Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Một số kinh nghiệm từ thực tiễn thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025

Ngày đăng: 12/08/2026   07:29
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Từ thực tiễn triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, nhiều bài học kinh nghiệm đã được tổng kết, góp phần định hướng việc thiết kế và tổ chức thực hiện hiệu quả trong thời gian tới.

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2021-2025 là chương trình mục tiêu quốc gia đầu tiên được thiết kế và triển khai dành riêng cho khu vực này. Trong quá trình thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được, Chương trình cũng bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc liên quan đến thiết kế chính sách, tổ chức thực hiện, phân cấp, xác định đối tượng, quản lý nguồn lực và công tác giám sát, đánh giá.

Thực tiễn đó đã cung cấp những kinh nghiệm quan trọng cho việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện Chương trình trong giai đoạn tiếp theo.

Thiết kế Chương trình phải tập trung, đồng bộ và sát thực tiễn

Một trong những bài học được rút ra là công tác nghiên cứu, xây dựng nội dung và kết cấu Chương trình cần được thực hiện kỹ lưỡng ngay từ khâu đầu tiên, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ và có khả năng tổ chức thực hiện trong thực tế.

Giai đoạn 2021-2025 được thiết kế với 10 dự án, 14 tiểu dự án và 36 nội dung thành phần. Việc có quá nhiều dự án, tiểu dự án và nội dung thành phần đã dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực, một số nội dung còn nhỏ lẻ, làm tăng đầu mối quản lý và gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện.

Kinh nghiệm đặt ra cho giai đoạn tiếp theo là cần tiếp tục rà soát, thu gọn các nội dung đầu tư, khắc phục tình trạng dàn trải, manh mún; tập trung nguồn lực cho những mục tiêu, nhiệm vụ thực sự cấp thiết, có tác động trực tiếp và lâu dài đến đời sống, sản xuất của đồng bào DTTS&MN.

Việc xây dựng chính sách cũng cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của địa phương và người dân, đồng thời có tính dự báo để chủ động thích ứng với những biến động về kinh tế - xã hội. Đối với những chính sách mang tính thường xuyên, định kỳ, nhất là các chính sách hỗ trợ hằng năm cho học sinh, sinh viên, cần được xem xét trong tổng thể hệ thống chính sách an sinh xã hội, tránh đưa vào một chương trình có thời hạn thực hiện, qua đó hạn chế nguy cơ gián đoạn chính sách khi chương trình kết thúc.

Một bài học đáng chú ý khác là yêu cầu hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản hướng dẫn ngay từ đầu giai đoạn. Trong giai đoạn 2021-2025, việc một số quy định, cơ chế và hướng dẫn được ban hành chưa đồng bộ đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai. Vì vậy, cần chuẩn bị đầy đủ hành lang pháp lý, cơ chế quản lý, quy trình thực hiện và hướng dẫn nghiệp vụ trước khi chương trình bước vào giai đoạn tổ chức thực hiện trên diện rộng.

Nhiều bài học kinh nghiệm đã được đúc rút, tạo nền tảng vững chắc cho việc thiết kế và tổ chức thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2030

Tăng cường vai trò lãnh đạo, điều hành và phối hợp giữa các cấp

Thực tiễn triển khai cho thấy, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, sự điều hành của chính quyền và sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả thực hiện Chương trình.

Do đó, thực hiện Chương trình cần được xác định là một trong những nhiệm vụ ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Cấp ủy, chính quyền các cấp cần chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế; đồng thời tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, bảo đảm các chính sách được triển khai thống nhất, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ.

Cùng với đó, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế phân công trách nhiệm, thu gọn đầu mối quản lý, tránh tình trạng một nội dung phải qua nhiều cấp, nhiều cơ quan xử lý. Các bộ, cơ quan trung ương cần tập trung vào việc xây dựng cơ chế, chính sách, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện mục tiêu chung; hạn chế can thiệp sâu vào những công việc thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của địa phương.

Thực tiễn giai đoạn I cũng cho thấy yêu cầu bảo đảm tính thống nhất về tổ chức bộ máy thực hiện Chương trình giữa các cấp, các địa phương. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực điều phối, theo dõi và tổng hợp tình hình thực hiện, nhất là tại các địa bàn có đông đồng bào DTTS sinh sống.

Phân cấp, trao quyền phải đi đôi với trách nhiệm

Một trong những bài học quan trọng nhất được rút ra là cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và trao quyền chủ động cho địa phương, nhất là cấp cơ sở.

Cơ chế quản lý tập trung, qua nhiều tầng nấc trong giai đoạn 2021-2025 ở một số nội dung đã ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc và khả năng phản ứng trước những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Trong khi đó, điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư, địa hình và nhu cầu đầu tư giữa các địa phương, thậm chí giữa các xã trong cùng một địa phương, có sự khác biệt đáng kể.

Vì vậy, việc phân cấp cần được thực hiện theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, trên cơ sở xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế kiểm tra, giám sát. Phân cấp phải gắn với năng lực thực hiện của đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương; đồng thời có lộ trình phù hợp, tránh tình trạng giao nhiệm vụ nhưng không đi kèm điều kiện thực hiện.

Thực tiễn một số địa phương giao UBND cấp xã làm chủ đầu tư các công trình xây dựng cho thấy, khi được trao quyền chủ động, chính quyền cơ sở có điều kiện bám sát nhu cầu thực tế, đồng thời tạo cơ hội để người dân và cộng đồng tham gia trực tiếp vào quá trình lựa chọn, thực hiện và giám sát công trình.

Cùng với phân cấp, cần tăng cường cơ chế lồng ghép nguồn lực giữa các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án khác. Việc lồng ghép phù hợp không chỉ góp phần tập trung nguồn lực mà còn hạn chế sự trùng lặp về đối tượng, nội dung hỗ trợ và công trình đầu tư.

Xác định đúng địa bàn, đối tượng để đầu tư có trọng tâm

Một bài học khác cần được quan tâm là phương pháp xác định địa bàn, phạm vi và đối tượng thụ hưởng chính sách.

Việc xác định đối tượng thụ hưởng ngay từ đầu giai đoạn trên cơ sở số liệu của những năm 2020-2021 trong bối cảnh kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi đã dẫn đến tình trạng một số tiêu chí không còn hoàn toàn phù hợp vào cuối giai đoạn. Đáng chú ý, khi tỷ lệ hộ nghèo giảm, phạm vi đối tượng thụ hưởng có xu hướng thu hẹp, khả năng hấp thụ nguồn vốn tại một số địa bàn cũng bị ảnh hưởng.

Từ thực tiễn này, việc xác định địa bàn và đối tượng cần được thực hiện trên cơ sở dữ liệu cập nhật, có khả năng điều chỉnh phù hợp với sự thay đổi của thực tế. Các tiêu chí cần vừa bảo đảm tính ổn định cần thiết cho việc triển khai chính sách, vừa có độ linh hoạt để phản ánh đúng sự thay đổi về điều kiện kinh tế - xã hội.

Đặc biệt, cần xác định rõ những nhóm đối tượng còn khó khăn, những địa bàn đặc biệt khó khăn và những vấn đề có tính chất căn bản, lâu dài để ưu tiên nguồn lực. Đây là cơ sở để khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, nâng cao khả năng hấp thụ vốn và hiệu quả sử dụng nguồn lực của Chương trình.

Nâng cao hiệu quả giám sát, đánh giá và ứng dụng công nghệ thông tin

Giám sát, đánh giá là khâu quan trọng bảo đảm Chương trình được triển khai đúng mục tiêu, đúng đối tượng và đạt hiệu quả thực chất. Kinh nghiệm giai đoạn I cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi và giám sát còn hạn chế; hệ thống thông tin phục vụ quản lý ngân sách, phân bổ và giải ngân chưa thật sự đồng bộ, gây khó khăn cho việc tổng hợp, theo dõi tiến độ và đánh giá kết quả thực hiện.

Do đó, cần đẩy mạnh xây dựng và vận hành các hệ thống thông tin quản lý thống nhất, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, các cấp và địa phương. Dữ liệu cần được cập nhật thường xuyên, bảo đảm tính chính xác, kịp thời, qua đó phục vụ hiệu quả hơn cho công tác điều hành, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả.

Bên cạnh giám sát của cơ quan quản lý nhà nước, cần phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân. Công khai, minh bạch và dân chủ phải được coi là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung hỗ trợ, xác định công trình đầu tư và tổ chức thực hiện.

Việc tôn trọng và phát huy ý kiến của người dân không chỉ góp phần bảo đảm quyền tham gia của cộng đồng mà còn giúp các dự án, tiểu dự án và nội dung hỗ trợ phù hợp hơn với nhu cầu thực tế. Đồng thời, thông qua cơ chế giám sát tại cộng đồng, những khó khăn, bất cập và sai phạm có thể được phát hiện, phản ánh và xử lý kịp thời.

Phát huy nội lực, hạn chế tư tưởng trông chờ, ỷ lại

Một kinh nghiệm có ý nghĩa lâu dài là phải kết hợp hiệu quả giữa hỗ trợ của Nhà nước với phát huy nội lực của người dân và cộng đồng.

Trong quá trình triển khai Chương trình, công tác tuyên truyền, vận động cần được chú trọng nhằm nâng cao nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, tạo động lực để đồng bào chủ động tham gia phát triển kinh tế, cải thiện đời sống. Hỗ trợ của Nhà nước cần hướng tới tạo cơ hội, nâng cao năng lực và điều kiện phát triển bền vững, thay vì tạo tâm lý trông chờ, ỷ lại.

Người dân cần được tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện và giám sát. Khi cộng đồng thực sự tham gia vào Chương trình, các nguồn lực đầu tư sẽ có khả năng gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu thực tế và tạo ra hiệu quả bền vững hơn.

Những kinh nghiệm được tổng kết từ giai đoạn vừa qua là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện thiết kế và phương thức tổ chức thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2026-2030. Trọng tâm là chuyển từ cách tiếp cận nhiều dự án, nhiều nội dung thành phần sang hướng tập trung nguồn lực, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm; đồng thời tăng cường phân cấp, trao quyền và trách nhiệm cho địa phương, phát huy vai trò của cơ sở và cộng đồng.

Những bài học kinh nghiệm của giai đoạn 2021-2025 vì vậy có giá trị không chỉ đối với việc hoàn thiện một chương trình mục tiêu quốc gia mà còn gợi mở yêu cầu chung trong xây dựng và thực thi chính sách phát triển vùng DTTS&MN: chính sách phải xuất phát từ thực tiễn; nguồn lực phải được tập trung đúng đối tượng; thẩm quyền phải đi đôi với trách nhiệm; người dân phải là chủ thể tham gia; và mọi cơ chế hỗ trợ cần hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao năng lực tự phát triển, bảo đảm sinh kế bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng DTTS&MN với các khu vực khác.

Văn Anh

Bài viết cùng tác giả