Từ khóa: Chính quyền cấp cơ sở; giáo dục, phổ biến pháp luật; quyền con người; trách nhiệm pháp lý.
Abstract: The dissemination and education of human rights law constitute a core component of Vietnam’s strategy for building a socialist rule-of-law state and promoting the people’s rights to freedom and self-governance. As the level of government that interacts most directly with, administers, and serves the public, grassroots local authorities play a decisive role in translating legal commitments on human rights into public awareness and practice. This article clarifies the theoretical foundations of the legal responsibilities of grassroots local authorities from the perspective of their obligation to exercise public authority, evaluates the implementation of the 2012 Law on the Dissemination and Education of Law, and identifies existing challenges and constraints. Based on these findings, the article proposes solutions aligned with the national digital transformation agenda and the standardization of public personnel to enhance citizens’ access to justice at the grassroots level.
Keywords: Grassroots local authorities; legal dissemination and education; human rights; legal responsibility.
Ảnh minh họa.
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân luôn được xác định là mục tiêu tối thượng và là thước đo tính ưu việt của thể chế chính trị - pháp lý. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc hiến định tối cao: các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và luật. Tuy nhiên, để các giá trị nhân quyền không chỉ dừng lại ở góc độ các cam kết chính trị hay các điều khoản lập hiến mang tính trừu tượng, việc nâng cao nhận thức pháp lý của người dân đóng vai trò là chìa khóa quyết định. Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) về quyền con người chính là phương thức chuyển hóa hữu hiệu nhất để biến các quy định pháp luật thành ý thức tự giác, năng lực tự vệ pháp lý và hành vi ứng xử văn minh của mỗi cá nhân trong xã hội.
Trong hệ thống cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, chính quyền địa phương cấp cơ sở, cụ thể là xã, phường, đặc khu, là cấp trực tiếp, gần dân nhất, nơi toàn bộ các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước được triển khai và kiểm nghiệm giá trị thực tế. Chính quyền cấp cơ sở không chỉ chịu trách nhiệm quản lý hành chính mà còn là chủ thể trực tiếp giải quyết các mối quan hệ lợi ích, các tranh chấp dân sự, đất đai, bảo trợ xã hội gắn liền với quyền sống, quyền tự do và an sinh hàng ngày của Nhân dân. Mặc dù Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 05/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân đã tạo ra những tiền đề pháp lý quan trọng, nhưng công tác triển khai tại cấp cơ sở vẫn gặp phải nhiều áp lực về thể chế và thách thức thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện về trách nhiệm pháp lý của chính quyền địa phương cấp cơ sở trong công tác PBGDPL về quyền con người là một yêu cầu cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Cơ sở lý luận về trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp cơ sở đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người
Dưới góc độ lý luận luật học và khoa học về quyền con người (human rights rights-based approach), trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp cơ sở trong công tác PBGDPL về quyền con người không phải là một hoạt động mang tính hành chính tùy nghi, mà là một nghĩa vụ pháp lý cốt lõi, bắt buộc của chủ thể mang quyền lực nhà nước đối với Nhân dân. Quyền con người, xét về mặt thực tế, chỉ có thể chuyển hóa từ các tuyên ngôn lập hiến hay các cam kết quốc tế thành các giá trị thực tế khi chủ thể của quyền (Nhân dân) được trang bị đầy đủ tri thức pháp lý để nhận thức, thực thi và tự vệ trước các nguy cơ xâm phạm. Ở chiều ngược lại, Nhà nước có nghĩa vụ tối cao trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người thông qua tất cả các công cụ thể chế, trong đó PBGDPL là công cụ mang tính phòng ngừa và kiến tạo căn bản(1). Trách nhiệm này đặt lên vai chính quyền địa phương cấp cơ sở, xuất phát từ chính vị trí đặc biệt trong hệ thống phân cấp quản lý hành chính nhà nước. Là cấp trực tiếp quản lý cư dân, chính quyền cơ sở chính là đại diện của Nhà nước, nơi các quyền con người cụ thể như quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu tài sản và quyền an sinh xã hội bị tác động trực tiếp và liên tục hàng ngày bởi các quyết định quản lý hành chính.
Xét về mặt cấu trúc nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm của chính quyền cấp cơ sở trong giáo dục nhân quyền được cấu thành từ ba nghĩa vụ thành phần theo luật quốc tế và pháp luật Việt Nam: nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ thực hiện(2). Công tác PBGDPL về quyền con người trực tiếp thuộc về nghĩa vụ thực hiện, đòi hỏi chính quyền phải chủ động thiết lập các hành lang kỹ thuật, phân bổ ngân sách, con người và xây dựng các chương trình truyền thông phù hợp để nâng cao năng lực tiếp cận công lý của người dân. Giáo dục pháp luật về quyền con người tại cấp cơ sở mang tính lý luận đặc thù, dân chủ trực tiếp, không mang tính chất mệnh lệnh, đơn phương và áp đặt vốn có của nền hành chính truyền thống, thay thế bằng tư duy quản trị phục vụ, nơi người dân được coi là trung tâm của mọi chính sách phát triển. Khi người dân được phổ biến sâu sắc về quyền con người, họ không chỉ nâng cao ý thức chấp hành pháp luật để tránh các hành vi vi phạm, mà quan trọng hơn, họ có khả năng nhận diện các hành vi lạm quyền, quan liêu, hách dịch của chính đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở(3). Từ đó, công tác này tạo ra một cơ chế giám sát quyền lực nhà nước một cách tự nhiên và hiệu quả nhất từ phía xã hội.
Hơn thế nữa, mối quan hệ giữa trách nhiệm của chính quyền cơ sở và nhận thức về nhân quyền của người dân mang tính biện chứng, quyết định sự thành bại của mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Một xã hội thượng tôn pháp luật không thể được hình thành từ những công dân thụ động, thiếu hiểu biết về quyền tự do và phẩm giá của chính mình. Chính quyền địa phương cấp cơ sở khi thực hiện tốt trách nhiệm PBGDPL về quyền con người sẽ tạo ra môi trường an toàn pháp lý bền vững, thúc đẩy tinh thần hòa giải, giảm thiểu các tranh chấp khiếu kiện kéo dài và giải tỏa các xung đột lợi ích ngay từ khi mới phát sinh tại cộng đồng(4). Trình độ dân chủ, văn minh của một địa phương và rộng hơn là của một quốc gia, không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế hay số lượng văn bản quy phạm được ban hành, mà được đo lường một cách chính xác bằng mức độ am hiểu pháp luật, khả năng tự tin thực hiện và bảo vệ các quyền con người hiến định của mỗi người dân tại địa bàn cơ sở.
3. Thực trạng thực hiện trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người của chính quyền địa phương cấp cơ sở tại Việt Nam
Thực tiễn triển khai thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 của chính quyền địa phương cấp cơ sở thời gian qua đã ghi nhận những kết quả tích cực, khẳng định vai trò chủ đạo của cấp cơ sở trong việc đưa các giá trị quyền con người vào đời sống cộng đồng. Ưu điểm nổi bật đầu tiên là sự hoàn thiện và kiện toàn mạnh mẽ về mặt thể chế tổ chức hành chính chuyên trách ở cấp cơ sở dưới sự định hướng của Hội đồng phối hợp PBGDPL. Chính quyền cấp cơ sở đã xây dựng được mạng lưới tuyên truyền viên pháp luật đông đảo, bám sát từng thôn, làng, ấp, bản và tổ dân phố, kết hợp chặt chẽ với lực lượng hòa giải viên cơ sở(5). Bằng việc am hiểu sâu sắc phong tục tập quán và đặc điểm dân cư, đội ngũ này đã lồng ghép hiệu quả các quy định về quyền trẻ em, quyền phụ nữ, quyền của người khuyết tật và các chính sách an sinh xã hội vào các buổi sinh hoạt quần chúng, biến các khái niệm nhân quyền học thuật trở nên gần gũi, dễ hiểu đối với đại bộ phận nhân dân.
Bên cạnh đó, phương thức truyền thông và giáo dục pháp luật về quyền con người tại địa bàn cơ sở đã có những bước chuyển biến mang tính đột phá nhờ tư duy đổi mới của chính quyền địa phương. Nhiều Ủy ban nhân dân cấp xã đã chủ động vượt qua lối mòn tuyên truyền truyền thống để chuyển sang mô hình tương tác đa kênh, ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu công nghệ thông tin thông qua việc xây dựng các trang thông tin điện tử, tài khoản mạng xã hội chính thống và hệ thống loa phát thanh kỹ thuật số của xã(6). Tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chính quyền cơ sở đã có sự sáng tạo lớn khi tiến hành biên soạn, dịch thuật các tài liệu, tờ rơi, áp phích giới thiệu về quyền con người, quyền công dân sang ngôn ngữ bản địa và tổ chức các phiên tòa giả định trực quan, tạo nên hiệu ứng giáo dục pháp luật rất cao. Hoạt động công khai, minh bạch hóa quy trình thủ tục hành chính tại Bộ phận “một cửa” cấp xã cũng được vận hành đồng bộ, trở thành kênh thực hành giáo dục nhân quyền trực quan, giúp người dân nắm vững quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các giao dịch với cơ quan công quyền.
Không chỉ dừng lại ở góc độ truyền thông, chính quyền cấp cơ sở đã phát huy tốt cơ chế phối hợp liên ngành, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tại địa phương nhằm tạo không gian tiếp cận tri thức pháp luật cho Nhân dân. Hoạt động phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Hội Luật gia đã tạo ra các chiến dịch tuyên truyền sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ(7). Hàng năm, hàng vạn người dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế trong xã hội như người nghèo, người khuyết tật đã được tiếp cận với các dịch vụ tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý lưu động miễn phí ngay tại địa bàn cư trú. Việc khôi phục và bảo đảm các quyền dân sự, kinh tế, xã hội này không chỉ nâng cao nhận thức pháp lý của người dân mà còn củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào sự nghiêm minh, nhân văn của hệ thống pháp luật nước ta.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm mang tính chủ đạo và toàn diện nêu trên, thực trạng thực hiện trách nhiệm của chính quyền cơ sở vẫn còn một số điểm hạn chế mang tính kỹ thuật hành chính cần tiếp tục hoàn thiện. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là mức độ đồng bộ hóa và chiều sâu nội dung trong công tác giáo dục quyền con người ở một số địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa còn chưa đều do khoảng cách hạ tầng công nghệ thông tin(8). Đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật tại cấp xã hoạt động chủ yếu dưới hình thức kiêm nhiệm, nguồn ngân sách phân bổ riêng biệt cho công tác giáo dục quyền con người đôi lúc còn hạn hẹp so với yêu cầu thực tế.
4. Giải pháp nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp cơ sở trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người
Để tiếp tục phát huy những ưu điểm mang tính chủ đạo đã đạt được, đồng thời giải quyết triệt để những điểm nghẽn mang tính kỹ thuật hành chính và hạ tầng đã được chỉ ra, việc hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp xã trong công tác PBGDPL về quyền con người trong giai đoạn tới cần được triển khai đồng bộ, quyết liệt.
Một là, cụ thể hóa trách nhiệm hành chính và bảo đảm nguồn lực tài chính độc lập cho chính quyền cấp cơ sở.
Để chuyển hóa các nghĩa vụ hiến định trên góc độ lý luận thành hành động thực tế, cơ quan lập pháp cần bổ sung các điều khoản quy định rõ ràng và mang tính ràng buộc pháp lý về nghĩa vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc xây dựng kế hoạch PBGDPL chuyên biệt về quyền con người hàng năm. Pháp luật cần thiết lập bộ tiêu chí định lượng để đánh giá, nghiệm thu kết quả nhận thức pháp lý của người dân trên địa bàn, gắn trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, cụ thể là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã vào kết quả thực hiện công tác này như một chỉ số thi đua bắt buộc. Song song với đó, Hội đồng nhân dân các cấp cần phê duyệt danh mục chi ngân sách độc lập, có tỷ lệ phân bổ cố định cho hoạt động giáo dục nhân quyền trong dự toán ngân sách hàng năm của cấp xã, chấm dứt tình trạng lồng ghép chung chung dẫn đến thiếu hụt kinh phí triển khai.
Hai là, hiện đại hóa và số hóa toàn diện phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người nhằm tối ưu hóa khả năng tiếp cận của Nhân dân.
Giải pháp này trực tiếp giải quyết bài toán chênh lệch hạ tầng công nghệ giữa các vùng miền bằng cách xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tương tác pháp lý trực tuyến đồng bộ tại địa phương. Chính quyền cấp xã cần chủ động thiết lập các kênh tư vấn, giải đáp pháp luật tự động trên nền tảng số và phát triển các ứng dụng di động công vụ cấp xã để người dân, dù ở vùng sâu, vùng xa vẫn có thể dễ dàng tra cứu quyền lợi của mình về đất đai, hôn nhân, lao động hay bảo trợ xã hội. Phương thức biên soạn tài liệu cần dịch chuyển mạnh mẽ từ văn bản thuần túy sang trực quan hóa bằng video ngắn, đồ họa thông tin (infographic), phát thanh kỹ thuật số và tổ chức các phiên tòa giả định trực tuyến nhằm tăng tính cuốn hút, dễ hiểu đối với đại bộ phận quần chúng nhân dân.
Ba là, chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn chuyên biệt cho đội ngũ nhân sự thực thi tại địa bàn cơ sở.
Chính quyền cấp xã cần định kỳ tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo lại mang tính hệ thống cho lực lượng tuyên truyền viên pháp luật và hòa giải viên cơ sở. Nội dung đào tạo không chỉ dừng lại ở lý thuyết pháp luật quốc gia mà phải cập nhật sâu sắc các kiến thức về luật nhân quyền quốc tế, kỹ năng sư phạm pháp lý và kỹ thuật đối thoại dân chủ trực tiếp. Đặc biệt, cần chuẩn hóa hành vi và nhận thức dựa trên tinh thần tôn trọng phẩm giá con người cho đội ngũ công chức trực tiếp tiếp xúc với người dân như Tư pháp - Hộ tịch, Địa chính và lực lượng Công an cấp xã, biến mỗi giao dịch hành chính tại Bộ phận “một cửa” thành một bài học thực hành trực quan về bảo đảm quyền con người.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người.
Chính quyền địa phương cấp cơ sở cần phát huy tối đa vai trò cầu nối, chủ động thiết lập quy chế phối hợp hành động chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Hội Luật gia tại địa phương để tạo ra sức mạnh tổng hợp. Pháp luật cần ban hành các chính sách khuyến khích, tạo hành lang thông thoáng để các chuyên gia pháp lý, luật sư, giảng viên luật và các tổ chức xã hội tham gia trợ giúp pháp lý, tổ chức các chiến dịch tư vấn lưu động miễn phí tại cơ sở. Sự đồng hành này không chỉ giảm tải áp lực công vụ cho bộ máy cấp xã mà còn bảo đảm quyền được tiếp cận tri thức pháp luật của các nhóm đối tượng yếu thế, hiện thực hóa mục tiêu không để ai “bị bỏ lại phía sau”.
5. Kết luận
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người tại chính quyền địa phương cấp cơ sở không chỉ đơn thuần là một nhiệm vụ chính trị - hành chính ngắn hạn, mà là viên gạch nền móng vững chắc nhất để xây dựng xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Khi người dân được tiếp cận tri thức pháp luật một cách đầy đủ và công bằng, họ sẽ chủ động, tự tin tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời hình thành ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật một cách tự giác. Thực tiễn triển khai thời gian qua đã chứng minh vai trò chủ đạo và những kết quả to lớn của chính quyền cấp xã trong việc bảo vệ, thúc đẩy các giá trị nhân quyền cốt lõi từ mạng lưới cơ sở.
Trong giai đoạn mới, trước những yêu cầu hội nhập và sự bùng nổ của công nghệ, việc kiên quyết nâng cao trách nhiệm thể chế của chính quyền cơ sở là đòi hỏi tất yếu. Để đưa công tác giáo dục nhân quyền đi vào chiều sâu, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp, từ việc số hóa phương thức truyền thông, xác lập nguồn tài chính độc lập, đến việc chuẩn hóa năng lực đội ngũ nhân sự và đẩy mạnh xã hội hóa phối hợp liên ngành sẽ là đòn bẩy chiến lược. Điều này không chỉ góp phần đắc lực vào việc hiện thực hóa mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, mà còn nâng cao toàn diện vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế về bảo đảm quyền con người./.
------------------------------------
Ghi chú:
(1) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Lý luận Chính trị, H.2022.
(2) Tường Duy Kiên, Giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay: Lý luận và thực tiễn, Nxb CTQG-ST, H.2020.
(3) Phạm Văn Hùng, Trách nhiệm của chính quyền địa phương trong bảo đảm quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 04(420), H.2023, tr.22 - 31.
(4) Nguyễn Thanh Tùng, Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người ở cấp cơ sở hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 11/2021, tr. 42 - 48.
(5) Đinh Văn Minh, Luật Khiếu nại năm 2011 - Qua thực tiễn thi hành và những định hướng hoàn thiện, Tạp chí Thanh tra, số 8, H.2020, tr.18 - 25.
(6) Lê Thị Thanh Hà, Đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa bàn cấp xã đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 08(504), H.2024, tr.14 - 22.
(7) Nguyễn Thanh Tùng, Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người ở cấp cơ sở hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 11/2021, tr. 42 - 48.
(8) Lê Minh Thông (2022), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và những đòi hỏi đối với quyền dân chủ, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14(462), H.2022, tr.5 - 13.
Tài liệu tham khảo:
(1) Quốc hội, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 ngày 20/ 6/2012.
(2) Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
(3) Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015.
(4) Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1309/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân ngày 05/9/2017.
Đinh Hữu Dương - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả