Từ khóa: Đảng ủy phường; chính quyền địa phương hai cấp; nghị quyết; Thành phố Hồ Chí Minh
Abstract: Resolutions adopted by ward Party Committees constitute the fundamental instrument of Party leadership, embodying the political will of the Party committee and providing strategic direction for the entire local political system. The quality of drafting and promulgating these resolutions not only determines the effectiveness of Party leadership but also directly affects the quality of local governance, the delivery of public services, and the capacity to translate the Party's guidelines and policies into practical outcomes. In Ho Chi Minh City, particularly in the context of accelerating digital transformation in public governance, the need to innovate the leadership methods of ward Party Committees has become increasingly urgent. This requires the process of drafting and promulgating Party resolutions to ensure scientific rigor, democratic participation, feasibility, strategic foresight, and effective implementation in response to the demands of the new stage of development.
Keywords: ward Party Committee; two-tier local government; Party resolution; Ho Chi Minh City.
![]()
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết không chỉ là sự cụ thể hóa cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng thành mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa phương, mà còn là căn cứ để tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng. Vì vậy, chất lượng nghị quyết có ý nghĩa quyết định đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy và hiệu quả quản trị ở cơ sở.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện thể chế phát triển, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tổ chức lại không gian phát triển và hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới. Từ đó, Đại hội yêu cầu “đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm rõ trọng tâm, rõ nguồn lực, rõ kết quả, bảo đảm nghị quyết ban hành thực sự đi vào cuộc sống” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.142); đồng thời, “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.128). Bối cảnh phát triển của đất nước hiện nay làm thay đổi đáng kể môi trường hoạt động của các đảng ủy phường, từ chức năng lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị đến phương thức phối hợp với chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội.
Là trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học, công nghệ lớn nhất cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh có đặc điểm quản trị đô thị rất khác so với nhiều địa phương khác. Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, phạm vi quản lý của nhiều phường được mở rộng, quy mô dân số tăng lên, khối lượng công việc của cấp ủy lớn hơn, tính liên thông trong quản trị đô thị ngày càng cao. Đặc biệt, ngày 19/5/2026 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW “về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới”. Nghị quyết nhấn mạnh: “Trong kỷ nguyên phát triển mới, Thành phố Hồ Chí Minh cần phát huy vai trò là một đô thị đặc biệt; tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại; tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” (Bộ Chính trị, 2026). Những điều này đòi hỏi nghị quyết của Đảng ủy phường không chỉ đúng về chủ trương, mà còn phải có chất lượng khoa học, dự báo được xu hướng phát triển, phản ánh đúng nhu cầu của địa phương và có tính khả thi cao trong tổ chức thực hiện.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa đáp ứng và phản ánh đầy đủ yêu cầu phát triển của Thành phố trong bối cảnh mới. Từ đó, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực lãnh đạo của cấp ủy, làm giảm chất lượng tổ chức thực hiện và tác động đến niềm tin của Nhân dân.
Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp phân tích văn kiện của Đảng, tổng hợp tài liệu, bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với hoạt động xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường trong điều kiện phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh; khái quát những vấn đề đặt ra, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng hiện đại, khoa học, dân chủ và hiệu quả.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Những yêu cầu mới đối với hoạt động xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh
Việc nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ xuất phát từ yêu cầu thường xuyên của công tác xây dựng Đảng, mà còn là yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và yêu cầu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới. Những thay đổi mang tính chiến lược này đang làm biến đổi sâu sắc môi trường lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, đòi hỏi hoạt động xây dựng và ban hành nghị quyết phải được đổi mới cả về tư duy, nội dung và phương pháp.
Thứ nhất, yêu cầu đặt ra từ việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả. Trong mô hình mới, không gian quản trị của cấp phường được mở rộng đáng kể; quy mô dân số, phạm vi quản lý và khối lượng công việc tăng lên; đồng thời, yêu cầu phân cấp, phân quyền và nâng cao tính tự chủ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ ngày càng rõ nét. Những thay đổi đó không chỉ tác động đến hoạt động của chính quyền, mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở.
Trong điều kiện chính quyền địa phương 2 cấp, Đảng ủy phường phải lãnh đạo trên một địa bàn rộng hơn, đa dạng hơn về cơ cấu dân cư, trình độ phát triển và các vấn đề quản trị đô thị. Điều này làm cho nghị quyết của đảng ủy không thể chỉ dừng lại ở việc cụ thể hóa các chủ trương của cấp trên, mà phải thực sự trở thành công cụ định hướng phát triển địa phương, bảo đảm sự thống nhất giữa lãnh đạo của Đảng với quản trị của chính quyền và sự tham gia của Nhân dân.
Bên cạnh đó, việc phân định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của từng cấp chính quyền cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng hoạch định của cấp ủy. Nghị quyết cần xác định đúng những vấn đề thuộc phạm vi lãnh đạo của đảng ủy, tránh bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo; đồng thời, phải bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo thông qua định hướng chiến lược, chủ trương lớn và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Điều này đòi hỏi nội dung nghị quyết phải có trọng tâm, trọng điểm, xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu, lộ trình và cơ chế tổ chức thực hiện.
Mặt khác, mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng làm gia tăng yêu cầu phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Nghị quyết của Đảng ủy phường phải trở thành cơ sở để thống nhất hành động giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng dân cư. Vì vậy, chất lượng nghị quyết không còn được đánh giá chủ yếu qua hình thức văn bản mà thông qua khả năng tạo lập sự đồng thuận, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao hiệu quả quản trị địa phương.
Thứ hai, yêu cầu từ chủ trương đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy các đột phá chiến lược và kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, từ đó yêu cầu “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.86); “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới… Đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng bảo đảm rõ trọng tâm, rõ nguồn lực, rõ kết quả, bảo đảm nghị quyết ban hành thực sự đi vào cuộc sống” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.142); “đổi mới tư duy từ quản lý sang quản trị, kiến tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.97). Đây không chỉ là định hướng phát triển ở tầm quốc gia, mà còn là cơ sở chính trị trực tiếp định hình phương thức lãnh đạo của các tổ chức đảng ở địa phương.
Đối với Đảng ủy phường, xã trong cả nước nói chung, Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, yêu cầu đổi mới tư duy trước hết được thể hiện ở việc chuyển từ phương thức lãnh đạo thiên về xử lý công việc thường xuyên sang phương thức lãnh đạo phát triển. Nghị quyết của cấp ủy không chỉ giải quyết các vấn đề hiện hữu, mà còn phải dự báo xu hướng phát triển, nhận diện cơ hội và thách thức, từ đó kiến tạo không gian phát triển mới cho địa phương. Nghĩa là, quá trình xây dựng nghị quyết phải chuyển từ cách tiếp cận dựa trên kinh nghiệm sang hoạch định dựa trên bằng chứng; từ chú trọng quy trình ban hành văn bản sang chú trọng hiệu quả thực hiện; từ quản lý theo đầu vào sang quản trị theo kết quả và giá trị công.
Đặc biệt, yêu cầu kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới đặt ra nhiệm vụ phải tăng cường tính mở, tính liên kết và tính đổi mới trong nội dung nghị quyết. Các nghị quyết của Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh cần hướng mạnh vào phát huy nội lực của cộng đồng, khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển.
Thứ ba, yêu cầu đặt ra từ thực tiễn xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị
Quán triệt quan điểm của Đảng về “hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.91), ngày 19/5/2026 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW “về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới”. Nghị quyết số 09-NQ/TW xác định Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, giữ vai trò trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; đồng thời nhấn mạnh Thành phố phải “tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại”, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước (Bộ Chính trị, 2026). Nghị quyết cũng chỉ rõ những điểm nghẽn chủ yếu của Thành phố vẫn là thể chế, hạ tầng, nguồn lực và chất lượng quản trị đô thị, đòi hỏi phải có những đột phá trong phương thức lãnh đạo và quản trị. Những định hướng đó đặt ra yêu cầu trực tiếp đối với hoạt động của Đảng ủy phường, đó là nghị quyết không chỉ phản ánh chủ trương của cấp trên, mà phải trở thành công cụ lãnh đạo phát triển địa phương trong một không gian quản trị đô thị hiện đại.
Những định hướng chiến lược trong Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu rất cao đối với hoạt động lãnh đạo của Đảng ủy phường. Trong bối cảnh mới, nghị quyết của Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ phải quán triệt đầy đủ các mục tiêu phát triển của Thành phố, mà còn phải cụ thể hóa thành các chương trình hành động phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn, bảo đảm tính khả thi và khả năng huy động nguồn lực xã hội.
Bên cạnh đó, yêu cầu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị hiện đại, thông minh và có sức cạnh tranh quốc tế đòi hỏi nghị quyết của Đảng ủy phường phải có tầm nhìn dài hạn, chú trọng dự báo chiến lược, ứng dụng dữ liệu số trong quá trình xây dựng chính sách và tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện nghị quyết. Vì vậy, chất lượng nghị quyết không chỉ được đánh giá ở tính đúng đắn về chính trị, mà còn ở khả năng kiến tạo phát triển, nâng cao chất lượng quản trị và tạo dựng sự đồng thuận xã hội.
Có thể khẳng định rằng, nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường vừa là điều kiện để cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược của Thành phố, vừa là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng trong bối cảnh phát triển mới.
Như vậy, bối cảnh phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh đã làm thay đổi cả đối tượng lãnh đạo, phương thức lãnh đạo và tiêu chí đánh giá hiệu quả lãnh đạo của Đảng ủy phường. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về kỹ thuật xây dựng văn bản, mà là sự chuyển đổi về tư duy cầm quyền ở cấp cơ sở. Trong điều kiện đó, nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết phải được xem là một nội dung trọng tâm của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị đặc biệt phát triển nhanh, bền vững, có năng lực cạnh tranh toàn cầu và giữ vai trò đầu tàu của cả nước theo tinh thần Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị.
2.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
Sau khi mở rộng không gian phát triển, Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ gia tăng về quy mô địa giới hành chính, mà còn hình thành một không gian phát triển đa trung tâm với sự khác biệt rõ nét về điều kiện kinh tế - xã hội, cơ cấu dân cư, trình độ hạ tầng và yêu cầu quản trị giữa các địa bàn.
Thực hiện Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025”, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm nhiều xã, phường có điều kiện phát triển rất khác nhau. Cụ thể, có những phường mang đặc trưng trung tâm tài chính - thương mại (phường Sài Gòn, phường Bến Thành, phường Tân Định), có những phường gắn với công nghiệp (phường Dĩ An), logistics (phường Dĩ An, phường Thuận An, phường Bình Hòa) hoặc dịch vụ cảng biển (phường Phú Mỹ, phường Vũng Tàu, phường Bà Rịa). Sự khác biệt đó khiến việc xác định mục tiêu ưu tiên và lựa chọn giải pháp phát triển không thể áp dụng theo một khuôn mẫu chung, yêu cầu nghị quyết của Đảng ủy phường phải phản ánh đúng lợi thế so sánh, các điểm nghẽn và nhu cầu phát triển riêng của từng địa bàn.
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, chất lượng nghị quyết của các Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến tích cực theo hướng bám sát chủ trương của Trung ương và Thành phố. Tuy nhiên, những yêu cầu mới từ mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, định hướng phát triển của Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ mở ra cơ hội đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở, mà còn đặt ra những thách thức có tính cấu trúc đối với hoạt động xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường. Hay nói một cách khác, khoảng cách giữa yêu cầu của bối cảnh phát triển mới với năng lực xây dựng nghị quyết ở một số Đảng ủy phường vẫn còn khá lớn. Khoảng cách này không chỉ phản ánh những hạn chế về kỹ năng soạn thảo văn bản hay năng lực cá nhân của đội ngũ cán bộ, mà còn cho thấy sự tác động của những vấn đề có tính cấu trúc trong phương thức lãnh đạo, cơ chế vận hành của hệ thống chính trị và yêu cầu hiện đại hóa quản trị địa phương. Những điều này cần được nhận diện đầy đủ để có giải pháp khắc phục phù hợp.
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu cầu lãnh đạo chiến lược với tư duy điều hành hành chính trong xây dựng nghị quyết
Thực tiễn cho thấy, hiện tồn tại đồng thời hai cách tiếp cận khác nhau trong hoạt động lãnh đạo của Đảng ủy phường. Một mặt, yêu cầu phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi cấp ủy phải thực hiện vai trò lãnh đạo chiến lược, có khả năng dự báo xu hướng phát triển, kiến tạo không gian đổi mới và định hướng huy động các nguồn lực xã hội. Mặt khác, quá trình xây dựng nghị quyết ở một số phường vẫn chịu ảnh hưởng khá rõ của tư duy điều hành hành chính, trong đó nghị quyết chủ yếu được xây dựng nhằm triển khai nhiệm vụ trước mắt hoặc cụ thể hóa văn bản của cấp trên.
Sự chi phối của tư duy hành chính dẫn đến tình trạng nội dung nghị quyết thường dành nhiều dung lượng cho việc phân công nhiệm vụ, xác định tiến độ công việc và chỉ tiêu quản lý, trong khi chưa quan tâm đúng mức đến việc phân tích bối cảnh phát triển, dự báo những biến động của môi trường kinh tế - xã hội và thiết kế các giải pháp có tính chiến lược. Điều này làm giảm vai trò của nghị quyết như một công cụ hoạch định phát triển, đồng thời hạn chế khả năng dẫn dắt và tạo động lực đổi mới của tổ chức đảng ở cơ sở.
Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, khi phạm vi quản trị và mức độ tự chủ của chính quyền cơ sở được mở rộng, việc duy trì tư duy điều hành hành chính trong xây dựng nghị quyết sẽ làm suy giảm năng lực thích ứng của cấp ủy trước những yêu cầu phát triển nhanh và phức tạp của đô thị hiện đại.
Thứ hai, khoảng cách giữa yêu cầu hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng với năng lực phân tích của cấp ủy
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định đổi mới phương thức lãnh đạo phải gắn với nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển. Điều này đồng nghĩa với việc các quyết sách của tổ chức đảng cần được xây dựng trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, bằng chứng khoa học và phân tích khách quan.
Tuy nhiên, ở cấp phường, năng lực phân tích chính sách của một bộ phận cấp ủy và đội ngũ tham mưu vẫn còn là khâu yếu. Quá trình xây dựng nghị quyết phần lớn dựa trên báo cáo hành chính, tổng kết công tác hoặc kinh nghiệm thực tiễn, trong khi việc khai thác cơ sở dữ liệu dân cư, dữ liệu kinh tế - xã hội, dữ liệu quản trị số và các kết quả khảo sát xã hội học còn hạn chế. Khoảng cách này khiến nhiều nghị quyết thiếu cơ sở khoa học trong việc xác định vấn đề ưu tiên, lượng hóa mục tiêu và dự báo tác động chính sách. Trong điều kiện chuyển đổi số, dữ liệu không chỉ là công cụ hỗ trợ quản lý, mà còn trở thành nguồn lực chiến lược của quá trình lãnh đạo. Vì vậy, việc chưa hình thành văn hóa hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng là một trong những rào cản quan trọng đối với nâng cao chất lượng nghị quyết.
Thứ ba, mâu thuẫn giữa yêu cầu phân cấp, phân quyền với năng lực thực thi của tổ chức đảng ở cơ sở
Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp mở rộng phạm vi phân cấp, phân quyền cho cấp cơ sở theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, từ đó làm gia tăng trách nhiệm của Đảng ủy phường trong việc định hướng phát triển và lãnh đạo toàn diện địa phương. Tuy nhiên, quá trình phân quyền chỉ phát huy hiệu quả khi đi đôi với việc nâng cao năng lực của chủ thể được phân quyền.
Thực tiễn cho thấy, năng lực nghiên cứu, dự báo, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết giữa các Đảng ủy phường còn có sự chênh lệch đáng kể. Trong khi yêu cầu quản trị ngày càng phức tạp, nhiều cấp ủy vẫn thiếu đội ngũ cán bộ có khả năng phân tích chính sách, quản trị dữ liệu và điều phối liên ngành. Nếu không thu hẹp khoảng cách giữa phân quyền và năng lực thực thi, nguy cơ hình thành sự không đồng đều về chất lượng lãnh đạo giữa các địa phương là điều khó tránh khỏi.
Thứ tư, yêu cầu nâng cao chất lượng nghị quyết trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển đô thị thông minh
Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản trị địa phương. Các nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ mới không chỉ tác động đến hoạt động của chính quyền mà còn tạo ra yêu cầu đổi mới đối với phương thức lãnh đạo của Đảng. Điều này đặt ra yêu cầu nghị quyết của Đảng ủy phường phải vượt ra khỏi chức năng định hướng hành chính để trở thành công cụ dẫn dắt chuyển đổi số địa phương. Nội dung nghị quyết cần phản ánh được các vấn đề mới, như quản trị dữ liệu, an ninh mạng, phát triển công dân số, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chất lượng dịch vụ công số. Nếu nghị quyết vẫn chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu quản lý truyền thống, mà chưa tích hợp các mục tiêu về chuyển đổi số và quản trị thông minh thì sẽ khó đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới.
Thứ năm, thách thức trong việc chuyển từ đánh giá quá trình sang đánh giá kết quả và tác động của nghị quyết
Hiện nay, việc đánh giá chất lượng thực hiện nghị quyết vẫn thiên về kiểm tra mức độ hoàn thành nhiệm vụ hoặc tiến độ công việc, trong khi chưa quan tâm đúng mức đến tác động thực chất của nghị quyết đối với sự phát triển của địa phương. Trong quản trị công hiện đại, chất lượng một quyết sách được đánh giá thông qua khả năng tạo ra giá trị công, nâng cao chất lượng sống của người dân và tăng cường niềm tin xã hội đối với hệ thống chính trị. Do đó, hoạt động kiểm tra, giám sát nghị quyết cần chuyển từ đánh giá “làm đúng quy trình” sang đánh giá “tạo ra kết quả và giá trị gì”. Đây là yêu cầu không chỉ đối với công tác kiểm tra, giám sát mà còn đối với toàn bộ chu trình xây dựng và thực hiện nghị quyết.
2.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
Việc nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường không chỉ nhằm hoàn thiện một khâu trong hoạt động lãnh đạo của cấp ủy, mà còn hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng và hiệu lực quản trị địa phương. Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng nền quản trị đô thị hiện đại, việc đổi mới hoạt động xây dựng và ban hành nghị quyết cần được tiếp cận như một quá trình đổi mới toàn diện, bao quát từ khâu chuẩn bị, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả.
Thứ nhất, đổi mới tư duy xây dựng nghị quyết theo hướng kiến tạo phát triển và quản trị hiện đại
Nếu trong điều kiện trước đây nghị quyết chủ yếu được xem là công cụ cụ thể hóa chủ trương của cấp trên, thì trong bối cảnh mới cần xác lập quan điểm coi nghị quyết là công cụ hoạch định chính sách và lãnh đạo phát triển địa phương. Từ đó, Đảng ủy phường cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển; từ lãnh đạo theo kinh nghiệm sang lãnh đạo dựa trên bằng chứng; từ tập trung vào quá trình ban hành văn bản sang chú trọng kết quả và tác động của nghị quyết đối với phát triển địa phương. Quan điểm này phù hợp với yêu cầu Đại hội lần thứ XIV của Đảng về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, lấy hiệu quả thực tiễn và sự hài lòng của Nhân dân làm tiêu chí đánh giá kết quả lãnh đạo.
Đồng thời, định hướng phát triển Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 09-NQ/TW đòi hỏi mọi quyết sách của cấp ủy cơ sở phải hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa quản trị đô thị và phát triển bền vững. Vì vậy, đổi mới tư duy xây dựng nghị quyết chính là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược đó.
Thứ hai, hoàn thiện quy trình xây dựng nghị quyết theo hướng khoa học, dân chủ và dựa trên bằng chứng
Quy trình xây dựng nghị quyết cần được thiết kế lại theo chu trình chính sách thay vì chỉ tuân thủ quy trình hành chính truyền thống. Trước khi xây dựng dự thảo nghị quyết, cấp ủy cần tổ chức điều tra, khảo sát, phân tích dữ liệu và đánh giá đầy đủ thực trạng địa phương. Việc xác định vấn đề cần giải quyết phải dựa trên các căn cứ khoa học, số liệu thống kê, phản ánh của Nhân dân và kết quả giám sát thực tiễn, tránh tình trạng lựa chọn nội dung theo cảm tính hoặc chỉ dựa trên kinh nghiệm của cán bộ.
Trong quá trình xây dựng dự thảo, cần mở rộng cơ chế lấy ý kiến của các chi bộ trực thuộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và đại diện cộng đồng dân cư. Việc phản biện xã hội cần được thực hiện thực chất, tập trung vào những vấn đề lớn liên quan đến phát triển đô thị, chuyển đổi số, cải cách hành chính, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Quy trình này không chỉ nâng cao chất lượng thông tin đầu vào, mà còn góp phần tăng cường tính đồng thuận xã hội và tính khả thi của nghị quyết.
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy và cán bộ tham mưu trong xây dựng nghị quyết
Chất lượng nghị quyết phụ thuộc trực tiếp vào năng lực của chủ thể xây dựng nghị quyết. Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy chiến lược, năng lực phân tích chính sách và kỹ năng lãnh đạo hiện đại cần được coi là một trong những giải pháp trọng tâm. Trong điều kiện chuyển đổi số và phát triển đô thị thông minh, cán bộ tham mưu không chỉ cần am hiểu công tác xây dựng Đảng, mà còn phải có kiến thức về quản trị công, kinh tế đô thị, phân tích dữ liệu, công nghệ số và phương pháp đánh giá chính sách.
Cùng với đào tạo, cần xây dựng cơ chế học tập thường xuyên trong cấp ủy; khuyến khích nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương nhằm hình thành năng lực hoạch định chính sách dựa trên tri thức và thực tiễn.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình xây dựng và thực hiện nghị quyết
Chuyển đổi số cần được xác định không chỉ là nội dung của nghị quyết, mà còn là phương thức xây dựng nghị quyết. Đảng ủy phường cần khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu dân cư, dữ liệu kinh tế - xã hội, dữ liệu giải quyết thủ tục hành chính, phản ánh của người dân trên các nền tảng số và các hệ thống thông tin quản lý để phục vụ quá trình phân tích, dự báo và lựa chọn chính sách.
Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống quản lý việc thực hiện nghị quyết trên nền tảng số; theo dõi tiến độ, cập nhật kết quả thực hiện theo thời gian thực; thiết lập các chỉ số đánh giá (KPIs) đối với từng nhiệm vụ, từng cơ quan và từng chủ thể chịu trách nhiệm. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và phản hồi chính sách sau khi ban hành nghị quyết
Đổi mới hoạt động xây dựng nghị quyết chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với đổi mới cơ chế đánh giá kết quả thực hiện. Đảng ủy phường cần xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá chất lượng thực hiện nghị quyết theo hướng kết hợp giữa các chỉ tiêu định lượng và định tính; trong đó, chú trọng các chỉ số phản ánh hiệu quả quản trị, chất lượng phục vụ Nhân dân, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, kết quả cải cách hành chính, chuyển đổi số và chất lượng phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị.
Hoạt động sơ kết, tổng kết nghị quyết cần chuyển từ việc kiểm điểm tiến độ thực hiện sang đánh giá tác động chính sách. Những kết quả đánh giá này phải trở thành cơ sở để điều chỉnh nghị quyết, bổ sung giải pháp hoặc xây dựng các nghị quyết mới phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của địa phương. Việc thiết lập cơ chế phản hồi chính sách theo chu trình khép kín sẽ góp phần nâng cao năng lực học hỏi của tổ chức đảng, tăng khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo của cấp ủy.
Kết luận
Trong điều kiện Thành phố Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đặc biệt là đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị, cùng yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hiện đại hóa quản trị đô thị, việc nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường không chỉ là yêu cầu về công tác xây dựng Đảng, mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng và hiệu quả quản trị địa phương.
Từ việc phân tích bối cảnh phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh, bài viết chỉ ra rằng hoạt động xây dựng và ban hành nghị quyết của Đảng ủy phường đang chịu tác động đồng thời của nhiều nhân tố mới, bao gồm yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tổ chức lại hệ thống chính quyền địa phương, chuyển đổi số, phát triển đô thị thông minh và nâng cao chất lượng quản trị công. Những biến đổi này làm cho nghị quyết của Đảng ủy phường không còn chỉ thực hiện chức năng cụ thể hóa nghị quyết cấp trên, mà phải trở thành công cụ hoạch định phát triển địa phương, điều phối các nguồn lực và kiến tạo đồng thuận xã hội. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy lãnh đạo phát triển, phù hợp với tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại.
----------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 “về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới”.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ThS. Trần Ngọc Thiện - Học viện Chính trị khu vực II
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả