Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2021–2030 là một trong ba chương trình mục tiêu quốc gia lớn của Chính phủ, được thiết kế với quy mô toàn diện, tích hợp nhiều chính sách nhằm giải quyết các vấn đề cốt lõi của vùng khó khăn. Với tổng nguồn vốn ngân sách trung ương được phê duyệt cho giai đoạn I (2021–2025) lên tới 104.325 tỷ đồng, Chương trình thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc thúc đẩy phát triển toàn diện vùng DTTS&MN.
Đến hết năm 2025, Chương trình đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Cụ thể, đã hỗ trợ đất ở và nhà ở cho hơn 53.000 hộ; hỗ trợ đất sản xuất cho trên 13.000 hộ; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho khoảng 479.000 hộ; xây dựng hơn 800 công trình nước sinh hoạt tập trung; bố trí, ổn định dân cư cho trên 25.000 hộ . Tỷ lệ giảm nghèo bình quân vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt khoảng 3,4%/năm, vượt mục tiêu đề ra; thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 43,4 triệu đồng/năm, tăng hơn 3 lần so với năm 2020 . Tuy nhiên, do đây là chương trình mới, có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, việc tổ chức triển khai đã gặp không ít khó khăn, hạn chế:
Thứ nhất, bất cập trong xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất của Chương trình là khung pháp lý chưa được hoàn thiện kịp thời. Do chưa có tiền lệ, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành với số lượng lớn, gồm 93 văn bản các loại, bao gồm nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các thông tư, hướng dẫn của bộ, ngành.
Khối lượng văn bản lớn, lại được ban hành trong thời gian ngắn đã gây khó khăn cho các địa phương trong việc tiếp cận, nghiên cứu và triển khai. Đáng chú ý, Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình được ban hành muộn (tháng 10/2021), dẫn đến việc năm đầu tiên không có cơ sở pháp lý để bố trí và giải ngân vốn. Việc phân bổ nguồn lực vì vậy bị chậm trễ, kéo theo tiến độ thực hiện các dự án thành phần bị ảnh hưởng.
Bên cạnh đó, một số quy định còn chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các văn bản, đặc biệt trong cơ chế quản lý, sử dụng vốn sự nghiệp và vốn đầu tư phát triển. Điều này làm gia tăng thủ tục hành chính, kéo dài thời gian phê duyệt và triển khai dự án.
![]()
Thứ hai, hạn chế trong tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực thực hiện. Công tác tổ chức thực hiện Chương trình còn bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là sự thiếu thống nhất trong mô hình tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc.
Trong giai đoạn 2021–2024, tại nhiều địa phương, cơ quan chuyên trách về công tác dân tộc chưa được tổ chức đầy đủ. Một số tỉnh không thành lập Ban Dân tộc hoặc không có phòng chuyên trách cấp huyện. Điều này dẫn đến việc thiếu đầu mối rõ ràng trong chỉ đạo, điều hành và phối hợp triển khai Chương trình.
Ngoài ra, đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, nhất là ở cấp cơ sở, còn thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực chuyên môn. Nhiều cán bộ kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản về quản lý chương trình mục tiêu quốc gia, dẫn đến lúng túng trong tổ chức thực hiện, theo dõi và đánh giá kết quả.
Thứ ba, kết quả thực hiện một số mục tiêu chưa đạt yêu cầu. Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song tính đến hết năm 2025 vẫn còn 3/9 nhóm mục tiêu của Chương trình chưa hoàn thành theo kế hoạch đề ra, cụ thể là:
- Nhóm mục tiêu về phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn chưa đạt đầy đủ các chỉ tiêu. Một số tiêu chí như tỷ lệ trường học kiên cố, mức độ tiếp cận thông tin (truyền hình, phát thanh) tuy đạt tỷ lệ cao nhưng vẫn chưa hoàn thành mục tiêu tuyệt đối.
- Nhóm mục tiêu đưa các xã, thôn ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn chưa đạt yêu cầu. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi và nâng cao điều kiện phát triển ở nhiều địa phương còn chậm, chưa bền vững.
- Nhóm mục tiêu về định canh, định cư, giải quyết tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS vẫn còn nhiều hạn chế. Đây là vấn đề mang tính cấu trúc, liên quan đến quy hoạch đất đai, sinh kế và điều kiện tự nhiên, đòi hỏi giải pháp tổng thể, lâu dài.
Thứ tư, tỷ lệ giải ngân vốn còn thấp, đặc biệt là vốn sự nghiệp. Một trong những hạn chế đáng chú ý là tỷ lệ giải ngân vốn, nhất là vốn sự nghiệp, còn thấp. Tính đến ngày 31/8/2025, tổng giải ngân vốn sự nghiệp mới đạt khoảng 53,84% so với kế hoạch cả giai đoạn. Riêng năm 2025, tỷ lệ giải ngân chi thường xuyên chỉ đạt khoảng 23,2% dự toán.
Nguyên nhân chủ yếu là do định mức hỗ trợ còn thấp, chưa đủ sức hấp dẫn để người dân tham gia; một số nội dung chi chưa phù hợp với thực tiễn; đồng thời, quy trình thủ tục còn phức tạp, gây khó khăn cho địa phương trong tổ chức thực hiện.
Ngoài ra, việc các địa phương tập trung vào sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền trong năm 2025 cũng ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và giải ngân.
Thứ năm, bất cập trong triển khai tín dụng chính sách. Nguồn vốn tín dụng chính sách dành cho Chương trình cũng chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng. Trong giai đoạn 2022–2023, mặc dù được bố trí 9.000 tỷ đồng, nhưng do nhu cầu vay vốn thấp, việc giải ngân chỉ đạt khoảng 26%.
Nguyên nhân có thể xuất phát từ việc thiết kế sản phẩm tín dụng chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân; điều kiện vay vốn còn ràng buộc; hoặc người dân chưa mạnh dạn tiếp cận tín dụng do lo ngại rủi ro. Việc phải điều chuyển một phần lớn nguồn vốn sang chương trình khác cho thấy sự thiếu linh hoạt trong phân bổ và sử dụng nguồn lực.
Để khắc phục những những khó khăn, hạn chế nêu trên, trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách theo hướng đơn giản, thống nhất và dễ thực hiện. Việc ban hành văn bản cần đảm bảo tính kịp thời, tránh chồng chéo, đồng thời tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương. Đồng thời kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc theo hướng tinh gọn nhưng hiệu quả, bảo đảm có đầu mối rõ ràng từ trung ương đến cơ sở; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở; tăng cường giám sát, đánh giá độc lập để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc. Cùng với đó là đổi mới cơ chế quản lý và sử dụng vốn, đặc biệt là vốn sự nghiệp, theo hướng linh hoạt, gắn với nhu cầu thực tiễn; nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị trong việc sử dụng nguồn lực. Đặc biệt, cần cải tiến chính sách tín dụng theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, giảm điều kiện ràng buộc và tăng cường tư vấn, hỗ trợ người dân tiếp cận vốn hiệu quả.
Hải Yến
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả