Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh dưới góc độ quản lý nhà nước

Ngày đăng: 29/07/2026   14:40
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển kinh tế theo hướng xanh, bền vững và chuyển đổi số, du lịch ngày càng được xác định là ngành kinh tế tổng hợp có khả năng lan tỏa mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Đối với tỉnh Bắc Ninh, nơi hội tụ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc với hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, việc phát triển kinh tế du lịch không chỉ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn tạo động lực bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, quá trình phát triển du lịch của tỉnh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do những hạn chế trong huy động và sử dụng các nguồn lực phục vụ phát triển.

Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ quản lý nhà nước, bài viết phân tích thực trạng huy động các nguồn lực tài chính, đất đai, hạ tầng, nguồn nhân lực, tài nguyên văn hóa và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2023 - 2025; đồng thời đánh giá những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong huy động nguồn lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh theo hướng bền vững trong thời gian tới.

Từ khóa: Quản lý nhà nước về kinh tế du lịch; huy động nguồn lực; phát triển kinh tế du lịch; du lịch tỉnh Bắc Ninh.

Abstract: In the context of green, sustainable, and digitally driven economic development, tourism is increasingly recognized as a comprehensive economic sector with strong spillover effects across many areas of socio-economic life. For Bac Ninh province, which possesses a rich concentration of distinctive cultural values with a diverse system of tangible and intangible cultural heritage, the development of the tourism economy not only contributes to economic restructuring but also creates momentum for preserving and promoting traditional cultural values. However, the province’s tourism development has yet to match its potential due to limitations in mobilizing and utilizing resources for development.

From a state management perspective, this paper analyzes the current situation of mobilizing resources-including finance, land, infrastructure, human resources, cultural resources, and digital transformation-for tourism economic development in Bac Ninh province during the period 2023-2025. It also evaluates the achieved results, existing limitations, and underlying causes. Based on these findings, the paper proposes several solutions to improve mechanisms and policies and enhance the effectiveness of state management in resource mobilization, thereby contributing to the sustainable development of the tourism economy in Bac Ninh province in the coming period.

Keywords: state management of tourism economy; resource mobilization; tourism economic development; Bac Ninh province tourism.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, phát triển du lịch đã trở thành một trong những định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia và địa phương. Theo Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism), du lịch không chỉ tạo nguồn thu đáng kể cho nền kinh tế mà còn góp phần tạo việc làm, thúc đẩy đầu tư, bảo tồn văn hóa và phát triển bền vững. Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị đã xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu huy động hiệu quả mọi nguồn lực xã hội để phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững.

Tỉnh Bắc Ninh sở hữu nhiều lợi thế nổi bật để phát triển kinh tế du lịch

Là một trong những trung tâm văn hóa lâu đời của vùng Đồng bằng sông Hồng, Bắc Ninh sở hữu nhiều lợi thế nổi bật để phát triển kinh tế du lịch. Toàn tỉnh hiện có hệ thống di sản văn hóa phong phú với hơn 1.500 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có nhiều di tích quốc gia đặc biệt; Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; cùng nhiều lễ hội truyền thống, làng nghề, công trình kiến trúc và không gian văn hóa đặc sắc. Bên cạnh đó, vị trí địa lý thuận lợi, kết nối với Hà Nội và các trung tâm kinh tế lớn của vùng Thủ đô tạo điều kiện để Bắc Ninh phát triển các loại hình du lịch văn hóa, tâm linh, trải nghiệm làng nghề và du lịch cuối tuần. Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực trong thời gian qua, đóng góp của ngành du lịch vào GRDP của tỉnh vẫn còn khiêm tốn; quy mô đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng; sản phẩm du lịch còn thiếu tính khác biệt; cơ sở hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Một trong những nguyên nhân quan trọng là việc huy động các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế du lịch còn phân tán, thiếu tính đồng bộ, chưa khai thác hiệu quả nguồn lực xã hội và chưa phát huy đầy đủ vai trò điều tiết, dẫn dắt của Nhà nước trong tổ chức phát triển. Dưới góc độ quản lý nhà nước, huy động nguồn lực không chỉ dừng lại ở việc bố trí ngân sách mà còn bao gồm quá trình xây dựng thể chế, quy hoạch, cơ chế chính sách, thu hút đầu tư, huy động nguồn lực xã hội, phát triển nguồn nhân lực, khai thác tài nguyên văn hóa và thúc đẩy chuyển đổi số nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch. Do đó, nghiên cứu thực trạng huy động nguồn lực dưới góc độ quản lý nhà nước có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, khai thác tối ưu các nguồn lực phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh mới.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1. Huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch dưới góc độ quản lý nhà nước

Nguồn lực phát triển được hiểu là tổng hợp các điều kiện vật chất và phi vật chất có thể được huy động và sử dụng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (World Bank, 2023), bao gồm vốn tài chính mà còn bao gồm nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, thể chế, khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng và năng lực quản trị. Trong lĩnh vực du lịch, các nguồn lực này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của điểm đến.

Dưới góc độ kinh tế du lịch, huy động nguồn lực là quá trình thu hút, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức xã hội nhằm tạo lập điều kiện phát triển các hoạt động du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng giá trị kinh tế. Theo UN Tourism (2024), việc huy động nguồn lực hiệu quả phải dựa trên nguyên tắc phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư, tăng cường đầu tư vào hạ tầng, chuyển đổi số, bảo tồn tài nguyên và phát triển nguồn nhân lực.

Tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước, huy động nguồn lực không chỉ là hoạt động huy động vốn đầu tư mà là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực công để hoạch định chiến lược, xây dựng quy hoạch, ban hành chính sách, tạo lập môi trường đầu tư, điều tiết phân bổ nguồn lực và tổ chức phối hợp giữa các chủ thể nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế du lịch. Nhà nước chuyển từ vai trò "quản lý trực tiếp" sang vai trò "kiến tạo phát triển", tập trung xây dựng thể chế, điều phối các nguồn lực và thúc đẩy hợp tác công - tư để nâng cao hiệu quả đầu tư và phát triển kinh tế du lịch của địa phương bền vững, hiệu quả.

Như vậy, huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch được thực hiện thông qua các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách huy động nguồn lực. Đây là nội dung giữ vai trò nền tảng nhằm tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, ổn định và thuận lợi cho các chủ thể tham gia đầu tư phát triển du lịch. Nhà nước ban hành các cơ chế ưu đãi đầu tư, chính sách xã hội hóa, chính sách hợp tác công - tư (, quy hoạch sử dụng đất, chính sách thuế và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, qua đó khuyến khích các nguồn lực trong và ngoài khu vực công tham gia phát triển du lịch.

Thứ hai, huy động và phân bổ nguồn lực tài chính. Nhà nước thực hiện phân bổ ngân sách cho đầu tư hạ tầng, bảo tồn di sản, xúc tiến quảng bá, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển sản phẩm du lịch; đồng thời huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách thông qua doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, hợp tác công - tư và xã hội hóa đầu tư.

Thứ ba, huy động nguồn lực đất đai và phát triển kết cấu hạ tầng. Quản lý nhà nước giữ vai trò quy hoạch không gian phát triển du lịch, bố trí quỹ đất, đầu tư hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng số nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và sức hấp dẫn của các điểm đến du lịch.

Thứ tư, huy động nguồn lực con người và nguồn lực văn hóa. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch; đồng thời bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, lễ hội, làng nghề và tri thức bản địa như những nguồn lực nội sinh quan trọng phục vụ phát triển kinh tế du lịch.

Thứ năm, huy động nguồn lực khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch, phát triển du lịch thông minh và quảng bá trên nền tảng số trở thành nguồn lực mới góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cũng như năng lực cạnh tranh của điểm đến.

Các nội dung trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Hiệu quả huy động nguồn lực phụ thuộc không chỉ vào quy mô nguồn lực được huy động mà còn vào năng lực điều phối, phân bổ và sử dụng của cơ quan quản lý nhà nước. Đây cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển kinh tế du lịch ở cấp địa phương.

3. Thực trạng huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh

3.1. Kết quả phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch văn hóa, lễ hội, tâm linh, làng nghề và du lịch trải nghiệm. Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công cùng các giá trị văn hóa gắn với Dân ca Quan họ Bắc Ninh tạo nên nguồn tài nguyên đặc trưng, có khả năng hình thành các sản phẩm du lịch mang tính khác biệt. Bên cạnh đó, vị trí tiếp giáp Thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và có hệ thống giao thông kết nối tương đối thuận lợi giúp tỉnh có điều kiện tiếp cận thị trường khách lớn, nhất là khách du lịch nội địa và khách tham quan trong ngày. Giai đoạn 2023-2025, cùng với quá trình phục hồi của hoạt động du lịch sau thời kỳ bị gián đoạn, tỉnh Bắc Ninh đã tăng cường tổ chức các sự kiện văn hóa, lễ hội, chương trình xúc tiến, quảng bá và hoạt động liên kết phát triển du lịch. Số lượng khách, doanh thu du lịch, cơ sở lưu trú và lao động trong lĩnh vực du lịch có xu hướng tăng hàng năm.

Bảng 1. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2023-2025

Chỉ tiêu

ĐVT

2023

2024

2025

Tăng năm 2025 so với năm 2023

Lượt khách du lịch

Nghìn lượt

2.15

2.72

3.45

60,5%

Doanh thu từ hoạt động du lịch

Tỷ đồng

2.48

3.12

4.05

63,3%

Cơ sở lưu trú du lịch

Cơ sở

615

648

685

11,4%

Lao động trực tiếp và gián tiếp trong lĩnh vực du lịch

Người

7.85

8.52

9.45

20,4%

Sự kiện văn hóa, du lịch và hoạt động xúc tiến được tổ chức

Sự kiện

38

45

54

42,1%

Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bắc Ninh

Bảng 1 cho thấy hoạt động du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2023-2025 có bước tăng trưởng khá rõ, thể hiện qua lượt khách tăng 60,5%, doanh thu tăng 63,3% và số lao động du lịch tăng 20,4%. Dưới góc độ quản lý nhà nước, kết quả này phản ánh tác động tích cực của công tác tổ chức sự kiện, xúc tiến quảng bá, cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ các chủ thể tham gia hoạt động du lịch. Tuy nhiên, số cơ sở lưu trú chỉ tăng 11,4%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng lượt khách, cho thấy khả năng giữ chân khách và phát triển du lịch lưu trú còn hạn chế. Việc doanh thu tăng nhanh hơn lượt khách bước đầu phản ánh hiệu quả khai thác dịch vụ được cải thiện, song chưa đủ để khẳng định chất lượng tăng trưởng đã bền vững. Mức tăng lao động thấp hơn tốc độ tăng khách cũng đặt ra yêu cầu đối với cơ quan quản lý trong đào tạo, chuẩn hóa kỹ năng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Số sự kiện văn hóa, du lịch tăng từ 38 lên 54 cho thấy vai trò điều phối và quảng bá của Nhà nước được tăng cường, nhưng sản phẩm du lịch vẫn chủ yếu dựa vào di tích, lễ hội và tham quan ngắn ngày. Tỉnh Bắc Ninh xác định mục tiêu chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng cường liên kết điểm đến với lưu trú, mua sắm, ẩm thực và giải trí. Đồng thời, đãhuy động đồng bộ các nguồn lực tài chính, hạ tầng, nhân lực, văn hóa và công nghệ số nhằm kéo dài thời gian lưu trú, nâng mức chi tiêu và gia tăng đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế địa phương.

3.2. Huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh

Nguồn lực tài chính là điều kiện trực tiếp để đầu tư kết cấu hạ tầng, tu bổ di tích, tổ chức xúc tiến, phát triển sản phẩm, đào tạo nhân lực và ứng dụng công nghệ trong quản lý du lịch. Trong giai đoạn 2023 - 2025, tỉnh Bắc Ninh đã từng bước gia tăng nguồn lực tài chính dành cho phát triển kinh tế du lịch, bao gồm NSNN, vốn đầu tư của doanh nghiệp và các khoản đóng góp, tài trợ, xã hội hóa từ tổ chức, cộng đồng và cá nhân.

Bảng 2. Nguồn lực tài chính huy động cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2023-2025

Nguồn lực tài chính

ĐVT

2023

2024

2025

Tăng năm 2025 so với năm 2023

Ngân sách nhà nước cho hạ tầng, bảo tồn và xúc tiến du lịch

Tỷ đồng

152

176

205

34,9%

Vốn đầu tư của doanh nghiệp vào cơ sở lưu trú, dịch vụ và sản phẩm du lịch

Tỷ đồng

620

755

910

46,8%

Nguồn vốn xã hội hóa, tài trợ và đóng góp cộng đồng

Tỷ đồng

245

318

395

61,2%

Tổng nguồn lực tài chính huy động

Tỷ đồng

1.017

1.249

1.51

48,5%

Kinh phí trực tiếp cho hoạt động quản lý, xúc tiến và hỗ trợ phát triển du lịch

Tỷ đồng

18,6

22,4

27,8

49,5%

Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bắc Ninh

Bảng 2 cho thấy tổng nguồn lực tài chính huy động cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh tăng từ 1.017 tỷ đồng năm 2023 lên 1.510 tỷ đồng năm 2025, tương ứng tăng 48,5%, phản ánh hiệu quả bước đầu của các chính sách huy động nguồn lực dưới sự điều phối của Nhà nước. Trong cơ cấu nguồn vốn, vốn đầu tư của doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 60-61%), cho thấy khu vực tư nhân ngày càng trở thành động lực quan trọng trong phát triển dịch vụ và hạ tầng du lịch. Trong khi đó, nguồn vốn ngân sách nhà nước tăng từ 152 tỷ đồng lên 205 tỷ đồng nhưng tỷ trọng giảm từ 14,9% xuống còn 13,6%, thể hiện sự chuyển dịch từ đầu tư trực tiếp sang vai trò kiến tạo, dẫn dắt và tạo lập môi trường thuận lợi để thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách. Đồng thời, nguồn vốn xã hội hóa tăng nhanh nhất (61,2%), chủ yếu được huy động cho bảo tồn di sản, tổ chức lễ hội, phát triển làng nghề và không gian văn hóa, góp phần phát huy nguồn lực nội sinh của địa phương. Kết quả này cho thấy công tác quản lý nhà nước đã từng bước mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng vào phát triển kinh tế du lịch.

Tuy nhiên, dưới góc độ quản lý nhà nước, cơ cấu huy động nguồn lực tài chính vẫn còn một số bất cập. Nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực có khả năng thu hồi vốn nhanh như lưu trú, nhà hàng và dịch vụ thương mại, trong khi đầu tư cho hạ tầng du lịch, sản phẩm đặc thù, du lịch cộng đồng và các không gian trải nghiệm văn hóa còn hạn chế. Kinh phí dành cho hoạt động quản lý, xúc tiến và hỗ trợ phát triển du lịch tuy tăng từ 18,6 tỷ đồng lên 27,8 tỷ đồng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn lực, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực quản lý và quảng bá điểm đến. Bên cạnh đó, việc triển khai các mô hình hợp tác công - tư và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng chưa thực sự hiệu quả, làm giảm sức hấp dẫn đối với các dự án đầu tư dài hạn. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động và phân bổ nguồn lực theo hướng minh bạch, có trọng tâm và tăng cường vai trò điều phối của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch bền vững.

3.3. Huy động nguồn lực đất đai, kết cấu hạ tầng và tài nguyên văn hóa

Đất đai, kết cấu hạ tầng và tài nguyên văn hóa là những nguồn lực có quan hệ chặt chẽ trong phát triển du lịch Bắc Ninh. Nếu đất đai và hạ tầng tạo điều kiện vật chất để hình thành không gian và sản phẩm du lịch, thì các giá trị văn hóa đóng vai trò tạo nên bản sắc, sức hấp dẫn và lợi thế cạnh tranh của điểm đến.

Trong giai đoạn 2023-2025, tỉnh đã từng bước lồng ghép định hướng phát triển du lịch trong quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất và các chương trình phát triển văn hóa. Một số tuyến đường kết nối di tích, làng nghề và khu vực tổ chức lễ hội được cải tạo; hệ thống biển chỉ dẫn, bãi đỗ xe, không gian cảnh quan và một số công trình phụ trợ tại điểm đến được đầu tư. Đồng thời, hoạt động tu bổ di tích, duy trì lễ hội, bảo tồn Dân ca Quan họ và hỗ trợ làng nghề tiếp tục được quan tâm.

Bảng 3. Kết quả huy động nguồn lực hạ tầng và văn hóa phục vụ phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2023-2025

Chỉ tiêu

2023

2024

2025

Điểm, khu du lịch được cải tạo, bổ sung hạ tầng phục vụ khách

12

16

21

Tuyến kết nối di tích, làng nghề và điểm du lịch được nâng cấp

8

11

15

Di tích được tu bổ, tôn tạo gắn với khai thác du lịch

18

24

31

Làng nghề, không gian văn hóa được hỗ trợ phát triển sản phẩm du lịch

10

14

19

Lễ hội, sự kiện văn hóa được tổ chức gắn với quảng bá du lịch

26

32

40

Câu lạc bộ, nghệ nhân, cộng đồng thực hành di sản được hỗ trợ

95

118

146

Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bắc Ninh

Bảng 3 cho thấy công tác huy động nguồn lực hạ tầng và văn hóa phục vụ phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh đã có những chuyển biến tích cực trong giai đoạn 2023-2025. Số điểm, khu du lịch được cải tạo hoặc bổ sung hạ tầng tăng từ 12 lên 21 điểm, số tuyến giao thông kết nối các điểm du lịch tăng từ 8 lên 15 tuyến, phản ánh sự ưu tiên của Nhà nước trong bố trí nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Đồng thời, số di tích được tu bổ, tôn tạo tăng từ 18 lên 31 di tích; số làng nghề và không gian văn hóa được hỗ trợ phát triển sản phẩm tăng từ 10 lên 19 điểm; số câu lạc bộ, nghệ nhân và cộng đồng thực hành di sản được hỗ trợ tăng từ 95 lên 146 trường hợp. Những kết quả này cho thấy cơ quan quản lý nhà nước đã từng bước thực hiện tốt vai trò điều phối, huy động ngân sách, nguồn lực xã hội và sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch. Việc kết hợp đầu tư hạ tầng với khai thác các giá trị văn hóa truyền thống đã góp phần hình thành nền tảng quan trọng để phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng và nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến Bắc Ninh. Tuy nhiên, xét dưới góc độ quản lý nhà nước, hiệu quả huy động và sử dụng các nguồn lực hạ tầng và văn hóa vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương. Hạ tầng du lịch giữa các điểm đến còn thiếu đồng bộ, nhiều di tích và làng nghề chưa được đầu tư đầy đủ các công trình dịch vụ thiết yếu, làm hạn chế khả năng kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách. Bên cạnh đó, việc chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành nguồn lực kinh tế còn chậm; nhiều giá trị di sản mới dừng ở hoạt động bảo tồn và trình diễn, chưa được tổ chức thành chuỗi sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao và khả năng khai thác thường xuyên. Công tác quy hoạch không gian du lịch, bố trí quỹ đất và liên kết giữa các chủ thể tham gia phát triển du lịch còn thiếu đồng bộ, trong khi quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp tạo áp lực lớn đối với việc bảo tồn cảnh quan và không gian văn hóa. Điều này cho thấy quản lý nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch, tăng cường điều phối liên ngành và xây dựng cơ chế huy động hiệu quả hơn các nguồn lực công, tư và cộng đồng nhằm khai thác bền vững tài nguyên văn hóa phục vụ phát triển kinh tế du lịch.

3.4. Huy động và phát triển nguồn nhân lực du lịch

Nguồn nhân lực quyết định chất lượng phục vụ, khả năng đổi mới sản phẩm và hiệu quả khai thác các nguồn lực khác. Đối với Bắc Ninh, phát triển nhân lực du lịch không chỉ bao gồm lao động trong doanh nghiệp lưu trú, lữ hành và dịch vụ mà còn bao gồm cán bộ quản lý nhà nước, người làm việc tại di tích, nghệ nhân, hướng dẫn viên tại điểm, hộ kinh doanh và cộng đồng dân cư tham gia cung ứng dịch vụ. Giai đoạn 2023 - 2025, tỉnh đã tăng cường tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, quảng bá, chuyển đổi số và quản lý điểm đến. Số cán bộ trực tiếp tham gia quản lý du lịch tăng từ 48 người năm 2023 lên 58 người năm 2025. Số cán bộ, người lao động được đào tạo, bồi dưỡng tăng từ 35 người lên 63 người đối với nhóm quản lý chuyên trách; đồng thời số lượt lao động và cộng đồng được tập huấn cũng tăng qua các năm.

Bảng 4. Kết quả huy động nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2023 - 2025

Chỉ tiêu

ĐVT

2023

2024

2025

Cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý du lịch

Người

48

52

58

Cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn

Người

35

47

63

Lao động, hộ kinh doanh và cộng đồng được tập huấn nghiệp vụ du lịch

Lượt

420

610

850

Dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực du lịch

%

82

90

100

Cơ sở dữ liệu chuyên ngành du lịch được số hóa

%

58

75

92

Điểm du lịch được giới thiệu, quảng bá trên nền tảng số của tỉnh Bắc Ninh

Điểm

28

41

57

Cơ sở kinh doanh du lịch tham gia nền tảng số, bản đồ số hoặc thanh toán không dùng tiền mặt

Cơ sở

165

248

360

Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bắc Ninh

Bảng 4 cho thấy số lượt lao động, hộ kinh doanh và thành viên cộng đồng được tập huấn tăng từ 420 lượt năm 2023 lên 850 lượt năm 2025, phản ánh sự quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực du lịch. Nội dung đào tạo được mở rộng từ nghiệp vụ phục vụ khách sang quảng bá trực tuyến, xây dựng sản phẩm và kỹ năng giao tiếp, góp phần nâng cao năng lực của lực lượng lao động tại các điểm du lịch văn hóa và làng nghề. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đồng đều; lao động có trình độ ngoại ngữ, quản trị điểm đến, phát triển sản phẩm và ứng dụng công nghệ còn thiếu, trong khi lao động thời vụ vẫn chiếm tỷ lệ lớn tại các lễ hội và làng nghề. Công tác đào tạo chủ yếu là các khóa ngắn hạn, chưa gắn chặt với nhu cầu thực tiễn và thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả sau đào tạo; sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp còn hạn chế. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, mặc dù số lượng tăng qua các năm nhưng năng lực quản lý liên ngành và khả năng tham mưu về quy hoạch, đầu tư, chuyển đổi số, hợp tác công - tư chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Điều này cho thấy quản lý nhà nước cần tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ và tăng cường huy động nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế du lịch trong giai đoạn mới.

3.5. Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

Chuyển đổi số đang tạo ra nguồn lực mới cho quản lý và phát triển du lịch thông qua dữ liệu, nền tảng số, bản đồ số, truyền thông trực tuyến, đặt dịch vụ điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt. Đối với địa phương có quy mô không lớn và nằm gần thị trường Hà Nội như Bắc Ninh, công nghệ số có thể giúp giảm chi phí quảng bá, kết nối điểm đến và tiếp cận trực tiếp khách du lịch. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực du lịch tăng từ 82% năm 2023 lên 100% năm 2025. Kết quả này góp phần rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục, tăng tính công khai, minh bạch và tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh. Tỷ lệ cơ sở dữ liệu chuyên ngành được số hóa tăng từ 58% lên 92%, tạo điều kiện để cơ quan quản lý từng bước cập nhật thông tin về điểm đến, cơ sở lưu trú, doanh nghiệp, di tích, lễ hội và hoạt động kinh doanh dịch vụ. Số điểm du lịch được giới thiệu trên các nền tảng số của tỉnh tăng từ 28 điểm lên 57 điểm; số cơ sở kinh doanh tham gia bản đồ số, nền tảng quảng bá hoặc thanh toán không dùng tiền mặt tăng từ 165 cơ sở lên 360 cơ sở. Qua đó, khả năng tiếp cận thông tin của khách du lịch được cải thiện, đồng thời hỗ trợ các cơ sở kinh doanh nhỏ mở rộng thị trường mà không phụ thuộc hoàn toàn vào hình thức quảng bá truyền thống.

Tuy nhiên, quá trình số hóa chủ yếu mới tập trung vào cung cấp thông tin và quảng bá. Dữ liệu giữa ngành du lịch với văn hóa, giao thông, thương mại và chính quyền địa phương chưa được liên thông đầy đủ. Một số nội dung trên nền tảng số còn thiếu cập nhật, chưa có tính tương tác cao và chưa hỗ trợ toàn bộ hành trình của khách từ tìm kiếm thông tin, xây dựng lịch trình, đặt dịch vụ đến đánh giá chất lượng. Hệ thống dữ liệu chưa được khai thác sâu để dự báo thị trường, phân tích hành vi khách, quản lý sức chứa hoặc điều phối dòng khách trong mùa lễ hội. Năng lực ứng dụng số giữa các doanh nghiệp và hộ kinh doanh còn chênh lệch do nhiều hộ kinh doanh, làng nghề và điểm du lịch cộng đồng mới sử dụng mạng xã hội ở mức đơn giản. Điều này cho thấy quản lý nhà nước không chỉ cần đầu tư nền tảng mà còn phải hỗ trợ các chủ thể nâng cao năng lực số, chuẩn hóa dữ liệu và tham gia vào hệ sinh thái du lịch thông minh.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh

Một là, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị nhà nước trong huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh: Trọng tâm của quản trị công hiện đại là chuyển vai trò của Nhà nước từ chủ yếu đầu tư trực tiếp sang kiến tạo phát triển, điều phối và tạo lập môi trường thuận lợi để huy động các nguồn lực xã hội. Vì vậy, tỉnh Bắc Ninh cần rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về đầu tư, đất đai, bảo tồn di sản, xã hội hóa và hợp tác công - tư theo hướng đồng bộ với Quy hoạch tỉnh và chiến lược phát triển du lịch. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý về văn hóa, du lịch, kế hoạch và đầu tư, tài chính, tài nguyên và môi trường, xây dựng, giao thông và chính quyền địa phương nhằm bảo đảm thống nhất trong quy hoạch, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Bên cạnh đó, cần đổi mới phương thức quản lý theo hướng quản trị dựa trên kết quả, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động nguồn lực và tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý.

Hai là, đổi mới cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực theo mô hình quản trị đa chủ thể cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh: Nhà nước cần đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách và phát huy vai trò của doanh nghiệp, cộng đồng, tổ chức xã hội và các nhà đầu tư. Tỉnh cần ưu tiên triển khai các dự án hợp tác công - tư đối với hạ tầng du lịch, bãi đỗ xe, trung tâm thông tin du lịch, không gian trải nghiệm văn hóa và các công trình dịch vụ công cộng tại điểm đến. Đồng thời, xây dựng cơ chế ưu đãi phù hợp đối với các dự án đầu tư vào sản phẩm du lịch đặc thù, du lịch cộng đồng, bảo tồn làng nghề và phát triển dịch vụ chất lượng cao. Việc phân bổ nguồn lực cần dựa trên hiệu quả đầu tư, mức độ lan tỏa và khả năng tạo giá trị gia tăng, thay vì phân bổ bình quân theo địa bàn hoặc lĩnh vực.

Ba là, phát huy nguồn lực văn hóa và cộng đồng theo hướng đồng quản trị nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh: Đối với Bắc Ninh, tài nguyên văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển du lịch. Vì vậy, quản trị công cần chuyển từ tư duy bảo tồn đơn thuần sang quản trị giá trị di sản gắn với phát triển kinh tế. Cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng cơ chế để nghệ nhân, cộng đồng dân cư, làng nghề, hợp tác xã và doanh nghiệp cùng tham gia quản lý, khai thác và hưởng lợi từ các hoạt động du lịch. Đồng thời, hỗ trợ xây dựng chuỗi sản phẩm gắn với Dân ca Quan họ, lễ hội truyền thống, làng nghề và ẩm thực địa phương; tăng cường liên kết giữa di tích, doanh nghiệp lữ hành và cơ sở dịch vụ nhằm hình thành hệ sinh thái du lịch văn hóa có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững.

Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị trong phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh: Quản lý nhà nước cần đổi mới công tác phát triển nguồn nhân lực theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường và yêu cầu chuyển đổi số. Cần xây dựng chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng về quản trị điểm đến, phát triển sản phẩm, marketing số, ngoại ngữ và kỹ năng ứng dụng công nghệ. Đồng thời, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước theo hướng chuyên nghiệp, có khả năng quản trị liên ngành, quản lý dự án, huy động nguồn lực và hợp tác công - tư. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả điều phối các nguồn lực phát triển du lịch trong bối cảnh quản trị hiện đại ở Bắc Ninh.

Năm là, ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh: Chuyển đổi số cần được xác định là một nguồn lực phát triển mới của ngành du lịch. Tỉnh cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về tài nguyên, doanh nghiệp, sản phẩm và thị trường du lịch; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các ngành văn hóa, du lịch, giao thông, thương mại và chính quyền địa phương. Đồng thời, phát triển nền tảng du lịch thông minh tích hợp thông tin, đặt dịch vụ, thanh toán điện tử, phản ánh hiện trường và đánh giá chất lượng dịch vụ. Bên cạnh đầu tư hạ tầng số, cơ quan quản lý cần hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh nâng cao năng lực chuyển đổi số, qua đó khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ quản lý, xúc tiến và phát triển thị trường.

5. Kết luận

Huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh là một trong những nội dung trọng tâm của quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế du lịch, quyết định khả năng khai thác hiệu quả các tiềm năng và lợi thế của địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai đoạn 2023 - 2025, tỉnh Bắc Ninh đã đạt được những chuyển biến tích cực trong huy động nguồn lực tài chính, hạ tầng, văn hóa, nhân lực và chuyển đổi số, góp phần thúc đẩy tăng trưởng hoạt động du lịch. Tuy nhiên, việc huy động và sử dụng các nguồn lực vẫn còn những hạn chế về tính đồng bộ, hiệu quả liên kết và khả năng chuyển hóa các giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế. Việc nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư mà còn phụ thuộc vào năng lực kiến tạo, điều phối và phối hợp của Nhà nước với doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức xã hội. Do đó, việc hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế huy động nguồn lực, phát triển quản trị đa chủ thể, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh quản trị số là những giải pháp có ý nghĩa quyết định nhằm phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bắc Ninh theo hướng bền vững, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu quản trị công hiện đại.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Hà Nội.

2. Chính phủ (2024), Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội.

3. Quốc hội (2017), Luật Du lịch số 09/2017/QH14, Hà Nội.

4. Quốc hội, (2019), Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14, Hà Nội.

5. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh (2023-2025), Báo cáo tổng kết công tác văn hóa, thể thao và du lịch năm 2023, Bắc Ninh.

6. UBND tỉnh Bắc Ninh, (2023-2025). Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2023, Bắc Ninh. 

Nguyễn Thị Thanh Huyền - Học viện Hành chính và Quản trị công

Bài viết cùng tác giả