Tổng nguồn vốn ngân sách Trung ương dự kiến bố trí cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 là 10.502 tỷ đồng (gồm 4.065 tỷ đồng vốn đầu tư công và 6.436 tỷ đồng kinh phí thường xuyên).
Theo báo cáo từ Bộ Tài chính, tính đến ngày 30/6/2026, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã giải ngân nguồn vốn đạt khoảng 987,88 tỷ đồng vốn đầu tư công (đạt 24,3% kế hoạch) và 1.119,80 tỷ đồng kinh phí thường xuyên (đạt 17,4% kế hoạch).
Mặc dù đạt được những kết quả bước đầu, song quy mô vốn chưa giải ngân vẫn còn khá lớn, tiến độ thực hiện giữa các địa phương chưa thực sự đồng đều. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ quá trình chuyển giao mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, khiến các đầu mối xử lý hồ sơ, dữ liệu tại một số nơi còn lúng túng; quy trình xác định đối tượng thụ hưởng đối với các dự án sinh kế, đào tạo nghề còn chậm...
Tăng cường kiểm tra, giám sát để chủ động tháo gỡ khó khăn cho địa phương, cơ sở.
Để nguồn vốn đầu tư công và kinh phí hỗ trợ không bị ứ đọng hay gián đoạn, Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương khẩn trương chuyển trọng tâm từ khâu chuẩn bị sang tổ chức thực hiện thực chất tại cơ sở. Nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo tinh thần “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm”. Trung ương đóng vai trò hoàn thiện hướng dẫn, điều phối, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả.Các địa phương có trách nhiệm khẩn trương hoàn thiện kế hoạch thực hiện, ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền mà không được đặt thêm các thủ tục hành chính làm kéo dài thời gian thực hiện. Việc phân bổ vốn phải tập trung, ưu tiên các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng biên giới (1.239 xã vùng DTTS và miền núi, đặc biệt là 890 xã khu vực III và 13.205 thôn đặc biệt khó khăn). Nguồn vốn được tập trung giải quyết các công trình hạ tầng thiết yếu và nhu cầu cấp bách của người dân như đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; tuyệt đối tránh tình trạng phân bổ dàn trải, bình quân hoặc trùng lặp nguồn vốn.
Đối với các vướng mắc về tài chính, chuyển nguồn hay thanh quyết toán, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể, giúp địa phương kịp thời xử lý các khoản kinh phí hết nhiệm vụ chi hoặc điều chỉnh linh hoạt nguồn vốn từ nhiệm vụ chậm triển khai sang các nhiệm vụ cấp thiết đủ điều kiện giải ngân.
Tiếp đến việc đơn giản hóa thủ tục hành chính phải luôn song hành với công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Công tác kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện, ngăn ngừa sai phạm, thất thoát, lãng phí mà quan trọng hơn là kịp thời nhận diện các “điểm nghẽn” cơ chế để chủ động tháo gỡ cho địa phương.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (với vai trò Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương) phối hợp cùng bộ, ngành tăng cường công tác kiểm tra thực địa, tập trung vào những địa phương có tiến độ giải ngân chậm, nguồn vốn lớn hoặc triển khai còn dàn trải. Đồng thời, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia sẽ giúp theo dõi dòng vốn và tiến độ giải ngân một cách minh bạch, chính xác theo thời gian thực.
Cùng với sự vào cuộc của bộ máy hành chính, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng dân cư vùng đồng bào DTTS và miền núi cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Tăng cường kiểm tra, giám sát gắn liền với cải cách thủ tục hành chính chính là giải pháp đồng bộ và hiệu quả nhằm giữ vững “dòng chảy” nguồn vốn đầu tư, tạo bệ phóng vững chắc cho sự phát triển toàn diện, bền vững của vùng đồng bào DTTS và miền núi trong giai đoạn 2026 - 2030./.
Chí Tâm
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả