Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Các yếu tố quyết định tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi tại Việt Nam

Ngày đăng: 28/07/2026   16:19
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh tại Việt Nam, việc phát huy vai trò của người cao tuổi trong thị trường lao động có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu Điều tra Lao động - Việc làm giai đoạn 2020-2024 để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi thông qua mô hình Logit kết hợp với tác động cận biên trung bình. Kết quả cho thấy quy mô người cao tuổi tiếp tục gia tăng, trong khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm theo tuổi và tồn tại sự khác biệt đáng kể theo giới tính, khu vực cư trú, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tình trạng hôn nhân.

Kết quả ước lượng chỉ ra rằng tuổi làm giảm đáng kể xác suất tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi; trong khi khu vực cư trú, học vấn và tình trạng hôn nhân có tác động tích cực đến khả năng tham gia thị trường lao động. Lao động nữ và người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao có xác suất tham gia lực lượng lao động thấp hơn so với các nhóm còn lại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phát triển việc làm linh hoạt, nâng cao kỹ năng, thúc đẩy học tập suốt đời và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số và phát triển kinh tế bạc tại Việt Nam.

Từ khóa: người cao tuổi; già hóa dân số; tham gia lực lượng lao động; tiền lương; kinh tế bạc; mô hình Logit.

Abstract: In the context of rapid population aging in Vietnam, promoting the role of older persons in the labor market is of significant importance for economic development and social security. This study utilizes data from the Labor Force Survey for the period 2020–2024 to analyze factors influencing the labor force participation of older persons using a Logit model combined with average marginal effects. The results indicate that the size of the elderly population continues to increase, while the labor force participation rate tends to decline with age and shows significant differences by gender, area of residence, educational attainment, technical and professional qualifications, and marital status.

The estimation results reveal that age significantly reduces the probability of labor force participation among older persons, while area of residence, education, and marital status have positive effects on their likelihood of participating in the labor market. Female workers and those with higher technical and professional qualifications have a lower probability of labor force participation compared to other groups. Based on these findings, the study proposes several policy implications, including the development of flexible employment, enhancement of skills, promotion of lifelong learning, and effective utilization of older human resources in the context of population aging and the development of the silver economy in Vietnam.

Keywords: older persons; population aging; labor force participation; wages; silver economy; Logit model.

1. Giới thiệu

Già hóa dân số đang trở thành một trong những xu hướng nhân khẩu học quan trọng trên thế giới, tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với thị trường lao động và hệ thống an sinh xã hội. Trong bối cảnh lực lượng lao động trong độ tuổi có xu hướng thu hẹp, nhiều quốc gia đã chuyển từ cách tiếp cận coi người cao tuổi là nhóm phụ thuộc sang phát huy vai trò của họ như một nguồn lực lao động thông qua kéo dài thời gian làm việc, phát triển việc làm linh hoạt và thúc đẩy kinh tế bạc.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh, trong khi người cao tuổi ngày càng có trình độ học vấn, sức khỏe và tuổi thọ cao hơn các thế hệ trước. Mặc dù vậy, khả năng tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi có sự khác biệt đáng kể theo độ tuổi, giới tính, khu vực cư trú và các đặc điểm kinh tế - xã hội khác. Việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục tham gia thị trường lao động của người cao tuổi có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách phát huy nguồn nhân lực cao tuổi và thích ứng với già hóa dân số.

Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung mô tả thực trạng già hóa dân số hoặc việc làm của người cao tuổi, trong khi còn thiếu các nghiên cứu sử dụng dữ liệu vi mô ở cấp cá nhân để lượng hóa các yếu tố quyết định khả năng tham gia lực lượng lao động. Khoảng trống này làm hạn chế cơ sở thực chứng cho việc xây dựng các chính sách việc làm và phát triển nguồn nhân lực người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số.

Xuất phát từ đó, nghiên cứu sử dụng dữ liệu Điều tra Lao động - Việc làm giai đoạn 2020-2024 để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi tại Việt Nam thông qua mô hình Logit kết hợp với tác động cận biên trung bình. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hành vi tham gia thị trường lao động của người cao tuổi, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện các chính sách phát huy nguồn nhân lực người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số.

2. Thực trạng tham gia thị trường lao động của người cao tuổi tại Việt Nam

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi tại Việt Nam duy trì ở mức tương đối cao nhưng có xu hướng biến động trong giai đoạn 2020-2024. Tỷ lệ này giảm từ 34,33% năm 2020 xuống 30,15% năm 2022, trước khi phục hồi lên 33,63% vào năm 2024. Sự sụt giảm trong giai đoạn 2020-2022 có thể gắn với tác động của đại dịch COVID-19, khi hoạt động sản xuất, kinh doanh và thị trường lao động chịu ảnh hưởng mạnh, đặc biệt đối với nhóm lao động cao tuổi. Sau khi nền kinh tế phục hồi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi cũng có xu hướng tăng trở lại, phản ánh nhu cầu tiếp tục làm việc để duy trì thu nhập cũng như sự cải thiện của thị trường lao động.

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi tại Việt Nam năm 2024 khoảng 33,63%. Ảnh minh họa

Sự khác biệt về giới tính thể hiện khá rõ trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam giới luôn cao hơn đáng kể so với nữ giới, dao động từ 36,75-41,65%, trong khi ở nữ chỉ từ 25,25-29,60%. Năm 2024, khoảng cách giữa hai nhóm đạt hơn 14 điểm phần trăm (41,65% so với 27,47%). Kết quả này phản ánh sự khác biệt về vai trò giới trong thị trường lao động Việt Nam, đồng thời cho thấy phụ nữ cao tuổi có xu hướng rời khỏi thị trường lao động sớm hơn do gánh nặng chăm sóc gia đình, tình trạng sức khỏe và mức độ tham gia vào khu vực việc làm chính thức thấp hơn nam giới.

Bảng 1. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi (%)

Chỉ tiêu

2020

2021

2022

2023

2024

Chung

34,33

32,40

30,15

31,48

33,63

Nam

40,89

40,01

36,75

39,41

41,65

Nữ

29,60

26,73

25,25

25,59

27,47

Thành thị

23,55

22,75

22,68

21,29

24,56

Nông thôn

40,56

38,07

34,70

38,18

39,29

Nguồn: Tính toán từ điều tra lao động việc làm, 2020-2024

Khác biệt theo khu vực cư trú cũng rất rõ nét. Người cao tuổi ở khu vực nông thôn có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao gần gấp hai lần so với khu vực thành thị trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu. Năm 2024, tỷ lệ này đạt 39,29% ở nông thôn so với 24,56% ở thành thị. Điều này phản ánh đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam, khi người cao tuổi ở nông thôn vẫn tiếp tục tham gia sản xuất nông nghiệp, kinh doanh hộ gia đình hoặc lao động tự làm ngay cả sau tuổi nghỉ hưu. Trong khi đó, người cao tuổi ở khu vực thành thị có xu hướng rời khỏi thị trường lao động sớm hơn do tỷ lệ làm việc trong khu vực chính thức và khả năng tiếp cận các chế độ hưu trí cao hơn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi là yếu tố có ảnh hưởng rất mạnh đến khả năng tham gia lực lượng lao động. Tỷ lệ tham gia lao động giảm gần như liên tục khi tuổi tăng. Năm 2024, hơn 53,65% người trong nhóm 60-64 tuổi vẫn tham gia lực lượng lao động, nhưng tỷ lệ này giảm xuống còn 38,25% ở nhóm 65-69 tuổi, 25,13% ở nhóm 70-74 tuổi, 12,68% ở nhóm 75-79 tuổi và chỉ còn 3,86% ở nhóm từ 80 tuổi trở lên. So với nhóm 60-64 tuổi, xác suất tham gia lực lượng lao động của nhóm từ 80 tuổi trở lên chỉ còn khoảng 1/14. Xu hướng này phản ánh tác động tổng hợp của quá trình suy giảm sức khỏe, năng lực lao động và nhu cầu nghỉ ngơi khi tuổi ngày càng cao.

Bảng 2. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo nhóm tuổi (%)

Nhóm tuổi

2020

2021

2022

2023

2024

60-64

53,96

50,04

48,29

50,35

53,65

65-69

42,27

38,87

35,59

36,26

38,25

70-74

26,88

24,47

22,59

22,72

25,13

75-79

15,75

12,57

12,10

12,25

12,68

≥80

4,90

3,62

3,04

3,14

3,86

Nguồn: Tính toán từ điều tra lao động việc làm, 2020-2024

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu vi mô từ Điều tra Lao động - Việc làm (Labour Force Survey - LFS) do Cục Thống kê quốc gia thực hiện trong giai đoạn 2020-2024. Đây là cuộc điều tra mẫu quốc gia được tiến hành thường xuyên nhằm thu thập thông tin về đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng việc làm, thu nhập, trình độ học vấn, đào tạo nghề và các đặc điểm khác của lực lượng lao động Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu là người từ 60 tuổi trở lên, phù hợp với quy định của Luật Người cao tuổi năm 2009. Sau khi làm sạch dữ liệu và loại bỏ các quan sát thiếu thông tin ở các biến nghiên cứu, bộ dữ liệu gồm 111.392 quan sát được sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi. Đối với mô hình tiền lương, mẫu nghiên cứu được giới hạn ở những người cao tuổi đang có việc làm và có thông tin đầy đủ về thu nhập, với 35.180 quan sát.

3.2. Mô hình nghiên cứu

Mô hình thứ nhất được sử dụng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi.

Biến phụ thuộc được xác định như sau:

            

Do biến phụ thuộc là biến nhị phân, mô hình Logit được lựa chọn thay cho hồi quy tuyến tính thông thường nhằm bảo đảm xác suất dự báo luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1 và tránh các hạn chế của mô hình xác suất tuyến tính. Mô hình được xác định như sau:

Trong đó: LFPi là trạng thái tham gia lực lượng lao động của cá nhân i; Xi là vector các biến giải thích; β là vector hệ số cần ước lượng.

Các biến giải thích bao gồm: tuổi; giới tính; tình trạng hôn nhân; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn kỹ thuật; khu vực cư trú; tình trạng di cư; biến giả vùng; biến giả năm điều tra.

3.3. Phương pháp ước lượng

Nghiên cứu sử dụng Maximum Likelihood Estimation để ước lượng mô hình Logit. Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về hành vi tham gia thị trường lao động vì cho phép ước lượng hiệu quả đối với biến phụ thuộc nhị phân và không gặp các hạn chế của mô hình hồi quy tuyến tính khi xác suất dự báo vượt ra ngoài khoảng từ 0 đến 1. Bài viết sử dụng tác động biên trung bình (AME) để đánh giá mức độ tác động của các biến độc lập đến xác suất tham gia lực lượng lao động. AME cho biết xác suất tham gia lực lượng lao động thay đổi bao nhiêu điểm phần trăm khi một biến độc lập tăng thêm một đơn vị hoặc khi biến giả chuyển từ 0 sang 1, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.

4. Kết quả nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi

Kết quả kiểm định Wald χ² = 16.379,97 (p<0,01) cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê tổng thể, trong khi giá trị Pseudo R² đạt 0,2277 phản ánh các biến giải thích trong mô hình có khả năng giải thích tương đối tốt sự khác biệt về xác suất tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi. Đây là mức phù hợp đối với các nghiên cứu sử dụng dữ liệu điều tra vi mô và mô hình Logit.

Kết quả cho thấy tuổi là yếu tố có tác động mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Hệ số AME bằng -0,0234 cho thấy khi tuổi tăng thêm một năm, xác suất tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi giảm khoảng 2,34 điểm phần trăm, khi các yếu tố khác không đổi. Kết quả này phù hợp với lý thuyết vòng đời lao động cũng như xu hướng được quan sát trong thống kê mô tả, phản ánh sự suy giảm về sức khỏe, khả năng lao động và động cơ tiếp tục làm việc khi tuổi ngày càng cao.

Biến giới tính cũng có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định tham gia lực lượng lao động. Người cao tuổi là nữ có xác suất tham gia lực lượng lao động thấp hơn 7,91 điểm phần trăm so với nam giới (p<0,01). Kết quả này phản ánh sự khác biệt về vai trò giới trong thị trường lao động cũng như đặc điểm của hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam. Phụ nữ cao tuổi thường có xu hướng rời khỏi thị trường lao động sớm hơn do gánh nặng chăm sóc gia đình, sức khỏe và thời gian nghỉ hưu thấp hơn so với nam giới trong nhiều giai đoạn trước đây.

Đối với tình trạng hôn nhân, kết quả cho thấy đây là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tham gia lực lượng lao động. So với nhóm chưa kết hôn, người cao tuổi đã kết hôn có xác suất tham gia lực lượng lao động cao hơn 4,04 điểm phần trăm, trong khi nhóm ly hôn hoặc ly thân có xác suất thấp hơn 2,42 điểm phần trăm. Điều này cho thấy đối với một bộ phận người cao tuổi, việc tiếp tục làm việc không chỉ nhằm duy trì thu nhập mà còn góp phần duy trì các mối quan hệ xã hội và ổn định cuộc sống sau những thay đổi về hoàn cảnh gia đình.

Khu vực cư trú là một trong những yếu tố có tác động lớn nhất trong mô hình. Hệ số AME bằng 0,1328 cho thấy xác suất tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi ở nhóm khu vực thành thị cao hơn khoảng 13,28 điểm phần trăm so với nông thôn (p<0,01).

Trình độ học vấn có tác động tích cực đến khả năng tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi ở hầu hết các cấp học. So với nhóm học vấn thấp nhất, người có trình độ THCS, THPT và trung cấp/cao đẳng có xác suất tham gia lực lượng lao động cao hơn lần lượt 3,21, 6,00 và 6,92 điểm phần trăm (đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%). Điều này phản ánh vai trò của vốn nhân lực trong việc duy trì khả năng làm việc ở tuổi cao, đặc biệt trong các công việc đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm. Tuy nhiên, kết quả đối với nhóm đại học trở lên lại cho thấy tác động âm (-4,13 điểm phần trăm). Kết quả này có thể phản ánh đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam, khi người có trình độ đại học thường làm việc trong khu vực chính thức, có điều kiện hưởng lương hưu và nghỉ hưu đúng tuổi, do đó ít có nhu cầu tiếp tục tham gia lực lượng lao động hơn so với những người có trình độ học vấn thấp hơn.

Kết quả cũng cho thấy trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT) có tác động âm và có ý nghĩa thống kê ở tất cả các cấp đào tạo. So với nhóm không có CMKT, người có trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đại học có xác suất tham gia lực lượng lao động thấp hơn lần lượt 4,06, 7,75, 10,83 và 14,46 điểm phần trăm. Mặc dù kết quả này có vẻ trái với kỳ vọng ban đầu, nhưng có thể được giải thích bởi đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam.

Đối với di cư, hệ số AME đạt 0,0340 và chỉ có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, cho thấy người cao tuổi có yếu tố di cư có xác suất tham gia lực lượng lao động cao hơn khoảng 3,40 điểm phần trăm so với nhóm không di cư.

Bảng 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi

Biến

Logit

AME

Biến

Logit

AME

Tuổi

-0,1414***

-0,0234***

Trình độ CMKT

 


 


 


(0,0014)

(0,0002)

Sơ cấp

-0,2448***

-0,0406***

Nữ (=1)

-0,4771***

-0,0791***

 


(0,0593)

(0,0098)

 


(0,0186)

(0,0030)

Trung cấp

-0,4676***

-0,0775***

Tình trạng hôn nhân

 


 


 


(0,0416)

(0,0069)

Đã kết hôn

0,2435***

0,0404***

Cao đẳng

-0,6535***

-0,1083***

 


(0,0561)

(0,0093)

 


(0,0739)

(0,0122)

Ly hôn/Ly thân

-0,1460**

-0,0242**

Đại học trở lên

-0,8725***

-0,1446***

 


(0,0578)

(0,0096)

 


(0,0568)

(0,0093)

Goá

0,3722***

0,0617***

Di cư

0,2052*

0,0340*

 


(0,0964)

(0,0160)

 


(0,1106)

(0,0183)

Khác

0,6467***

0,1072***

Hiệu ứng cố định vùng

 


(0,1710)

(0,0283)

Hiệu ứng cố định năm

Khu vực cư trú

 


 


Hằng số

8,8341***

 


Thành thị (=1)

0,8012***

0,1328***

 


(0,1596)

 


 


(0,0189)

(0,0030)

Số quan sát

111.392

111.392

Học vấn

 


 


Pseudo R²

0,2277

 


THCS

0,1938***

0,0321***

Wald χ²

16.379,97*

 


 


(0,0345)

(0,0057)

 


 


 


THPT

0,3622***

0,0600***

 


 


 


 


(0,0343)

(0,0057)

 


 


 


Trung cấp/CĐ

0,4175***

0,0692***

 


 


 


 


(0,0355)

(0,0059)

 


 


 


Đại học trở lên

-0,2489***

-0,0413***

 


 


 


 


(0,0425)

(0,0070)

 


 


 


Ghi chú: Sai số chuẩn robust trong ngoặc đơn. *** p<0,01; ** p<0,05; * p<0,10.

5. Kết luận

Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh tại Việt Nam, việc duy trì sự tham gia của người cao tuổi vào thị trường lao động có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Sử dụng dữ liệu Điều tra Lao động - Việc làm giai đoạn 2020-2024, nghiên cứu đã phân tích thực trạng tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi và lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia lực lượng lao động thông qua mô hình Logit kết hợp với tác động cận biên trung bình.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người cao tuổi có xu hướng giảm khi tuổi tăng và có sự khác biệt đáng kể theo giới tính, khu vực cư trú, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng hôn nhân và tình trạng di cư. Trong đó, tuổi là yếu tố làm giảm mạnh xác suất tham gia lực lượng lao động, trong khi học vấn, khu vực cư trú và tình trạng hôn nhân góp phần gia tăng khả năng tiếp tục làm việc của người cao tuổi. Những kết quả này cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ việc xây dựng các chính sách phát triển việc làm linh hoạt, nâng cao kỹ năng và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực người cao tuổi, góp phần thích ứng với quá trình già hóa dân số và thúc đẩy phát triển kinh tế bạc tại Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2009). Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12.

2. Quốc hội (2019). Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14.

3. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2156/QĐ-TTg ngày 21/12/2021 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021-2030.

4. Pham, T. N., Le, N. T., & Tran, A. T. (2025). Trends in older persons' employment and challenges of their social welfare in Vietnam's aging population. China Population and Development Studies.

5. International Labour Organization. (2022). Decent Work Country Programme Viet Nam 2022-2026.

6. United Nations Population Fund. (2011). The Aging Population in Viet Nam: Current Status, Prognosis, and Possible Policy Responses.

Nguyễn Thành Tuân - Viện Khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động

Bài viết cùng tác giả