Từ khóa: chất thải rắn sinh hoạt; chính quyền địa phương; cộng đồng ven biển; Nam Trung Bộ; quản trị địa phương.
Abstract: This article examines the role and participation of local government in household solid waste management in selected coastal communities of the South Central Coast region of Vietnam. Employing a predominantly qualitative research design centered on a case study approach, the study draws on legal documents, academic literature, and field observations conducted in May 2025. Data were analyzed across four dimensions: (i) translating policy into services; (ii) coordinating stakeholders; (iii) enabling community participation and norms; and (iv) feedback, adaptation, and inter-level coordination. The findings indicate that local government not only performs administrative management functions but also creates enabling conditions for implementation through organizing waste collection services, mobilizing grassroots organizations, maintaining feedback channels, and addressing operational bottlenecks. However, effectiveness remains constrained by limitations in collection point infrastructure, collection frequency, the lack of synchronization between waste sorting and treatment, insufficient resources for the collection workforce, and pressures arising from marine-based livelihoods. Based on these findings, the article proposes policy implications oriented toward designing area-specific collection models, linking waste sorting with treatment chains, institutionalizing feedback mechanisms, supporting the collection workforce, and strengthening inter-level coordination.
Keywords: household solid waste; local government; coastal communities; South Central Coast; local governance.
![]()
1. Đặt vấn đề
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là một nhiệm vụ công có tính liên ngành, đòi hỏi đồng thời năng lực tổ chức dịch vụ, nguồn lực tài chính, hạ tầng, công nghệ và sự hợp tác của người dân. Ở các địa phương ven biển như vùng Nam Trung Bộ, yêu cầu này trở nên phức tạp hơn bởi nguồn phát sinh rác không chỉ đến từ hộ gia đình mà còn gắn với chợ dân sinh, dịch vụ ăn uống, hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, cảng cá, tàu thuyền và dân cư mùa vụ. Các nghiên cứu và báo cáo quốc tế cho thấy hiệu quả quản lý chất thải chịu tác động đồng thời của thể chế, tài chính, tổ chức, hạ tầng và hành vi của các chủ thể; báo cáo cập nhật của Ngân hàng Thế giới năm 2026 tiếp tục cho thấy quản lý chất thải cần được xem xét đồng thời qua các chiều cạnh thu gom, xử lý, thể chế và tài chính ở nhiều quốc gia và đô thị (Abarca Guerrero et al., 2013; Cook et al., 2026; United Nations Environment Programme & International Solid Waste Association, 2024).
Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, với các sửa đổi, bổ sung có liên quan, trong đó có Luật số 146/2025/QH15: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, là nền tảng pháp lý cho việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và phân định trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi quản lý chất thải rắn sinh hoạt (Quốc hội, 2020, 2025). Khung quy định chi tiết thi hành hiện được thể hiện trong Văn bản hợp nhất số 49/VBHN-BNNMT ngày 17/4/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hợp nhất Nghị định số 08/2022/NĐ-CP cùng các sửa đổi, bổ sung có liên quan (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Tuy nhiên, hiệu lực của quy định trong thực tế vẫn phụ thuộc đáng kể vào cách chính quyền cơ sở tổ chức dịch vụ, phân công trách nhiệm, phối hợp với đơn vị thu gom và huy động các tổ chức cộng đồng.
Từ góc độ nghiên cứu, khoảng trống cần làm rõ không phải là liệu chính quyền địa phương có trách nhiệm hay không, mà là trách nhiệm đó được chuyển hóa thành cơ chế thực thi như thế nào ở cấp gần dân nhất. Nghiên cứu về hệ thống chất thải đã chỉ ra tính đa chiều của các yếu tố thể chế, tài chính, kỹ thuật và xã hội (Abarca Guerrero et al., 2013), nhưng vẫn cần thêm bằng chứng vi mô về cách lịch thu gom, điểm tập kết, chủ thể trung gian, kênh phản ánh và sự điều chỉnh mô hình tương tác trong bối cảnh cộng đồng ven biển. Bài viết vì vậy tập trung vào các cơ chế tổ chức và điều phối của chính quyền ở cấp cơ sở, thay vì quy giản kết quả quản lý cho riêng công nghệ xử lý hoặc “ý thức người dân”.
Bài viết hướng đến hai mục tiêu. Thứ nhất, nhận diện các phương thức mà chính quyền địa phương tham gia vào quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở một số địa bàn ven biển vùng Nam Trung Bộ. Thứ hai, phân tích những điều kiện giúp sự tham gia đó tạo ra thay đổi trong hành vi cộng đồng và những điểm nghẽn làm giảm tính bền vững của kết quả. Từ đó, nghiên cứu trả lời hai câu hỏi: (1) chính quyền địa phương đang thực hiện vai trò tổ chức, điều phối và huy động cộng đồng như thế nào; và (2) những yếu tố nào đang thúc đẩy hoặc cản trở hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các địa bàn được khảo sát?
2. Cơ sở lý luận và cách tiếp cận
2.1. Quản trị địa phương, hành vi và sự tham gia cộng đồng
Bài viết tiếp cận quản lý chất thải rắn sinh hoạt như một quá trình quản trị địa phương, thay vì chỉ là hoạt động kỹ thuật thu gom và xử lý. Trong cách hiểu này, chính quyền địa phương vừa thực hiện quyền lực công, vừa tổ chức hoặc kết nối dịch vụ, điều phối các tác nhân, tạo cơ chế phản hồi và duy trì điều kiện để người dân tham gia. Hiệu quả quản lý vì vậy không chỉ được đánh giá bằng số đợt tuyên truyền hay số thùng rác, mà còn bằng mức độ ổn định của dịch vụ, tính rõ ràng của trách nhiệm, khả năng xử lý phản ánh và mức độ phù hợp giữa quy tắc với điều kiện địa bàn.
Ở cấp độ hành vi, lý thuyết hành vi có kế hoạch cho rằng ý định và hành vi chịu ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991). Đối với hành vi môi trường, các giá trị, niềm tin, chuẩn mực và điều kiện bối cảnh cũng có vai trò đáng kể (Stern, 2000). Nghiên cứu của Babaei et al (2015) cho thấy thái độ tích cực đối với tái chế có thể cùng tồn tại với khoảng cách về kiến thức và thực hành, qua đó nhấn mạnh nhu cầu tăng cường nhận thức và các điều kiện hỗ trợ việc thực hiện hành vi. Vì vậy, tuyên truyền chỉ là một mắt xích, người dân khó duy trì phân loại hoặc bỏ rác đúng giờ nếu lịch thu gom không ổn định, điểm tập kết bất tiện hoặc rác đã phân loại cuối cùng vẫn bị trộn chung.
Ở cấp độ cộng đồng, Ostrom (1990) nhấn mạnh vai trò của các quy tắc được chấp nhận, cơ chế giám sát và sự tham gia của người sử dụng nguồn lực trong quản trị tài nguyên dùng chung. Các tiếp cận tham gia cũng coi việc huy động tri thức và sự tham gia của cộng đồng là điều kiện quan trọng đối với tính bền vững của thực hành phát triển (Pretty, 1995). Vận dụng vào quản lý rác ở thôn, xã, các gợi ý này cho phép xem xét cách quan hệ xã hội tại chỗ, cơ chế phản hồi và trách nhiệm được phân công ảnh hưởng đến khả năng duy trì chuẩn mực cộng đồng.
2.2. Khung phân tích vai trò của chính quyền địa phương
Từ các gợi ý trên, bài viết khái quát vai trò của chính quyền địa phương thành bốn nội dung như sau: (1) Chuyển dịch chính sách thành cấu trúc dịch vụ có thể vận hành; (2) Điều phối các chủ thể trung gian và phân công trách nhiệm; (3) Tạo điều kiện cho sự tham gia, chuẩn mực xã hội và tự giám sát; (4) Tiếp nhận phản hồi, thích ứng mô hình và kết nối những vấn đề vượt quá năng lực cấp cơ sở. Khung phân tích này sẽ cho thấy rằng thay vì đồng nhất vai trò chính quyền với “tuyên truyền” hoặc “quản lý hành chính”, nghiên cứu xem chính quyền như chủ thể kiến tạo điều kiện thực thi và điều phối quan hệ giữa dịch vụ, cộng đồng và các cấp quản lý.
Bảng 1: Khung phân tích vài trò của chính quyền địa phương
|
Cơ chế phân tích |
Câu hỏi phân tích |
Chỉ báo thực nghiệm |
|
1. Chuyển dịch chính sách thành dịch vụ |
Quy định được biến thành cấu trúc vận hành cụ thể như thế nào? |
Mô hình thu gom; lịch, phí, điểm tập kết; lựa chọn lực lượng; điều chỉnh mô hình. |
|
2. Điều phối chủ thể và trách nhiệm |
Ai tham gia, ai chịu trách nhiệm và quan hệ phối hợp được tổ chức ra sao? |
Chính quyền xã/thôn; đoàn thể; tổ thu gom; cảng cá; đơn vị môi trường; vai trò người đứng đầu. |
|
3. Tạo điều kiện cho tham gia và chuẩn mực |
Điều kiện nào giúp người dân tham gia và duy trì hành vi? |
Thuận tiện của dịch vụ; mô hình cộng đồng; khuyến khích; nhắc nhở; phản hồi; chấp nhận phí. |
|
4. Phản hồi, thích ứng và phối hợp liên cấp |
Hệ thống nhận diện và xử lý điểm nghẽn như thế nào? |
Thay đổi mô hình; xử lý phản ánh; tần suất vận chuyển; phân loại - xử lý; quỹ đất; hỗ trợ người thu gom. |
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế định tính theo hướng phân tích nhiều trường hợp địa phương. Hai nhóm nguồn dữ liệu được kết hợp: (1) Văn bản pháp luật, báo cáo và tài liệu học thuật liên quan đến quản lý chất thải rắn, hành vi môi trường và quản trị cộng đồng; (2) Dữ liệu phỏng vấn sâu và quan sát thực địa được thu thập trong tháng 5/2025 tại một số xã, thôn ven biển vùng Nam Trung Bộ, trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Vì vậy, tên địa danh trong bài được giữ theo đơn vị được sử dụng tại thời điểm thu thập dữ liệu để bảo đảm nhất quán với nguồn thực địa.
Người tham gia phỏng vấn được lựa chọn có chủ đích dựa trên mức độ liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở cơ sở. Trong phạm vi bài viết, bảy nguồn phỏng vấn được trích dẫn nhất quán, cùng một nguồn quan sát/ảnh thực địa, được đưa vào phân tích. Các nguồn này gồm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, cán bộ hoặc người phụ trách ở thôn, đại diện Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và các chủ thể trực tiếp liên quan đến tổ chức, giám sát hoặc tham gia hoạt động quản lý rác thải. Nội dung phỏng vấn tập trung vào mô hình thu gom, lịch và tần suất thu gom, phí dịch vụ, phân loại tại nguồn, vai trò của đoàn thể, cơ chế phản ánh, các mô hình cộng đồng và những khó khăn trong thực thi. Việc sử dụng nhiều loại chủ thể nhằm tạo điều kiện đối chiếu giữa góc nhìn tổ chức dịch vụ, điều phối cộng đồng và trải nghiệm thực tế tại địa bàn.
Dữ liệu được xử lý theo hướng phân tích chủ đề kết hợp đối chiếu giữa các trường hợp (Braun & Clarke, 2006). Trước hết, các ghi chép và trích đoạn phỏng vấn được sắp xếp theo bốn cơ chế trong Bảng 1; sau đó, các chủ đề phát sinh như thiếu quỹ đất, thu gom không đúng giờ, phân loại nhưng thu gom chung và bảo đảm cho lực lượng thu gom được mã hóa bổ sung. Cuối cùng, bằng chứng giữa các địa bàn được đối chiếu để nhận diện điểm tương đồng, khác biệt và điều kiện bối cảnh. Chỉ những phát ngôn và số liệu có đủ thông tin tối thiểu về loại người trả lời, địa bàn và thời điểm mới được sử dụng trong lập luận.
Đối với các con số do người trả lời cung cấp nhưng chưa có hồ sơ hành chính hoặc dữ liệu quan trắc độc lập để đối chiếu, bài viết luôn nêu rõ tư cách “thông tin theo người trả lời” và không sử dụng chúng để suy rộng thống kê hoặc khẳng định quan hệ nhân quả. Việc kết hợp văn bản chính sách, nhiều vị trí người trả lời và quan sát thực địa được sử dụng như một hình thức đối chiếu nguồn ở mức phù hợp với thiết kế định tính; tuy nhiên, nghiên cứu không coi đây là sự thay thế cho kiểm chứng bằng dữ liệu hành chính.
Quy ước trích dẫn dữ liệu thực địa: “PVS” là phỏng vấn sâu; “QSTĐ” là quan sát thực địa. Mỗi mã nguồn trong Bảng 2 được gán cho một nguồn phỏng vấn hoặc quan sát thực địa được sử dụng trong bài, kèm chức danh/loại nguồn, địa bàn và thời điểm để bảo đảm nhất quán trích dẫn và bảo mật danh tính. Dữ liệu phỏng vấn chưa công bố không đưa vào danh mục tài liệu tham khảo.
Bảng 2. Nguồn dữ liệu thực địa được sử dụng và phạm vi thông tin trích dẫn
|
Mã nguồn |
Chức danh/loại nguồn |
Địa bàn |
Thời điểm |
Phạm vi thông tin sử dụng |
|
PVS-VL01 |
Bí thư Đoàn Thanh niên thôn Vĩnh Lợi 2 |
Thôn Vĩnh Lợi 2, xã Mỹ Thành |
5/2025 |
Điều chỉnh mô hình thu gom; hoạt động “Ngày Chủ nhật xanh”. |
|
PVS-VL02 |
Cán bộ thôn Vĩnh Lợi |
Khu vực Vĩnh Lợi, xã Mỹ Thành |
5/2025 |
Kiểm tra địa bàn và sự quan tâm của lãnh đạo đối với vấn đề rác thải. |
|
PVS-VL03 |
Tổ trưởng thôn Vĩnh Lợi |
Khu vực Vĩnh Lợi, xã Mỹ Thành |
5/2025 |
Bảo hiểm và điều kiện bảo đảm cho lực lượng thu gom. |
|
PVS-TQ01 |
Bí thư - Chủ tịch xã Tam Quang |
Xã Tam Quang |
5/2025 |
Tổ chức mạng lưới thu gom; phối hợp chủ thể; điểm tập kết; tần suất vận chuyển; áp lực từ kinh tế biển. |
|
PVS-MT01 |
Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Mỹ Thọ |
Xã Mỹ Thọ |
5/2025 |
Vai trò Hội Phụ nữ trong tuyên truyền, hướng dẫn phân loại và mô hình cộng đồng. |
|
PVS-MC01 |
Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Mỹ Chánh |
Xã Mỹ Chánh |
5/2025 |
Cơ chế phản hồi của lãnh đạo; chương trình đổi rác nhựa/túi ni lông lấy quà. |
|
PVS-TH01 |
Cán bộ địa phương xã Tam Hòa |
Xã Tam Hòa |
5/2025 |
Chấp nhận phí thu gom; phân loại nhưng thu gom chung; rác gắn với nuôi trồng thủy sản. |
|
QSTĐ-VL01 |
Quan sát và ảnh tư liệu tại Hội trường thôn Vĩnh Lợi 2 |
Hội trường thôn Vĩnh Lợi 2, xã Mỹ Thành |
5/2025 |
Sự hiện diện của mô hình “Ngôi nhà xanh”; nguồn Hình 1. |
3. Thực trạng vai trò và sự tham gia của chính quyền địa phương trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt
3.1. Cụ thể hóa chính sách thành mô hình tổ chức và dịch vụ thu gom
Vai trò dễ quan sát nhất của chính quyền cơ sở là chuyển yêu cầu chung thành một cấu trúc vận hành cụ thể. Những quyết định về ai thu gom, thu vào ngày nào, mức phí ra sao, điểm tập kết ở đâu và người dân phản ánh với ai ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia của hộ gia đình. Trường hợp thôn Vĩnh Lợi cho thấy mô hình tổ chức đã được điều chỉnh khi cách làm ban đầu không đạt hiệu quả mong muốn; bằng chứng rõ nhất cho quá trình điều chỉnh này là phỏng vấn Bí thư Đoàn Thanh niên thôn Vĩnh Lợi 2 (PVS-VL01).
Theo nguồn PVS-VL01, địa phương từng phối hợp với một đơn vị bên ngoài, sau đó giao lại hoạt động cho lực lượng tại thôn khi mô hình ban đầu không hiệu quả. Điểm có ý nghĩa phân tích ở đây là khả năng điều chỉnh phương thức cung ứng dịch vụ dựa trên kinh nghiệm thực tế tại địa bàn. Người trả lời mô tả: “Tổ này lấy anh em trong tổ, ban thôn. Ngày xưa mới đầu tiên thành lập, xã liên kết với một bên tư, người ta định hướng làm nhưng làm không hiệu quả thì xã mới giao lại cho anh em trong thôn” (PVS-VL01).
Trường hợp này gợi ra một cơ chế đáng chú ý: tính gắn kết địa bàn có thể làm tăng khả năng phản hồi và trách nhiệm xã hội của dịch vụ. Người dân biết ai là người thu gom, có thể phản ánh khi còn sót rác và dễ theo dõi lịch vận hành hơn. Tuy nhiên, không nên suy ra rằng mô hình “người trong thôn” luôn ưu việt; hiệu quả còn phụ thuộc quy mô địa bàn, năng lực quản lý và tính minh bạch tài chính. Giá trị của trường hợp Vĩnh Lợi là cho thấy chính quyền đã điều chỉnh phương thức cung ứng dịch vụ dựa trên phản hồi thực tế, thay vì duy trì một mô hình không phù hợp.
Tại xã Tam Quang, dữ liệu cho thấy chính quyền xã tham gia ở quy mô rộng hơn. Theo người đứng đầu chính quyền được phỏng vấn, địa phương có 6 tổ thu gom trên địa bàn 8 thôn; hằng năm bố trí khoảng 4-5 triệu đồng cho hoạt động tuyên truyền và mua thùng rác; đồng thời có 3 điểm tập trung rác công cộng và 5 điểm thu gom tại nhà (PVS-TQ01). Đây là số liệu do người trả lời cung cấp, chưa được đối chiếu với hồ sơ ngân sách hoặc báo cáo hành chính độc lập; trong phạm vi bài viết, chúng được sử dụng để mô tả cách địa phương tổ chức nhân lực, truyền thông và điểm thu gom.
So sánh hai trường hợp cho thấy “vai trò chính quyền” không đồng nghĩa với một mô hình duy nhất. Ở Vĩnh Lợi, trọng tâm là tổ tự quản gắn với thôn và cơ chế phản hồi gần; ở Tam Quang, trọng tâm là mạng lưới nhiều tổ thu gom và điểm tập trung. Điều quan trọng về mặt quản trị là khả năng thiết kế cấu trúc phù hợp với mật độ dân cư, điều kiện đường giao thông và nguồn phát sinh rác của từng địa bàn.
3.2. Điều phối các chủ thể và vai trò của người đứng đầu
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở cấp cơ sở là một quá trình phối hợp nhiều chủ thể. Chính quyền xã khó trực tiếp thực hiện toàn bộ công việc tuyên truyền, thu phí, giám sát, dọn vệ sinh và tiếp nhận phản ánh. Dữ liệu tại Tam Quang cho thấy xã phối hợp với Mặt trận, các đoàn thể, bộ phận tài nguyên và môi trường, ban quản lý cảng cá, đồn biên phòng và các đơn vị liên quan để tuyên truyền cho người dân, đặc biệt là nhóm gắn với sinh kế biển. Theo người trả lời, từ năm 2022 đến thời điểm khảo sát, địa phương đã phối hợp với ban quản lý cảng cá tổ chức 3 lớp tuyên truyền về thu gom rác thải (PVS-TQ01). Con số này là thông tin theo người trả lời phỏng vấn.
Vai trò của các tổ chức trung gian thể hiện rõ trong trường hợp Mỹ Thọ. Hội Liên hiệp Phụ nữ được người trả lời mô tả là lực lượng tham gia hướng dẫn phân loại rác vô cơ, hữu cơ và rác thải nguy hại, triển khai ủ phân hữu cơ và các hoạt động đổi rác thải nhựa lấy quà; hoạt động tuyên truyền được thực hiện định kỳ để hướng dẫn người dân đưa rác ra đúng cách (PVS-MT01). Trường hợp này cho thấy điều phối không chỉ là triệu tập nhiều lực lượng cùng tham gia, mà là phân công cho chủ thể có mạng lưới xã hội và khả năng tiếp cận hộ gia đình phù hợp với nhiệm vụ cụ thể.
Một lớp bằng chứng khác liên quan đến vai trò của người đứng đầu. Tại Mỹ Chánh, người trả lời gắn sự thay đổi về môi trường với việc lãnh đạo xã trực tiếp xuống địa bàn, xử lý phản ánh và hỗ trợ vận động khi cấp thôn gặp khó. Phát ngôn dưới đây phản ánh cảm nhận của một cán bộ đoàn thể địa phương, chứ không phải số liệu đo lường khách quan: “... môi trường thay đổi 90 độ vậy. Rác thải đúng nơi quy định, đường xá, điện đài sáng trưng hết... Người dân phản ánh điều gì ảnh giải quyết nhanh lắm. Ví dụ như cách đây mấy ngày, báo lên chỗ mương bẩn, ảnh cho người dọn liền...” (PVS-MC01).
Giá trị phân tích của phát ngôn này không nằm ở cách diễn đạt “thay đổi 90 độ”, mà ở cơ chế phản hồi được người trả lời nhấn mạnh: phản ánh - tiếp nhận - xử lý - phản hồi lại cộng đồng. Tại Vĩnh Lợi, cán bộ thôn cũng cho biết lãnh đạo xã thường xuyên kiểm tra địa bàn và quan tâm đến vấn đề rác thải (PVS-VL02). Hai trường hợp gợi ý rằng vai trò người đứng đầu có thể tạo “áp lực tích cực” cho hệ thống cơ sở khi sự quan tâm được chuyển thành kiểm tra, giải quyết phản ánh và hỗ trợ người thực thi.
Từ góc độ quản trị, điều phối hiệu quả có ít nhất hai điều kiện. Thứ nhất, phải có phân công đủ rõ để tránh tình trạng mọi lực lượng cùng “tuyên truyền” nhưng không ai chịu trách nhiệm với điểm rác, lịch xe hoặc phản ánh của dân. Thứ hai, sự tham gia của đoàn thể cần gắn với năng lực và mạng lưới sẵn có của họ. Khi chính quyền sử dụng đúng chủ thể trung gian, thông điệp môi trường có khả năng đi vào quan hệ cộng đồng thay vì dừng ở một đợt phát động.
3.3. Thay đổi hành vi, chuẩn mực cộng đồng và các mô hình tham gia
Một trong những đóng góp quan trọng của chính quyền địa phương là tạo chuyển biến trong hành vi của người dân. Quản lý rác thải sinh hoạt không thể đạt hiệu quả nếu người dân không hợp tác trong việc bỏ rác đúng giờ, đúng nơi, phân loại rác, nộp phí thu gom và không xả rác ra môi trường. Dữ liệu thực địa cho thấy sự tham gia của chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở đã góp phần tạo thay đổi rõ rệt.
Tại Tam Hòa, cán bộ địa phương cho biết tỷ lệ hộ nộp phí rác thải tăng từ khoảng 80% khi mới triển khai lên 100% và được duy trì từ năm 2020 (PVS-TH01). Đây là chỉ báo quan trọng về sự chuyển biến trong nhận thức và hành vi, bởi việc nộp phí cho thấy người dân đã nhìn nhận dịch vụ thu gom rác như một nhu cầu thiết yếu của đời sống cộng đồng. Theo Ajzen (1991), hành vi này chịu ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
Bên cạnh hệ thống thu gom chính thức, các mô hình cộng đồng như “Ngôi nhà xanh”, “Ngôi nhà tình thương”, “đổi rác lấy quà” và “Ngày Chủ nhật xanh” đã góp phần chuyển hóa hoạt động quản lý rác từ nghĩa vụ hành chính thành thực hành xã hội có tính tự nguyện. Tại nhiều địa bàn, người dân được khuyến khích gom chai nhựa, giấy, lon, vật liệu tái chế để bỏ vào các điểm thu gom cộng đồng. Sau đó, lượng rác tái chế này được bán để gây quỹ hỗ trợ hộ nghèo, học sinh khó khăn hoặc các hoạt động cộng đồng.
Tại Vĩnh Lợi, mô hình “Ngôi nhà xanh” được triển khai ở các thôn, kết hợp với hoạt động đổi rác thải nhựa lấy quà tại chợ Vĩnh Lợi; người dân được ghi nhận là hưởng ứng tích cực, nhất là khi mô hình mang lại lợi ích cụ thể và dễ tham gia. Ở Tam Quang, mô hình tương tự được gọi là “Ngôi nhà tình thương”, đặt tại các thôn, cảng cá, trường học và điểm công cộng. Chai nhựa, lon, vật liệu tái chế được bán để gây quỹ hỗ trợ hộ khó khăn hoặc học sinh nghèo.
Hình 1. Mô hình “Ngôi nhà
xanh” tại Hội trường thôn Vĩnh Lợi 2. (Nguồn: Ảnh tư liệu thực địa của nhóm
nghiên cứu, 5/2025)
Tại xã Mỹ Chánh, người dân cũng cho biết có chương trình đổi túi ni lông lấy quà; túi ni lông phải được rửa sạch, phơi khô và gom lại theo khối lượng nhất định mới có thể đổi. Cách làm này phù hợp với thói quen tiêu dùng hiện nay, bởi việc yêu cầu người dân ngừng hoàn toàn sử dụng túi ni lông là rất khó. Theo Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Mỹ Chánh (PVS-MC01) “... vì túi ni lông quá tiện nên mình không thể kiểm soát, cho hoặc không cho dùng, nên chính quyền mới tạo ra chương trình đổi túi ni lông, rác nhựa lấy quà để lần lần giảm xả thải ra môi trường” (PVS-MC01). Qua phát biểu trên cho thấy một cách tiếp cận thực dụng là thay vì giả định hành vi có thể thay đổi chỉ bằng mệnh lệnh, mô hình tạo một bước trung gian để giảm xả thải và tăng thu hồi vật liệu. Dù vậy, tác động dài hạn của cơ chế khuyến khích phụ thuộc vào kinh phí, tính đều đặn và đầu ra của vật liệu tái chế.
Một hình thức huy động cộng đồng khác được ghi nhận tại Vĩnh Lợi 2 là “Ngày Chủ nhật xanh”. Bí thư Đoàn Thanh niên ở đây cho biết vào các dịp này, người dân được vận động dọn trước nhà, đoàn thanh niên và ban thôn vệ sinh các tuyến đường; đồng thời tổ thu gom có báo cáo định kỳ về công tác xử lý rác (PVS-VL01). Về mặt phân tích, hoạt động ra quân có giá trị tạo chú ý và củng cố chuẩn mực, nhưng không thể thay thế hệ thống dịch vụ thường xuyên. Nếu nguồn phát sinh, điểm tập kết và lịch thu gom không được xử lý, kết quả của chiến dịch dễ mang tính ngắn hạn.
3.4. Những điểm nghẽn trong thực thi
Thứ nhất, hạ tầng thu gom và điểm tập kết là một điểm nghẽn nổi bật trong dữ liệu tại Tam Quang. Người đứng đầu địa phương cho biết xã thiếu quỹ đất để bố trí điểm tập kết cố định do dân cư đông và các ràng buộc sử dụng đất; một số điểm hiện có mang tính tạm thời (PVS-TQ01). Trường hợp này cho thấy giới hạn của cấp xã: chính quyền cơ sở có thể điều chỉnh vị trí và tổ chức thu gom trong phạm vi nhất định, nhưng vấn đề quỹ đất và hạ tầng cuối tuyến thường đòi hỏi quyết định và nguồn lực liên cấp.
Thứ hai, phân loại tại nguồn chưa gắn chặt với chuỗi thu gom - vận chuyển - xử lý. Tại Tam Hòa, cán bộ địa phương cho biết người dân đã được tuyên truyền và hướng dẫn phân loại hữu cơ, vô cơ, nhưng rác sau đó có thời điểm vẫn được đưa lên cùng một xe thu gom (PVS-TH01). Trường hợp này minh họa khoảng cách giữa thay đổi hành vi ở hộ gia đình và năng lực hệ thống. Khi công sức phân loại không được bảo toàn ở khâu sau, động lực tuân thủ có thể giảm.
Thứ ba, tần suất và tính đúng giờ của dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu ở một số nơi. Tại Tam Quang, người trả lời cho biết xe môi trường thu gom khoảng 2 lần/tuần và có khi không đúng thời gian, trong khi địa phương chịu áp lực từ dân cư đông, cảng cá và lao động mùa vụ (PVS-TQ01). Tần suất nêu trên là thông tin theo người trả lời. Điểm nghẽn này cho thấy vai trò của xã có giới hạn: xã có thể vận động và tổ chức điểm thu gom, nhưng năng lực vận chuyển cuối tuyến phụ thuộc đơn vị dịch vụ và cơ chế phối hợp cấp trên.
Thứ tư, dữ liệu Vĩnh Lợi cho thấy bảo đảm cho lực lượng thu gom là một điều kiện duy trì dịch vụ nhưng dễ bị bỏ qua. Tổ trưởng thôn cho biết sau giai đoạn chỉ trả lương, các trưởng thôn đã tổ chức mua thêm bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm y tế cho người thu gom (PVS-VL03). Về mặt phân tích, sáng kiến này giúp người lao động yên tâm hơn, nhưng đồng thời cho thấy tính mong manh của mô hình nếu các bảo đảm cơ bản phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tự xoay xở của từng địa bàn.
Thứ năm, đặc thù kinh tế biển làm tăng tính đa dạng của dòng rác và mở rộng số chủ thể phải phối hợp. Tại Tam Quang, người trả lời nhấn mạnh rác từ cảng cá, hoạt động tàu thuyền, mua bán hải sản và lao động theo mùa (PVS-TQ01); tại Tam Hòa, cán bộ địa phương đề cập thêm cá chết, bao thức ăn thủy sản và chất thải từ nuôi trồng thủy sản (PVS-TH01). Hai nguồn này cho thấy việc quản lý rác ven biển không thể chỉ dựa vào mô hình hộ gia đình, mà cần phân biệt nguồn phát sinh và trách nhiệm của cơ sở kinh doanh, cảng cá, tàu thuyền và hộ nuôi trồng.
3.5. Nhận xét tổng hợp và thảo luận
Đối chiếu kết quả với khung phân tích ở Bảng 1 cho phép rút ra ba nhận xét. Trước hết, vai trò của chính quyền địa phương thể hiện thuyết phục nhất khi được nhìn như năng lực tạo “điều kiện thực thi” chứ không chỉ là tuyên truyền. Ở Vĩnh Lợi, PVS-VL01 cho thấy mô hình thu gom được điều chỉnh sau khi cách làm ban đầu không phù hợp; ở Tam Quang, PVS-TQ01 cho thấy sự kết hợp giữa tổ thu gom, điểm tập trung và phối hợp với các chủ thể gắn với cảng cá. Những phát hiện này có thể được diễn giải dưới góc độ nhận thức kiểm soát hành vi trong lý thuyết hành vi có kế hoạch: điều kiện và khả năng thực hiện hành vi là một thành tố quan trọng trong cơ chế hình thành ý định và hành vi (Ajzen, 1991).
Thứ hai, dữ liệu cho thấy chính quyền tác động đến hành vi thông qua các chủ thể trung gian và quan hệ xã hội tại chỗ. Trường hợp Mỹ Thọ làm rõ vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ trong tiếp cận hộ gia đình (PVS-MT01), trong khi Vĩnh Lợi cho thấy vai trò của Đoàn Thanh niên và lực lượng thôn trong điều chỉnh mô hình và huy động vệ sinh cộng đồng (PVS-VL01). Kết quả này tương thích với nhấn mạnh của Ostrom (1990) về quy tắc và giám sát trong quản trị tập thể, đồng thời với cách tiếp cận tham gia của Pretty (1995), trong đó tri thức và sự tham gia tại chỗ là yếu tố quan trọng của thực hành phát triển bền vững.
Thứ ba, tính bền vững của các mô hình phụ thuộc vào sự ăn khớp giữa hành vi cộng đồng và chuỗi dịch vụ. Trường hợp Tam Hòa cho thấy phân loại tại nguồn có thể mất động lực khi rác vẫn bị thu gom chung (PVS-TH01); Tam Quang cho thấy nỗ lực của xã bị giới hạn nếu vận chuyển cuối tuyến thiếu ổn định (PVS-TQ01); Vĩnh Lợi cho thấy duy trì dịch vụ còn gắn với bảo đảm cho người thu gom (PVS-VL03). Vì vậy, bài viết không coi “ý thức người dân” là nguyên nhân duy nhất. Dữ liệu cho thấy hành vi, tổ chức dịch vụ và năng lực thể chế tương tác với nhau, phù hợp với cách tiếp cận đa chiều về hệ thống quản lý chất thải ở các nước đang phát triển (Abarca Guerrero et al., 2013).
Bảng 3. Đối chiếu bằng chứng thực địa, cơ chế quản trị
|
Địa bàn/nguồn |
Bằng chứng được sử dụng |
Cơ chế quản trị rút ra |
|
Vĩnh Lợi (PVS-VL01; QSTĐ-VL01) |
Điều chỉnh từ mô hình ban đầu sang lực lượng tại thôn; hoạt động Chủ nhật xanh; quan sát “Ngôi nhà xanh”. |
Thích ứng mô hình; gần dân; tạo điểm tham gia hữu hình. |
|
Tam Quang (PVS-TQ01) |
Mạng lưới tổ thu gom và điểm thu gom; phối hợp với các chủ thể gắn với cảng cá; khó khăn quỹ đất và tần suất vận chuyển. |
Điều phối mạng lưới; phụ thuộc liên cấp và cuối tuyến. |
|
Mỹ Thọ (PVS-MT01) |
Hội Phụ nữ tham gia hướng dẫn phân loại, ủ hữu cơ và hoạt động đổi rác. |
Sử dụng chủ thể trung gian có khả năng tiếp cận hộ gia đình. |
|
Mỹ Chánh (PVS-MC01) |
Phản ánh của dân được người trả lời mô tả là xử lý nhanh; chương trình đổi rác nhựa/túi ni lông lấy quà. |
Phản hồi của lãnh đạo; khuyến khích hành vi sau sử dụng. |
|
Tam Hòa (PVS-TH01) |
Tỷ lệ nộp phí được người trả lời mô tả tăng; phân loại tại nguồn nhưng có thời điểm thu gom chung. |
Chấp nhận dịch vụ song song với đứt gãy chuỗi phân loại - xử lý. |
Từ góc độ đóng góp, nghiên cứu khái quát vai trò của chính quyền địa phương tại cộng đồng ven biển thành bốn cơ chế: chuyển dịch chính sách thành dịch vụ; điều phối chủ thể; tạo điều kiện cho sự tham gia và chuẩn mực; phản hồi, thích ứng và kết nối liên cấp. Giá trị của khái quát này nằm ở việc giải thích vì sao cùng một yêu cầu chính sách có thể tạo kết quả khác nhau giữa các địa bàn, sự khác biệt không chỉ nằm ở mức độ “quan tâm”, mà ở cấu trúc dịch vụ, chủ thể trung gian, kênh phản hồi và khả năng xử lý điểm nghẽn. Đây không phải một “mô hình Nam Trung Bộ” duy nhất, mà là một khung cơ chế có thể được kiểm định tiếp ở các địa bàn tương tự.
4. Kết luận và hàm ý chính sách
4.1. Kết luận
Bài viết cho thấy chính quyền địa phương giữ vai trò trung tâm trong việc chuyển các yêu cầu quản lý chất thải rắn sinh hoạt thành thực hành cụ thể tại cộng đồng ven biển. Trên cơ sở kết hợp lý thuyết hành vi, quản trị cộng đồng và dữ liệu phỏng vấn sâu, vai trò đó được khái quát thành bốn cơ chế: chuyển dịch chính sách thành cấu trúc dịch vụ; điều phối các chủ thể cơ sở; tạo điều kiện cho sự tham gia và chuẩn mực cộng đồng; phản hồi, thích ứng và xử lý các điểm nghẽn vượt quá năng lực của một chủ thể đơn lẻ.
Tuy nhiên, bằng chứng cũng chỉ ra giới hạn của cách tiếp cận dựa chủ yếu vào vận động, những khó khăn về điểm tập kết, tần suất vận chuyển, sự đứt gãy giữa phân loại và xử lý, an sinh của lực lượng thu gom và áp lực từ sinh kế biển có thể làm suy giảm kết quả. Do đó, quản lý chất thải rắn sinh hoạt cần được nhìn như một hệ thống quản trị liên kết nhiều cấp và nhiều chủ thể, thay vì quy trách nhiệm đơn tuyến cho “ý thức người dân”.
Do thiết kế định tính và lựa chọn địa bàn có chủ đích, nghiên cứu không nhằm suy rộng thống kê cho toàn vùng Nam Trung Bộ. Một số thông tin định lượng trong bài là số liệu theo người trả lời và chưa được đối chiếu bằng hồ sơ hành chính độc lập, vì vậy các nghiên cứu tiếp theo cần kết hợp các số liệu báo cáo thống kê như: khối lượng rác, dữ liệu lịch vận chuyển, quan trắc điểm xả và khảo sát hộ gia đình để kiểm định rõ hơn mức độ tác động của từng cơ chế và so sánh trước - sau giữa các mô hình.
4.2. Hàm ý chính sách
Thứ nhất, cần thiết kế mô hình thu gom theo đặc điểm vi mô của địa bàn thay vì áp dụng đồng loạt. Bằng chứng từ Vĩnh Lợi cho thấy khả năng điều chỉnh mô hình khi cách làm ban đầu không phù hợp là một năng lực quản trị quan trọng (PVS-VL01), trong khi Tam Quang cho thấy mạng lưới thu gom phải tính đến cảng cá, dân cư đông và giới hạn quỹ đất (PVS-TQ01). Mỗi địa bàn nên công khai tối thiểu lịch thu gom, mức phí, đầu mối phụ trách và kênh phản ánh.
Thứ hai, phân loại tại nguồn phải được thiết kế đồng bộ với thu gom, vận chuyển và xử lý. Trường hợp Tam Hòa cho thấy tuyên truyền phân loại có thể mất tác dụng nếu rác sau đó vẫn bị thu gom chung (PVS-TH01). Vì vậy, địa phương cần xác định rõ đầu ra cho rác tái chế, hữu cơ, chất thải nguy hại hộ gia đình và phần còn lại trước khi mở rộng yêu cầu phân loại.
Thứ ba, cần thể chế hóa cơ chế phối hợp và phản hồi ở cấp cơ sở. Trường hợp Mỹ Chánh gợi ý giá trị của chu trình phản ánh - tiếp nhận - xử lý - phản hồi (PVS-MC01), còn Mỹ Thọ cho thấy hiệu quả của việc sử dụng tổ chức trung gian có khả năng tiếp cận hộ gia đình (PVS-MT01). Chính quyền xã nên phân công rõ đầu mối xử lý điểm rác, công khai tiến độ và lựa chọn kênh phù hợp như họp dân, bảng thông báo, loa truyền thanh hoặc nhóm thông tin số của cộng đồng.
Thứ tư, lực lượng thu gom bán chuyên trách cần được coi là một bộ phận thiết yếu của dịch vụ môi trường ở cơ sở. Kinh nghiệm Vĩnh Lợi về bổ sung bảo hiểm cho người thu gom (PVS-VL03) cho thấy đây không chỉ là vấn đề phúc lợi lao động mà còn liên quan đến tính liên tục của dịch vụ. Cần có trang bị bảo hộ, hướng dẫn an toàn, cơ chế bảo hiểm phù hợp và mức hỗ trợ phản ánh khối lượng cũng như rủi ro công việc.
Thứ năm, quản lý rác ven biển cần tích hợp với quản trị kinh tế biển. Cảng cá, tàu thuyền, cơ sở mua bán hải sản, điểm du lịch và hộ nuôi trồng thủy sản cần có quy định và điểm tiếp nhận phù hợp với dòng rác đặc thù. Truyền thông nên gắn bảo vệ môi trường với lợi ích sinh kế, sức khỏe, hình ảnh điểm đến và chất lượng vùng nước, qua đó chuyển thông điệp từ nghĩa vụ chung chung thành lợi ích trực tiếp của cộng đồng.
Cuối cùng, cấp tỉnh và các đơn vị dịch vụ cần thiết lập cơ chế hỗ trợ liên cấp cho những vấn đề vượt quá năng lực của xã, đặc biệt là quỹ đất cho điểm tập kết, năng lực vận chuyển cuối tuyến và xử lý chất thải sau phân loại. Chính quyền cơ sở có thể huy động cộng đồng, nhưng không thể bù đắp lâu dài cho một chuỗi dịch vụ thiếu đồng bộ. Vì vậy, phát huy vai trò địa phương phải đi cùng trách nhiệm phối hợp và đầu tư của cấp trên./.
-----------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Abarca Guerrero, L., Maas, G., & Hogland, W (2013). Solid waste management challenges for cities in developing countries. Waste Management, 33(1), 220-232. https://doi.org/10.1016/j.wasman.2012.09.008
2. Ajzen, I (1991). The theory of planned behavior, Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
3. Babaei, A. A., Alavi, N., Goudarzi, G., Teymouri, P., Ahmadi, K., & Rafiee, M (2015), Household recycling knowledge, attitudes and practices towards solid waste management. Resources, Conservation and Recycling, 102, 94-100. https://doi.org/10.1016/j.resconrec.2015.06.014
4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Văn bản hợp nhất số 49/VBHN-BNNMT ngày 17 tháng 4 năm 2026: Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=217892&pageid=27160
5. Braun, V., & Clarke, V (2006), Using thematic analysis in psychology. Qualitative Research in Psychology, 3(2), 77-101. https://doi.org/10.1191/1478088706qp063oa
6. Cook, E., Ionkova, K., Bhada-Tata, P., Yadav, S., & Van Woerden, F (2026). What a waste 3.0: Global snapshot of solid waste management toward circularity until 2050. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-2309-1
7. Ostrom, E (1990). Governing the commons: The evolution of institutions for collective action. Cambridge University Press. https://doi.org/10.1017/CBO9780511807763
8. Pretty, J. N (1995). Participatory learning for sustainable agriculture. World Development, 23(8), 1247-1263. https://doi.org/10.1016/0305-750X(95)00046-F
9. Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2020. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=202613&pageid=27160
10. Quốc hội (2025), Luật số 146/2025/QH15 ngày 11/12/2025: Sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
11.https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=216543&orggroupid=1&pageid=27160
12. Stern, P. C (2000), Toward a coherent theory of environmentally significant behavior. Journal of Social Issues, 56(3), 407-424. https://doi.org/10.1111/0022-4537.00175
13. United Nations Environment Programme, & International Solid Waste Association (2024), Global waste management outlook 2024: Beyond an age of waste-Turning rubbish into a resource. United Nations Environment Programme. https://www.unep.org/resources/global-waste-management-outlook-2024.
Lương Tình - Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên
Nguyễn Lê Đình Quý - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Đặng Thành Lê - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
.
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả