Từ khóa: Công chức cấp xã; chính quyền địa phương 02 cấp; chuyển đổi số; khoảng cách kỹ năng số; năng lực số; tỉnh Phú Thọ.
Abstract: The restructuring of Vietnam’s two-tier local government system under Resolution No. 203/2025/QH15 has streamlined the state administrative apparatus while simultaneously increasing the workload and demands placed on commune-level authorities. This study assesses the digital competence of commune-level civil servants and identifies existing digital skills gaps in the context of national digital transformation. Using a mixed-methods approach, quantitative data were collected through a survey of 108 civil servants in Phu Tho Province in August 2026 and analyzed using SPSS 22.0, complemented by a qualitative analysis of relevant policy documents. Based on the findings, the study recommends that the Ministry of Home Affairs develop a position-based Digital Competency Framework, incorporate digital competency indicators (digital KPIs) into civil servant performance evaluation, reform training toward a more practice-oriented approach, and introduce policies to attract and retain highly qualified information technology professionals at the commune level.
Keywords: Commune-level civil servants; two-tier local government; digital transformation; digital skills gap; digital competence; Phu Tho Province.
![]()
1. Đặt vấn đề
Với tinh thần đổi mới, cải cách tổ chức bộ máy chính chính quyền địa phương bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, ngày 16/6/2025 Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 110 của Hiến pháp 2013 để xác định chính quyền địa phương được tổ chức thành 02 cấp, gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã và kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong cấu trúc tổ chức chính quyền địa phương.
Kết quả đánh giá một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp tháng 6/2026 cho thấy, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp làm rút ngắn khoảng cách chỉ đạo, nhưng cũng dồn áp lực thực thi xuống cấp xã. Theo đó, cấp xã tập trung giải quyết rất nhiều công việc trực tiếp gắn với người dân, doanh nghiệp, địa bàn, đời sống hàng ngày, an sinh xã hội, trật tự cơ sở, thủ tục thiết yếu và các yêu cầu cấp bách từ thực tiễn. Tuy nhiên, với sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các địa phương, nhất là tại các khu vực miền núi, biên giới, hải đảo; sự thiếu đồng bộ về cơ sở vật chất, hạ tầng số và đặc biệt là những thách thức lớn giữa yêu cầu của Chính phủ số với năng lực thực tế của công chức cấp xã cần được tập trung giải quyết trong giai đoạn tới nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương 02 cấp phát huy đầy đủ hiệu lực, hiệu quả quản lý, quản trị trên thực tế. Hiện nay, cán bộ, công chức cấp xã còn tâm lý ngại thay đổi, thói quen làm việc trên giấy tờ, sợ sai sót khi thao tác trên hệ thống số nên thường đổ lỗi cho khách quan như: thiếu máy tính, mạng yếu, phần mềm lỗi, thiếu tài liệu hướng dẫn, lớn tuổi... Sự thiếu hụt năng lực của đội ngũ công chức cấp xã dẫn đến làm việc đối phó (như trì hoãn hồ sơ, yêu cầu nộp thêm bản giấy, hoặc đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên) làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu vào năng lực số, chưa làm rõ cách thức mà cấu trúc thể chế của mô hình 02 cấp tác động và làm tăng khoảng cách về kỹ năng số của đội ngũ công chức cấp xã. Do đó, các nghiên cứu hiện nay cần chỉ ra được mức độ về nhận thức, kỹ năng thao tác và khả năng giải quyết vấn đề trên môi trường số của đội ngũ công chức cấp xã (theo độ tuổi, địa bàn đô thị/nông thôn, vị trí công tác) hiện nay ra sao là cần thiết và thiết thực đối với việc quản trị chính quyền địa phương hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần yêu cầu và nhấn mạnh.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Khái niệm về năng lực số
Báo cáo “Developing Skills for Digital Government” - Phát triển kỹ năng cho Chính phủ số của OECD năm 2024, nhấn mạnh việc xác định khoảng cách giữa năng lực hiện có của công chức và năng lực cần thiết để thực thi công vụ hiệu quả trong môi trường số, từ đó làm cơ sở cho các hoạt động phát triển công chức như đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng công chức là cách tiếp cận phát triển công chức trong bối cảnh Chính phủ số từ góc độ phát triển năng lực và quản trị nhân sự dựa trên dữ liệu. Theo đó, OECD đề xuất nhiều phương pháp hỗ trợ phát triển công chức như phân tích công việc, khảo sát năng lực, sử dụng khung kỹ năng số và khai thác dữ liệu hành vi công vụ phát sinh trong quá trình làm việc trên môi trường số. Cách tiếp cận này cho thấy xu hướng chuyển từ quản lý công chức theo tiêu chí hành chính, thâm niên sang phát triển công chức dựa trên năng lực thực chất và khả năng thích ứng với công nghệ.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong đó một trong những nhiệm vụ quan trọng được giao cho các bộ, ngành và địa phương là xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số và công nghệ số phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Đồng thời, Chính phủ cũng yêu cầu xây dựng nền tảng đào tạo trực tuyến mở nhằm phổ cập kiến thức về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức và người dân.
Đối với đội ngũ công chức, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn hiện nay không chỉ xuất phát từ sự thay đổi của hệ thống pháp luật hay quy trình quản lý nhà nước mà còn xuất phát từ sự thay đổi căn bản trong môi trường thực thi công vụ. Quá trình số hóa thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, triển khai các nền tảng số dùng chung và phát triển Chính phủ số đang làm thay đổi phương thức làm việc của công chức. Trong môi trường đó, công chức phải có khả năng làm việc với dữ liệu, sử dụng các hệ thống thông tin, phối hợp trên môi trường số và khai thác công nghệ để hỗ trợ ra quyết định. Vì vậy, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ngày càng được định hướng theo yêu cầu phát triển năng lực thực thi công vụ trong môi trường số thay vì chỉ tập trung vào kiến thức quản lý nhà nước theo cách tiếp cận truyền thống.
Xu hướng này cũng được phản ánh trong các khung năng lực số đang được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế sử dụng làm cơ sở xây dựng chương trình đào tạo. Khung DigComp 2.1 của Liên minh châu Âu xác định 05 nhóm năng lực số cốt lõi gồm: Thông tin và dữ liệu; Truyền thông và cộng tác; Tạo lập nội dung số; Bảo vệ và An toàn; Môi trường kỹ thuật số. Tới Khung DigComp 2.2 tiếp tục phát triển cách tiếp cận này theo hướng nhấn mạnh khả năng khai thác dữ liệu, đánh giá thông tin, cộng tác trong môi trường số, tạo lập nội dung số và giải quyết vấn đề bằng công nghệ số. Đây cũng là những nhóm năng lực ngày càng trở nên cần thiết đối với công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên môi trường số.
2.2. Đội ngũ công chức cấp xã
Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức năm 2025, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp xã. Công chức cấp xã là những người tiếp xúc trực tiếp với người dân. Trước yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và quản trị chính quyền hiện đại đòi hỏi sự kết nối trực tiếp bằng dữ liệu giữa cấp tỉnh và cấp xã để bảo đảm mọi giao dịch, thủ tục và dòng chảy công việc đều được vận hành trên môi trường số để không còn khoảng cách địa lý giữa cấp tỉnh và cấp xã.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu định lượng
Thời điểm tháng 8/2026, nhóm nghiên cứu đã trực tiếp khảo sát bằng Bảng hỏi đối với 108 công chức lĩnh vực Nội vụ cấp xã của tỉnh Phú Thọ (có 51 người, chiếm 47,2%) và các vị trí có liên quan (có 57 người, chiếm 52,8%) hiện đang công tác tại địa bàn nông thôn có 57 người, chiếm 52,8%; đô thị có 30 người, chiếm 27,8%; trung du và miền núi có 21 người, chiếm 19,4%. Trong đó, nam có 36 người (33,3%), nữ có 72 người (66,7%), cụ thể như sau:
- Về độ tuổi, dưới 30 tuổi có 05 người (4,6%); từ 30 đến dưới 40 tuổi có 48 người (44,4%); từ 40 đến 45 tuổi có 41 người (38,0%) và trên 45 tuổi có 14 người (13,0%).
- Về trình độ chuyên môn nghiệm vụ, trình độ đại học có 93 người (86,1%), trình độ thạc sĩ 14 người (13,0%) và chỉ có 01 người ở trình độ cao đẳng (0,9%).
- Về phương pháp xử lý kết quả điều tra: số liệu khảo sát được mã hóa và xử lý bằng IBM SPSS Statistics 22.0, sử dụng các thống kê mô tả gồm tần suất, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất.
Khoảng cách kỹ năng số được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa hai nhóm chỉ tiêu (yêu cầu của công việc và khả năng đáp ứng của công chức). Theo đó, khoảng cách kỹ năng số được đo bằng “Mức độ kỹ năng số công việc yêu cầu” trừ đi “Mức độ năng lực số hiện có của công chức”.
Kết quả cho giá trị dương phản ánh yêu cầu của công việc cao hơn năng lực thực tế của công chức; giá trị bằng 0 phản ánh mức độ đáp ứng tương đương yêu cầu; giá trị âm phản ánh năng lực tự đánh giá của công chức cao hơn yêu cầu công việc hiện tại.
3.2. Nghiên cứu định tính
Ngoài phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích các tài liệu liên quan đến đội ngũ công chức cấp xã trước khi thực hiện và sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Việc so sánh được thực hiện trên các tiêu chí gồm: yêu cầu thực hiện hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương và khả năng đáp ứng của công chức.
Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp diễn giải để làm rõ nội dung của các quy định mới, yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ công chức cấp xã khi kết thúc hoạt động của cấp huyện đã có một khối lượng lớn hồ sơ, nhiệm vụ chuyên môn sâu từ cấp huyện chuyển về cấp xã, song lại thiếu hụt công chức có chuyên sâu theo từng lĩnh vực để xử lý… làm gia tăng áp lực công việc ở cấp cơ sở và nhận diện được bất cập về năng lực số của đội ngũ công chức. Thông qua đó, khuyến nghị và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực số cho công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số.
4. Kết quả và thảo luận
4.1. Kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, về yêu cầu kỹ năng số của công việc đặt ra đối với công chức cấp xã. Điểm trung bình của các nhiệm vụ khảo sát dao động từ 3,64 đến 3,90 theo thang đo lường 5 mức cho thấy yêu cầu công việc đặt ra là khá cao. Trong đó, cao nhất thuộc nhiệm vụ soạn thảo, quản lý, ký số, phát hành và theo dõi văn bản điện tử là 3,90 điểm; tiếp đến là công việc tổng hợp, đối chiếu và báo cáo số liệu viên chức, người làm việc theo hợp đồng hưởng lương từ ngân sách nhà nước là 3,85 điểm và xử lý công việc trong công tác cải cách hành chính dựa trên dữ liệu là 3,84 điểm.
Thứ hai, về mức độ năng lực số hiện có. Điểm trung bình năng lực thực tế của công chức dao động từ 3,36 đến 3,58 cho thấy nhìn chung thấp hơn mức yêu cầu của công việc. Mức đáp ứng cao nhất đạt 3,58 điểm ở nhiệm vụ sử dụng hệ thống số phục vụ cải cách hành chính; trong khi một số nhiệm vụ chỉ đạt khoảng 3,36 - 3,40 điểm, tập trung ở quản lý dữ liệu người có công, xử lý phản ánh của người dân, phân tích dữ liệu lao động - việc làm và ứng dụng công nghệ số, công cụ phân tích dữ liệu hoặc AI.
Thứ ba, về khoảng cách kỹ năng số. Kết quả cho thấy khoảng cách trung bình giữa yêu cầu công việc và năng lực thực tế ở các nhiệm vụ khảo sát đều mang giá trị dương, dao động từ khoảng 0,21 đến 0,41 điểm. Khoảng cách lớn nhất được ghi nhận ở nhiệm vụ cập nhật, khai thác và phân tích dữ liệu về lao động, việc làm, thất nghiệp và nhu cầu tuyển dụng (0,411 điểm); quản lý, cập nhật, tra cứu và đối chiếu dữ liệu người có công (0,404 điểm); lập, thẩm định, tổng hợp và cập nhật đề án vị trí việc làm, biên chế, ngạch công chức (0,400 điểm); tiếp nhận, xử lý và theo dõi hồ sơ điện tử lĩnh vực việc làm (0,396 điểm); tra cứu, đối chiếu, xác minh dữ liệu bảo hiểm xã hội (0,367 điểm) và ứng dụng công nghệ số, công cụ phân tích dữ liệu hoặc AI (0,365 điểm).
Thứ tư, về các yếu tố liên quan đến thực hiện công việc trên môi trường số. Kết quả khảo sát ghi nhận những khó khăn liên quan đến phần mềm, áp lực công việc và hỗ trợ kỹ thuật. Trong đó, có 77,5% người trả lời cho rằng việc phải nhập lại hoặc đối chiếu dữ liệu giữa nhiều hệ thống làm tăng khối lượng công việc; 67,6% cho rằng lỗi hệ thống hoặc đường truyền làm phát sinh thời gian chờ đợi, làm lại hoặc làm ngoài giờ; 68,5% có tâm lý lo lắng, căng thẳng do nguy cơ thao tác sai hoặc không hoàn thành công việc đúng hạn. Bên cạnh đó, 32,4% công chức chưa được tập huấn kỹ năng số hoặc phần mềm nghiệp vụ lần nào trong 12 tháng gần nhất, trong khi 90,7% công việc yêu cầu trực tiếp xử lý trên hệ thống số hàng ngày. Các số liệu cho thấy yêu cầu sử dụng hệ thống số diễn ra thường xuyên, trong khi điều kiện hỗ trợ về tập huấn và vận hành hệ thống vẫn còn những vấn đề cần được quan tâm.
4.2. Thảo luận
- Kết quả điều tra là minh chứng cho sự tồn tại và mức độ của khoảng cách kỹ năng số giữa yêu cầu công việc và năng lực đáp ứng thực tế của công chức cấp xã. Yêu cầu kỹ năng số đối với các nhiệm vụ khảo sát dao động từ 3,64 - 3,90 điểm, trong khi năng lực thực tế dao động từ 3,36 - 3,58 điểm.
Khoảng cách giữa hai nhóm chỉ tiêu dao động từ 0,21 - 0,41 điểm và không đồng đều giữa các nhiệm vụ. Khoảng cách lớn hơn tập trung ở một số nhiệm vụ liên quan đến khai thác, phân tích và xử lý dữ liệu, hồ sơ điện tử và ứng dụng công nghệ số. Kết quả này là cơ sở thực nghiệm để xác định những nội dung cần ưu tiên về đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và hoàn thiện điều kiện thực hiện công vụ trên môi trường số.
- Thực tế đã có một khối lượng lớn hồ sơ, nhiệm vụ chuyên môn sâu từ cấp huyện chuyển về cấp xã, song lại thiếu hụt công chức có chuyên sâu theo từng lĩnh vực để xử lý. Trong khi đó, năng lực tổ chức thực thi của đội ngũ công chức ở cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu nên vừa làm vừa tìm hiểu, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc.
- Chưa có khung năng lực số gắn với vị trí việc làm và đánh giá xếp loại công chức cấp xã nên chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho công chức cấp xã còn mang tính lý thuyết, chưa sát với chuyên môn và đặc thù công việc của từng vị trí việc làm của công chức cấp xã trong các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
- Nhận thức về chuyển đổi số, năng lực quản trị dữ liệu, kỹ năng số của đội ngũ công chức cấp xã còn hạn chế (chủ yếu dừng ở mức thao tác cơ bản, thiếu kỹ năng phân tích dữ liệu, xử lý sự cố công nghệ và bảo mật thông tin). Tình trạng vừa làm trên phần mềm, vừa lưu hồ sơ giấy gây lãng phí và tạo thêm áp lực cho công chức.
- Quản trị và phát triển dựa trên dữ liệu còn chiếm tỷ lệ rất thấp, mới chỉ đạt dưới 5% so với chỉ tiêu 30% mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đề ra.
5. Khuyến nghị và kết luận
5.1. Khuyến nghị
Trên cơ sở nghiên cứu, đề nghị Bộ Nội vụ sớm xây dựng và ban hành khung năng lực số gắn với vị trí việc làm của từng chức danh công chức cấp xã; đưa chỉ số năng lực số và hiệu quả xử lý công việc trên môi trường số vào tiêu chí đánh giá, xếp loại công chức cấp xã hàng năm (KPIs số); đổi mới công tác đào tạo kỹ năng số cho công chức các xã theo hướng chuyển từ đào tạo tập trung lý thuyết sang bồi dưỡng thực hành dựa trên tình huống thực tế; đồng thời áp dụng mô hình học tập linh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
Thực tiễn cho thấy, sau một năm vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, nhiều địa phương đã chủ động đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và phát huy vai trò của cộng đồng trong giải quyết công việc, qua đó hình thành nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, thiết thực, có khả năng nhân rộng trên phạm vi cả nước như:
- Đổi mới phương thức quản trị, tăng cường chỉ đạo trực tiếp đến cơ sở, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Tiêu biểu như mô hình giao ban “04 trục” Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mô hình “Chi bộ số”, “Đảng bộ số”, các tổ công tác xử lý việc khó, việc mới của thành phố Hà Nội.
- Đổi mới phương thức phục vụ người dân, doanh nghiệp, đưa dịch vụ công đến gần người dân hơn. Nhiều địa phương triển khai các mô hình hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở như mô hình “tổ lưu động” giải quyết thủ tục hành chính của thành phố Đồng Nai; mô hình “Ngày thứ bảy vì dân”, “Chính quyền lưu động vì Nhân dân phục vụ”, “Ngày thứ 7: Chính quyền tận tâm - Người dân thuận tiện” tại một số địa phương.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, điều hành, hỗ trợ cán bộ và người dân tiếp cận dịch vụ công thuận lợi hơn. Nổi bật là hệ thống Trợ lý ảo AI và phong trào “Bình dân AI học vụ” của tỉnh Gia Lai; trợ lý số DaNang AI, hệ thống điều hành thông minh và Cổng dữ liệu mở của thành phố Đà Nẵng; mô hình “Trạm công dân số” tại Thành phố Hồ Chí Minh; ứng dụng Điện Biên Smart và trợ lý ảo hỗ trợ người dân 24/7 của tỉnh Điện Biên.
- Phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng và phong trào phổ cập kỹ năng số, góp phần nâng cao năng lực tiếp cận dịch vụ số của người dân. Nhiều địa phương đã xây dựng, nhân rộng các mô hình “Làng số”, “Gia đình số”, “Đại sứ số”, “Chợ số - Nông thôn số”, thành lập hàng nghìn tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số.
- Tăng cường tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị đa kênh, nâng cao tính công khai, minh bạch và mức độ tương tác giữa chính quyền với người dân thông qua các nền tảng số như iHanoi, các ứng dụng hành chính công, chatbot và tổng đài hỗ trợ trực tuyến.
- Thiết kế hệ thống thông tin của chính quyền để giải quyết thủ tục hành chính ở cấp xã thuận tiện, thân thiện với người dùng để giảm rào cản kỹ thuật cho nhóm công chức, công dân lớn tuổi.
Mặt khác, cần nghiên cứu xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách thu hút, tuyển dụng người có năng lực chuyên môn sâu và kỹ năng số về công tác lâu dài ở cấp xã. Đội ngũ này sẽ là lực lượng nòng cốt trong thực hiện chuyển đổi số của chính quyền địa phương; đồng thời là hạt nhân của “Tổ công nghệ số cộng đồng” tại các thôn, tổ dân phố.
5.2. Kết luận
Việc đánh giá đúng thực chất sự thiếu hụt về năng lực số làm rõ yếu tố này có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả thực thi nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ công chức cấp xã, từ đó khuyến nghị với cấp có thẩm quyền xây dựng và ban hành khung năng lực số gắn với vị trí việc làm của từng chức danh công chức cấp xã; đưa chỉ số năng lực số và hiệu quả xử lý công việc trên môi trường số vào tiêu chí đánh giá, xếp loại công chức cấp xã hàng năm; đổi mới công tác đào tạo kỹ năng số cho công chức cấp xã theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương trong quá trình tái cấu trúc chính quyền địa phương 02 cấp ở Việt Nam là cần thiết và thiết thực nhằm nâng cao năng lực quản trị của chính quyền địa phương trong kỷ nguyên số./.
----------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
(1) Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2017.
(2) Ban Chấp hành Trung ương, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021.
(3) Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 01/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2022.
(4) Ban Chấp hành Trung ương, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026.
(5) Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(6) Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
(7) Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Luật số 77/2015/QH13).
(8) Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Luật số 47/2019/QH14).
(9) Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
(10) Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025.
(11) Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
(12) Chính phủ, Nghị định số 263/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nhân lực, nhân tài và giải thưởng.
(13) Chính phủ, Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
(14) Chính phủ, Nghị định số 267/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
(15) Chính phủ, Quy định về phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ (28 Nghị định công bố trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2025).
(16) Chính phủ, Báo cáo số 345-BC/ĐU ngày 09/6/2026 sơ kết 01 năm hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phương 02 cấp.
(17) Bộ Nội vụ, Báo cáo tổng kết công tác giai đoạn 2016 - 2020 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2021 ngành Nội vụ.
(18) Bộ Nội vụ, Báo cáo tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 ngành Nội vụ.
(19) Bộ Khoa học và Công nghệ, Báo cáo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam, 2020.
TS Vũ Đăng Minh - Viện Quản trị và Công nghệ, Trường Đại học Thành Đô, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả