Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Hoàn thiện cơ chế liên thông dữ liệu giáo dục - việc làm nhằm phát triển nguồn nhân lực trình độ cao từ sinh viên đại học trong kỷ nguyên mới

Ngày đăng: 06/08/2026   16:40
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trong kỷ nguyên mới, giáo dục đại học không chỉ trao bằng mà phải chuyển hóa người học thành nguồn nhân lực có năng lực tạo giá trị tích cực cho Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề từ góc độ quản trị công dựa trên dữ liệu, làm rõ vai trò của liên thông dữ liệu giáo dục - việc làm đối với phát triển nhân lực trình độ cao từ sinh viên đại học. Từ đó, bài viết đề xuất kiến trúc dữ liệu phân tán có chuẩn chung, bộ phân loại kỹ năng quốc gia, chuẩn hóa theo dõi việc làm, hồ sơ năng lực số và thí điểm theo ngành chiến lược. Giá trị của chính sách không nằm ở thu thập thêm dữ liệu, mà ở khả năng biến dữ liệu thành quyết định đào tạo đúng hơn, sử dụng nhân lực hiệu quả hơn và mở rộng cơ hội phát triển công bằng hơn.

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên mới, giáo dục đại học không chỉ trao bằng mà phải chuyển hóa người học thành nguồn nhân lực có năng lực tạo giá trị tích cực cho Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề từ góc độ quản trị công dựa trên dữ liệu, làm rõ vai trò của liên thông dữ liệu giáo dục - việc làm đối với phát triển nhân lực trình độ cao từ sinh viên đại học. Từ đó, bài viết đề xuất kiến trúc dữ liệu phân tán có chuẩn chung, bộ phân loại kỹ năng quốc gia, chuẩn hóa theo dõi việc làm, hồ sơ năng lực số và thí điểm theo ngành chiến lược. Giá trị của chính sách không nằm ở thu thập thêm dữ liệu, mà ở khả năng biến dữ liệu thành quyết định đào tạo đúng hơn, sử dụng nhân lực hiệu quả hơn và mở rộng cơ hội phát triển công bằng hơn.

Từ khóa: Dữ liệu giáo dục - việc làm; nguồn nhân lực trình độ cao; quản trị dựa trên dữ liệu; sinh viên đại học; thị trường lao động.

Abstract: In the new era, higher education should not merely confer academic degrees but transform students into highly qualified human resources capable of creating value for the State, businesses, and society. Adopting a data-driven public governance perspective, this article examines the role of education-employment data integration in developing high-quality human resources from university graduates. It proposes a policy framework comprising a distributed data architecture with common standards, a national skills taxonomy, standardized graduate employment tracking, digital competency portfolios, and pilot implementation in strategic sectors. The article argues that the value of this policy lies not in collecting more data, but in leveraging data to make more informed educational decisions, improve the utilization of human resources, and expand equitable opportunities for development.

Keywords: Education-employment data; highly qualified human resources; data-driven governance; university students; labor market.

Ảnh minh họa.

1. Đặt vấn đề

Mỗi năm, có hàng trăm nghìn sinh viên hoàn thành chương trình đại học và tham gia thị trường lao động. Văn bằng xác nhận quá trình học tập, nhưng chưa hoàn toàn bảo đảm người tốt nghiệp có thể làm chủ công nghệ mới va giải quyết vấn đề phức tạp hoặc tạo ra giá trị ở những vị trí đất nước đang cần. Vì vậy, làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giữa “được đào tạo” và “được sử dụng hiệu quả” là vấn đề được cả nhà trường, thị trường lao động và quản trị nguồn nhân lực quốc gia quan tâm.

Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu về đội ngũ có khả năng làm chủ công nghệ và dữ liệu; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn mạnh giáo dục đại học phải gắn đào tạo nhân lực trình độ cao với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và nhu cầu phát triển. Theo đó, sinh viên không chỉ là người thụ hưởng giáo dục, mà là nguồn vốn con người quyết định năng lực hấp thụ công nghệ, nâng năng suất và cải thiện vị thế quốc gia.

Trong thực tế, dữ liệu vẫn vận hành theo các tuyến tách rời. Cơ sở giáo dục nắm thông tin học tập và tốt nghiệp; cơ quan lao động nắm dữ liệu việc làm; doanh nghiệp biết kỹ năng thiếu hụt và chi phí đào tạo lại; sinh viên có các minh chứng rải rác ở bảng điểm, chứng chỉ, dự án và thực tập. Khi thiếu chuẩn kết nối các loại dữ liệu này, hệ thống khó trả lời ba câu hỏi: thị trường cần năng lực nào; chương trình đang hình thành năng lực nào; và người học sau tốt nghiệp đang được sử dụng ra sao. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và những bất cập của dữ liệu giáo dục - việc làm, từ đó đề xuất giải pháp chính sách; với luận điểm trung tâm là chất lượng nguồn nhân lực không chỉ phụ thuộc vào nội dung được giảng dạy, mà còn vào khả năng của toàn hệ thống quan sát kết quả, học hỏi từ dữ liệu và điều chỉnh kịp thời.

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp phân tích tài liệu, chính sách và dữ liệu thứ cấp. Tư liệu được lựa chọn theo nguyên tắc tập trung, gồm các văn bản định hướng trực tiếp về khoa học - công nghệ, giáo dục, việc làm và các báo cáo về kỹ năng, chuyển tiếp việc làm, chất lượng nguồn nhân lực. Phân tích được tiến hành theo bốn bước: xác định yêu cầu mới đối với nhân lực trình độ cao; đối chiếu chính sách với thực trạng; nhận diện đứt gãy trong chu trình dữ liệu từ đào tạo đến việc làm; và xây dựng giải pháp theo tiêu chí khả thi, có chủ thể chịu trách nhiệm và có thể đánh giá. Nghiên cứu không kiểm định quan hệ nhân quả, mà xây dựng luận cứ chính sách từ sự hội tụ của quy định, thống kê và bằng chứng nghiên cứu.

2. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trình độ cao từ sinh viên đại học

2.1. Từ trình độ đào tạo đến năng lực tạo giá trị

Nguồn nhân lực trình độ cao thường được nhận diện qua trình độ chuyên môn, khả năng đảm nhiệm công việc phức tạp, năng lực đổi mới và đóng góp đối với năng suất. Tuy nhiên, nếu đồng nhất nhân lực trình độ cao với người có bằng đại học sẽ nhầm lẫn giữa điều kiện đào tạo và kết quả phát triển. Văn bằng chỉ thực sự có giá trị xã hội khi kiến thức được chuyển thành năng lực hành động, thích ứng và tạo kết quả nghề nghiệp.

Quá trình phát triển sinh viên thành nhân lực trình độ cao cần hình thành bốn lớp năng lực: nền tảng chuyên môn đủ sâu; năng lực số, dữ liệu, ngoại ngữ và làm việc liên ngành; năng lực phản biện, đổi mới và giải quyết vấn đề mới; phẩm chất trách nhiệm, liêm chính, kỷ luật và học tập suốt đời. Nhân lực trình độ cao không chỉ “biết nhiều”, mà phải biết dùng tri thức đúng mục đích, trong bối cảnh cụ thể và có trách nhiệm xã hội. Vì vậy, quản lý giáo dục phải chuyển từ theo dõi số tín chỉ và tỷ lệ tốt nghiệp sang theo dõi năng lực được hình thành, minh chứng và sử dụng.

2.2. Liên thông dữ liệu là hạ tầng của quản trị năng lực

Dữ liệu giáo dục - việc làm mô tả hành trình hình thành và sử dụng năng lực của người học: đầu vào, kết quả học tập, chuẩn đầu ra, trải nghiệm thực tế, kỹ năng được xác nhận, quá trình tìm việc, vị trí việc làm, mức độ phù hợp, thu nhập và nhu cầu đào tạo tiếp theo. Liên thông không có nghĩa là gom mọi thông tin vào một kho duy nhất, mà cốt lõi là các hệ thống có thể trao đổi qua mã định danh, chuẩn dữ liệu, thuật ngữ kỹ năng, quy tắc truy cập và trách nhiệm cập nhật.

Từ góc độ quản trị công, liên thông dữ liệu giúp phân bổ nguồn lực đào tạo gần hơn với nhu cầu ngành và vùng; tạo vòng phản hồi để chương trình cập nhật dựa trên kết quả thực tế; và tăng trách nhiệm giải trình về chất lượng việc làm, không chỉ số người tốt nghiệp. Nghiên cứu về nhu cầu kỹ năng tại Việt Nam cho thấy nhận diện chi tiết kỹ năng doanh nghiệp sử dụng và thiếu hụt là điều kiện để thiết kế chính sách đào tạo và thông tin thị trường lao động hiệu quả. Dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi dự báo được chuyển thành chuẩn đầu ra, chuẩn đầu ra được chứng minh bằng năng lực và kết quả việc làm quay trở lại điều chỉnh đào tạo.

3. Thực tiễn và những “điểm nghẽn” chủ yếu trong cơ chế liên thông dữ liệu giáo dục - việc làm

3.1. Định hướng chính sách rõ hơn, nhưng cơ chế thực thi chưa liền mạch

Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 yêu cầu xây dựng hệ thống giáo dục mở, chất lượng và đáp ứng nhu cầu nhân lực. Luật Việc làm năm 2025 tạo khuôn khổ mới cho thông tin thị trường lao động, phát triển kỹ năng nghề và hỗ trợ việc làm. Cùng với các nghị quyết về khoa học - công nghệ và giáo dục, định hướng chính sách đã tương đối nhất quán: đào tạo đại học phải gắn với đổi mới sáng tạo, nhu cầu nhân lực và hiệu quả sử dụng người học sau tốt nghiệp.

Điểm yếu nằm ở cơ chế thực thi. Liên kết nhà trường - doanh nghiệp vẫn thường dừng ở biên bản hợp tác, thực tập, ngày hội tuyển dụng hoặc góp ý chương trình theo từng đợt. Những hoạt động này cần thiết nhưng chưa tạo thành dòng dữ liệu ổn định. Nhà trường khó nhận thông tin chuẩn hóa về kỹ năng thiếu hụt; doanh nghiệp khó so sánh năng lực giữa các chương trình; cơ quan quản lý thiếu dữ liệu đủ sâu để dự báo. Việt Nam không thiếu dữ liệu theo nghĩa tuyệt đối, nhưng thiếu kiến trúc thể chế biến dữ liệu riêng lẻ thành thông tin dẫn dắt hành động.

3.2. Nghịch lý của nguồn nhân lực trẻ

Số liệu thống kê cho thấy, sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,7%; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi là 8,77% và quý II/2026 có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo. Các chỉ số cho thấy giai đoạn chuyển tiếp của người trẻ còn dễ tổn thương. Nền kinh tế có thể đồng thời thiếu nhân lực chất lượng cao và nhiều người tốt nghiệp đại học khó tìm việc phù hợp nếu cơ cấu ngành, kỹ năng và cơ chế kết nối không gặp nhau.

Tổ chức Lao động quốc tế cho thấy lợi tức thu nhập của bằng đại học tại Việt Nam có xu hướng thu hẹp và nhấn mạnh mối liên hệ giữa giáo dục, kỹ năng và việc làm chính thức. Điều này không làm giảm vai trò của đại học, mà cho thấy giá trị văn bằng ngày càng phụ thuộc vào năng lực đi kèm và khả năng sử dụng năng lực trong công việc có năng suất. Báo cáo Việt Nam 2045 cũng cảnh báo lao động kỹ năng thấp cản trở nâng cấp chuỗi giá trị, đồng thời đề nghị tăng đầu tư cho giáo dục sau phổ thông, STEM, nghiên cứu và hợp tác đại học - doanh nghiệp.

3.3. Năm “điểm nghẽn” của cơ chế dữ liệu giáo dục - việc làm

Thứ nhất, dữ liệu phân tán theo chức năng và thiếu chuẩn liên thông. Thông tin học tập, tốt nghiệp, bảo hiểm, tuyển dụng và kỹ năng được lưu ở nhiều hệ thống với định dạng khác nhau, nhưng chưa có quy tắc đối chiếu và xác định trách nhiệm về chất lượng dữ liệu.

Thứ hai, chuẩn đầu ra và vị trí việc làm chưa được kết nối bằng một “ngôn ngữ kỹ năng” đủ cụ thể. Nhà trường thường mô tả năng lực rộng, trong khi doanh nghiệp tuyển theo nhiệm vụ và mức thành thạo, khiến sự liên kết giữa đào tạo và tuyển dụng dễ bị ảnh hưởng.

Thứ ba, dữ liệu sau tốt nghiệp còn thiên về tỷ lệ có việc làm, chưa phản ánh mức độ phù hợp với trình độ, sử dụng kỹ năng, thu nhập, hợp đồng, bảo hiểm và cơ hội phát triển. Vì vậy, số liệu có thể đẹp nhưng chưa cho biết nguồn nhân lực có được sử dụng đúng chỗ hay không.

Thứ tư, doanh nghiệp chưa là chủ thể thường xuyên của vòng phản hồi. Đánh giá thực tập, kỹ năng thiếu hụt và chi phí đào tạo lại chưa được chuẩn hóa để quay trở lại chương trình; doanh nghiệp nhỏ và vừa càng khó tham gia nếu thiếu công cụ dùng chung.

Thứ năm, sinh viên chưa làm chủ dữ liệu năng lực. Bảng điểm, chứng chỉ, dự án và đánh giá thực tập nằm ở nhiều nơi, khó xác thực và khó chuyển thành hồ sơ có thể sử dụng. Người học vì thế dễ chạy theo chứng chỉ rời rạc thay vì đầu tư vào trải nghiệm gắn với mục tiêu nghề nghiệp.

4. Định hướng hoàn thiện chính sách

Giải pháp cần tận dụng hệ thống hiện có, thu thập tối thiểu nhưng đủ cho quyết định và gắn mỗi luồng dữ liệu với chủ thể chịu trách nhiệm. Hệ thống nhiều dữ liệu nhưng không thay đổi tuyển sinh, chương trình, hướng nghiệp hoặc chính sách nhân lực chỉ làm tăng chi phí hành chính.

Bảng 1. Logic vận hành của cơ chế liên thông dữ liệu giáo dục - việc làm

Cấp độ

Dữ liệu trọng tâm

Quyết định được hỗ trợ

Kết quả cần đạt

Quốc gia

Dự báo ngành, nghề, kỹ năng và việc làm

Ưu tiên nhân lực, phân bổ nguồn lực

Cơ cấu đào tạo sát nhu cầu phát triển

Cơ sở đào tạo

Chuẩn đầu ra, minh chứng năng lực, kết quả việc làm

Mở ngành, cập nhật chương trình, hỗ trợ sinh viên

Nâng chất lượng và trách nhiệm giải trình

Đơn vị sử dụng lao động

Yêu cầu công việc, kỹ năng thiếu hụt, phản hồi sau tuyển dụng

Tuyển dụng, hợp tác đào tạo, đặt hàng nhân lực

Giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo lại

Sinh viên

Hồ sơ năng lực, mục tiêu nghề nghiệp, khoảng trống kỹ năng

Lựa chọn học tập, thực tập, việc làm

Tăng quyền chủ động và công bằng cơ hội

4.1. Xây dựng kiến trúc dữ liệu phân tán có chuẩn chung

Nhà nước cần ban hành kiến trúc dữ liệu giáo dục - việc làm ở cấp quốc gia, xác định dữ liệu cốt lõi, mã định danh, tiêu chuẩn kỹ thuật, quyền truy cập, thời hạn cập nhật và cơ chế kiểm tra. Mô hình phù hợp là liên thông phân tán: dữ liệu vẫn do cơ quan có thẩm quyền quản lý nhưng trao đổi qua chuẩn thống nhất, qua đó giữ trách nhiệm nguồn và giảm rủi ro tập trung. Giai đoạn đầu nên ưu tiên ngành đào tạo, chuẩn đầu ra, kết quả tốt nghiệp, tình trạng việc làm, mức độ phù hợp và kỹ năng thiếu hụt. Đồng thời, phải phân biệt dữ liệu thống kê ẩn danh với dữ liệu dùng cho quyết định cá nhân; mọi sử dụng dữ liệu người học phải minh bạch về mục đích, giới hạn truy cập và quyền kiểm soát.

4.2. Xây dựng bộ phân loại kỹ năng quốc gia

Liên thông kỹ thuật không tạo giá trị nếu các chủ thể không dùng cùng một ngôn ngữ. Cần xây dựng bộ phân loại kỹ năng quốc gia theo các tầng: kỹ năng nền tảng; kỹ năng số và xanh; kỹ năng chuyên môn theo ngành; kỹ năng quản lý, đổi mới và phục vụ công; kèm mức độ thành thạo. Mỗi chuẩn đầu ra phải được ánh xạ vào nhóm kỹ năng; học phần, dự án và kỳ thực tập phải chỉ rõ minh chứng. Chuẩn hóa không làm các trường giống nhau, mà giúp tạo sự khác biệt của từng chương trình được thể hiện bằng thước đo có thể hiểu chung, để sinh viên biết mình có gì, doanh nghiệp biết cần tìm gì và Nhà nước biết ngành đào tạo đáp ứng đến đâu.

4.3. Chuẩn hóa theo dõi kết quả việc làm và bắt buộc phản hồi vào đào tạo

Cần ban hành bộ chỉ số tối thiểu về kết quả sau tốt nghiệp gồm tỷ lệ phản hồi, việc làm, thời gian tìm việc, mức độ phù hợp, khoảng thu nhập, hợp đồng, bảo hiểm, sử dụng kỹ năng và tiếp tục học. Số liệu phải kèm phương pháp, thời điểm và quy mô mẫu. Quan trọng hơn, mỗi chương trình cần giải trình dữ liệu đã dẫn tới thay đổi nào trong học phần, chỉ tiêu, thực tập, hướng nghiệp hoặc hỗ trợ nhóm có nguy cơ. Cơ quan quản lý nên đánh giá không chỉ tỷ lệ việc làm, mà cả năng lực sử dụng bằng chứng để cải tiến; từ đó chuyển trách nhiệm giải trình từ “có số liệu” sang “có hành động”.

4.4. Thiết lập hồ sơ năng lực số thuộc quyền kiểm soát của người học

Mỗi sinh viên cần có hồ sơ năng lực số tích lũy xuyên suốt, ghi nhận điểm số, kỹ năng, dự án, nghiên cứu, thực tập, chứng chỉ và đánh giá từ đơn vị sử dụng lao động. Hồ sơ phải xác thực được nguồn, cho phép chia sẻ có lựa chọn và chuyển tiếp khi học nâng cao hoặc tìm việc. Đây không chỉ là “CV điện tử”, mà là công cụ hướng nghiệp: so với mục tiêu nghề nghiệp, người học nhìn thấy kỹ năng đã có và khoảng trống cần bổ sung. Với sinh viên ít lợi thế về các mối quan hệ, minh chứng xác thực còn giúp giảm sự phụ thuộc của tuyển dụng vào danh tiếng và mạng lưới xã hội.

4.5. Đưa doanh nghiệp vào vòng phản hồi có trách nhiệm

Quan hệ nhà trường - doanh nghiệp cần chuyển từ hợp tác theo sự kiện sang phản hồi dựa trên dữ liệu. Doanh nghiệp tham gia thực tập hoặc tuyển dụng nên đánh giá ngắn gọn về mức đáp ứng công việc, kỹ năng thiếu hụt và nội dung phải đào tạo lại; đổi lại được tiếp cận thông tin tổng hợp về nguồn cung kỹ năng và tham gia thiết kế mô-đun đào tạo. Phản hồi nên tích hợp vào quy trình tuyển dụng, thử việc hoặc tổng kết thực tập để giảm gánh nặng. Nhà nước và hiệp hội ngành nghề cần cung cấp công cụ dùng chung, nhất là cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; khu vực công, viện nghiên cứu và tổ chức xã hội cũng phải tham gia.

4.6. Thí điểm theo ngành chiến lược, gắn trách nhiệm và đánh giá độc lập

Không nên triển khai đồng loạt. Cần thí điểm ở một số lĩnh vực có nhu cầu nhân lực rõ và tốc độ thay đổi kỹ năng nhanh như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, logistics, tài chính số, công nghệ xanh hoặc quản trị công số. Mỗi thí điểm phải đo được thời gian cập nhật chương trình, tỷ lệ chuẩn đầu ra được ánh xạ, chất lượng dữ liệu việc làm và mức tham gia của doanh nghiệp. Trách nhiệm cần phân định rõ: cơ quan giáo dục quản lý chuẩn dữ liệu đào tạo; cơ quan việc làm phụ trách thông tin thị trường và dự báo; trường đại học chịu trách nhiệm xác thực và cải tiến; doanh nghiệp phản hồi; người học có quyền truy cập, sửa sai và quyết định chia sẻ. Đánh giá độc lập phải xác định hệ thống có giúp chương trình cập nhật nhanh hơn, sinh viên chọn lộ trình tốt hơn, doanh nghiệp giảm đào tạo lại và Nhà nước dự báo chính xác hơn hay không.

Trong kỷ nguyên mới, lợi thế của Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào quy mô lao động và chi phí thấp. Khả năng phát triển lên những nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị phụ thuộc vào việc phát hiện, đào tạo, phân bổ và sử dụng đúng nguồn nhân lực. Đại học là nơi quan trọng để hình thành nguồn lực đó, nhưng văn bằng chỉ kết thúc một chương trình; đối với quốc gia, đó mới là điểm bắt đầu của quá trình sử dụng nhân lực.

Hoàn thiện liên thông dữ liệu giáo dục - việc làm là cải cách thể chế, không phải dự án công nghệ bổ trợ. Cải cách phải bắt đầu từ chuẩn dữ liệu và ngôn ngữ kỹ năng chung, được bảo đảm bởi quyền dữ liệu của người học, sự tham gia có trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động và yêu cầu dùng bằng chứng trong quyết định đào tạo. Khi dữ liệu về người học được chuyển thành quyết định tốt hơn, giáo dục mới thực sự trở thành năng lực phát triển và mỗi sinh viên mới có cơ hội đóng góp đúng với khả năng của mình./.

-----------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

3. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

4. Quốc hội, Luật Việc làm số 74/2025/QH15 ngày 16/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

5. Cục Thống kê, Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và 06 tháng đầu năm 2026, H.2026.

6. International Labour Organization, Returns to Education in Viet Nam: Earnings, Education and the Transition to Formality, Research Brief, Geneva, 2025.

7. Granata, J., Moroz, H. E. & Nguyen, N. T., Identifying Skills Needs in Vietnam: The Survey of Detailed Skills, Policy Research Working Paper No. 10565, World Bank, DOI: 10.1596/1813-9450-10565, 2023.

8. World Bank, Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World - Pathways to a High-Income Future, Washington, DC: World Bank, 2024.

Đặng Quang Thắng, Phạm Lê Châu Giang, Đỗ Phương Thảo, Trần Gia Huy - Viện Đào tạo tiên tiến, chất lượng cao và POHE, Đại học Kinh tế quốc dân

Bài viết cùng tác giả