thị trường dịch vụ chăm sóc, chuẩn hóa nghề chăm sóc, đào tạo nguồn nhân lực, huy động doanh nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực chăm sóc.
Việc thiếu cơ chế tài chính dài hạn cũng là thách thức lớn đối với phát triển hệ thống chăm sóc. Các nguồn lực hiện nay chủ yếu tập trung cho trợ cấp xã hội và khám chữa bệnh; chưa có cơ chế chia sẻ chi phí giữa Nhà nước, người dân và xã hội; chưa có định hướng phát triển bảo hiểm chăm sóc dài hạn hoặc các hình thức tài chính hỗ trợ chăm sóc.
Để khắc phục khoảng trống này, pháp luật sửa đổi cần bổ sung các quy định về phát triển hệ sinh thái chăm sóc, bao gồm: phát triển thị trường dịch vụ chăm sóc; khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân; thúc đẩy hợp tác công - tư; chuẩn hóa nghề chăm sóc; phát triển nguồn nhân lực; ứng dụng công nghệ số và công nghệ hỗ trợ người cao tuổi; đồng thời giao Chính phủ nghiên cứu lộ trình hình thành cơ chế tài chính bền vững cho chăm sóc dài hạn.
4.5. Chưa phát huy đầy đủ vai trò của người cao tuổi như một nguồn lực phát triển
Pháp luật về người cao tuổi hiện hành đã có nhiều quy định về phát huy vai trò người cao tuổi trong gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, cách tiếp cận vẫn thiên về khuyến khích tham gia các hoạt động xã hội truyền thống mà chưa tạo lập đầy đủ cơ chế để người cao tuổi tiếp tục tham gia thị trường lao động, học tập suốt đời, chuyển giao tri thức, tư vấn chuyên môn, khởi nghiệp hoặc tham gia các hoạt động đổi mới sáng tạo.
Trong điều kiện tuổi thọ tăng, trình độ học vấn của các thế hệ người cao tuổi ngày càng cao và nhu cầu tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu ngày càng phổ biến, việc chưa khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ làm giảm khả năng tận dụng lợi thế của xã hội già hóa. Đồng thời, tư duy coi người cao tuổi chủ yếu là đối tượng thụ hưởng chính sách cũng chưa phù hợp với quan điểm của Đảng về phát triển con người và phát huy mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.
Pháp luật sửa đổi cần chuyển mạnh sang tiếp cận "già hóa tích cực", bảo đảm quyền được làm việc, học tập suốt đời, tham gia hoạt động xã hội và tiếp tục cống hiến trên cơ sở năng lực, sức khỏe và nguyện vọng của người cao tuổi.
4.6. Quản trị quốc gia về già hóa dân số còn phân tán
Già hóa dân số là vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực nhưng cơ chế quản lý hiện nay vẫn chủ yếu được tổ chức theo từng ngành. Các chính sách về người cao tuổi được triển khai bởi nhiều cơ quan khác nhau, trong khi chưa có cơ chế điều phối thống nhất; hệ thống cơ sở dữ liệu, dự báo nhu cầu chăm sóc, giám sát và đánh giá chính sách còn phân tán; việc ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý và cung cấp dịch vụ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.
Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh và nhu cầu chăm sóc ngày càng phức tạp, việc hoàn thiện cơ chế quản lý và điều phối có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả thực thi Luật. Theo đó, pháp luật sửa đổi cần quy định rõ cơ chế điều phối liên ngành; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về người cao tuổi; tăng cường ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, cung ứng và giám sát dịch vụ; đồng thời hoàn thiện hệ thống theo dõi, đánh giá chính sách trên cơ sở các chỉ số về già hóa dân số và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.
4.7. Đề xuất phát triển hệ thống chính sách dành cho người cao tuổi
Từ những khoảng trống nêu trên, có thể thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là sửa đổi hoặc bổ sung một số quy định của Luật Người cao tuổi mà cần có sự đổi mới căn bản trong hệ thống chính sách theo tư duy thích ứng với già hóa dân số. Theo đó, hệ thống pháp luật cần được thiết kế theo gắn kết và phát triển dịch vụ liên tục theo mối liên kết chặt chẽ như sau:
Thứ nhất, thúc đẩy già hóa khỏe mạnh, hướng tới kéo dài số năm sống khỏe mạnh và phòng ngừa suy giảm chức năng.
Thứ hai, bảo đảm an ninh thu nhập, thông qua mở rộng bao phủ hưu trí xã hội, bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội theo lộ trình phù hợp.
Thứ ba, phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn quốc gia, bảo đảm cung ứng các dịch vụ chăm sóc liên tục, tích hợp giữa y tế và chăm sóc xã hội, lấy người cao tuổi làm trung tâm.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế tài chính và phát triển hệ sinh thái chăm sóc, bao gồm cơ chế huy động nguồn lực, phát triển nguồn nhân lực, chuẩn hóa nghề chăm sóc, thúc đẩy hợp tác công - tư và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Thứ năm, bảo đảm quyền và phát huy vai trò của người cao tuổi, tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục học tập, lao động, tham gia hoạt động xã hội và đóng góp cho phát triển đất nước.
Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế quản lý và điều phối thích ứng với già hóa dân số, tăng cường điều phối liên ngành, xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả giám sát, đánh giá chính sách.
Cách tiếp cận này không chỉ bảo đảm sự thống nhất giữa các chính sách được quy định bởi các văn bản pháp luật mà còn thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, toàn diện và bao trùm. Đồng thời, đây cũng là nền tảng để phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn và từng bước hình thành nền kinh tế bạc như một kết quả của quá trình hoàn thiện thể chế, thay vì coi kinh tế bạc là một chính sách độc lập.
5. Kết luận
Già hóa dân số là xu hướng tất yếu của Việt Nam và đang đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hệ thống chính sách đối với người cao tuổi. Sau hơn 15 năm thực hiện, Luật Người cao tuổi năm 2009 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi, góp phần mở rộng an sinh xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển mới với tốc độ già hóa dân số nhanh, sự thay đổi mô hình bệnh tật, cấu trúc gia đình, thị trường lao động và nhu cầu chăm sóc đòi hỏi hệ thống chính sách cần được hoàn thiện theo hướng toàn diện và thích ứng hơn. Bên cạnh việc bảo đảm an sinh và chăm sóc sức khỏe, cần quan tâm phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn, hoàn thiện cơ chế tài chính, phát triển nguồn nhân lực chăm sóc và tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục tham gia, đóng góp cho xã hội.
Việc sửa đổi Luật Người cao tuổi và các chính sách liên quan cần được tiếp cận theo hướng xây dựng một khuôn khổ pháp lý hiện đại, đáp ứng yêu cầu của xã hội già hóa, gắn kết các chính sách về thu nhập, y tế, chăm sóc dài hạn và phát huy vai trò của người cao tuổi. Đây không chỉ là yêu cầu hoàn thiện chính sách xã hội mà còn là động lực thúc đẩy phát triển hệ thống chăm sóc, kinh tế bạc và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh già hóa dân số./.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Ban Chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
4. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
5. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
6. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.
7. Quốc hội (2009), Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12.
8. Quốc hội (2023), Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15.
9. Quốc hội (2024), Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.
10. Chính phủ (2021), Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
11. Chính phủ (2024), Nghị định số 76/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
12. Bộ Y tế (2024), Báo cáo công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Việt Nam.
13. Bộ Y tế (2024), Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Luật Người cao tuổi.
14. Hội Người cao tuổi Việt Nam (2024), Báo cáo công tác Hội và phong trào Người cao tuổi.
15. Tổng cục Thống kê & UNFPA (2021), Già hóa dân số ở Việt Nam: Thực trạng và dự báo.
16. United Nations Population Fund (UNFPA). (2021). Ageing in Viet Nam: An Analysis from the 2019 Population and Housing Census.
17. United Nations Population Fund (UNFPA). (2022). Leaving No One Behind in an Ageing Viet Nam.
18. World Health Organization. (2015). World Report on Ageing and Health.
19. World Health Organization. (2021). Decade of Healthy Ageing (2021–2030).
20. World Health Organization. (2022). Integrated Care for Older People (ICOPE): Guidance for Implementation.
21. World Health Organization. (2021). Global Strategy and Action Plan on Ageing and Health.
22. United Nations. (2002). Madrid International Plan of Action on Ageing.
24. United Nations. (2023). World Social Report 2023.
25. United Nations. (2023). World Population Prospects 2022.
[1] Liên hợp quốc, 2023; World Health Organization, 2021
[2] United Nations Population Fund, 2024; Tổng cục thống kê, 2025; World Health Organization, 2021
[3] Bộ Y tế, Báo cáo thực hiện Nghị quyết 42-NQ/TW, 2025
[4] (World Health Organization, 2021; United Nations Population Fund, 2024
[5] United Nations Population Fund (UNFPA). (2025). Population Ageing in Viet Nam: From demographic transition to development opportunity. Hanoi: UNFPA.
[6] Tổng cục Thống kê, 2025
[7] World Bank. (2021). Vietnam: Adapting to an Aging Society. Washington, DC: World Bank
[8] Ban Chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
[9] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
[10] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[11] Bộ Y tế, 2026, Đánh giá 15 năm thực hiện Luật Người cao tuổi
[12] Bộ Y tế, 2026, Đánh giá 15 năm thực hiện Luật Người cao tuổi
[13] Bộ Y tế, 2026, Đánh giá 15 năm thực hiện Luật Người cao tuổi
[14] Bộ Y tế (Cục Bảo trợ xã hội), 2025
[15] Bộ Y tế, 2026, Đánh giá 15 năm thực hiện Luật Người cao tuổi
[16] Theo thống kê từ Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện đạt khoảng 74,5 tuổi, tuy nhiên số năm sống khỏe mạnh chỉ là 65,4 năm.
[17] https://www.who.int/initiatives/decade-of-healthy-ageing
[18] Trung bình người cao tuổi Việt Nam mắc từ 3 bệnh trở lên và chủ yếu là bệnh mãn tính không lây nhiễm. https://moh.gov.vn/index.jsp?pageId=5803&aid=167352&cid=8356
Đỗ Thị Thanh Huyền - Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả