Từ khóa: Đấu tranh phản bác; kinh tế nhà nước; kinh tế thị trường; vai trò chủ đạo.
Abstract: In Vietnam’s socialist-oriented market economy, the state sector plays a leading role and serves as a key material instrument for regulating and steering economic development. Drawing on the breakthrough orientations set out in the Resolution of the 14th National Congress of the Party and Resolution No. 79-NQ/TW, this article affirms the pivotal role of the state sector in developing strategic infrastructure and ensuring energy security and national defense. Based on an analysis of theoretical foundations and practical evidence, the article focuses on refuting distorted claims that the state sector constrains market mechanisms, while proposing a set of solutions to optimize national resources, safeguard strategic autonomy, and promote sustainable economic growth in the new era.
Keywords: Countering distorted narratives; state sector; market economy; leading role.
![]()
Kinh tế thị trường là mô hình được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu nhờ ưu điểm thúc đẩy cạnh tranh, khuyến khích sáng tạo và tối ưu hóa phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, mức độ can thiệp của Nhà nước trong mô hình này luôn là chủ đề gây tranh luận. Tại Việt Nam, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quy luật khách quan và đặc trưng chính trị, nơi kinh tế nhà nước giữ vị thế nòng cốt, là công cụ vật chất trọng yếu để quản trị vĩ mô. Lợi dụng bối cảnh địa chính trị phức tạp khi đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình theo tinh thần Đại hội XIV, các thế lực thù địch đang quyết liệt công kích khu vực kinh tế nhà nước. Bằng tư duy siêu hình, họ xuyên tạc và quy kết kinh tế nhà nước là rào cản cản trở tự do thị trường, gây bất bình đẳng nguồn lực và làm chậm tốc độ phát triển.
Về bản chất, đây là mưu đồ thâm độc nhằm triệt hạ tiềm lực cốt lõi của quốc gia, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Do đó, đấu tranh phản bác những luận điệu này là trách nhiệm cấp thiết, qua đó làm sáng tỏ luận điểm cốt lõi: Kinh tế nhà nước hoàn toàn không phải là rào cản, mà chính là yếu tố thiết yếu để bảo vệ, ổn định và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã đánh dấu bước đột phá chiến lược: chuyển từ tư duy chấn chỉnh doanh nghiệp nhà nước mang tính cục bộ sang việc phát huy sức mạnh tổng thể của kinh tế nhà nước với sứ mệnh tiên phong, kiến tạo và dẫn dắt. Việc kiên định và hiện đại hóa mô hình này chính là cơ sở nền tảng để bảo đảm độc lập, tự chủ và chủ quyền kinh tế dân tộc trong tình hình mới.
1. Nhận diện quan điểm sai trái về kinh tế nhà nước
Trong chiến lược tác động vào hệ tư tưởng, các thế lực thù địch luôn xác định lĩnh vực kinh tế là địa bàn trọng điểm để thực hiện mưu đồ chuyển hóa chế độ. Việc công kích kinh tế nhà nước không đơn thuần là sự tranh luận học thuật hay mô hình quản lý, mà thực chất là thủ đoạn chính trị nhằm triệt hạ nền tảng vật chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thủ đoạn phổ biến nhất của các phần tử cơ hội là xuyên tạc rằng kinh tế nhà nước cản trở tự do thị trường, duy trì cơ chế đặc quyền, gây bất bình đẳng và chèn ép khu vực tư nhân. Họ viện cớ vào các quy định quản lý, thuế và sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước để lập luận rằng tự do kinh doanh đang bị thu hẹp. Theo góc nhìn siêu hình này, sự lớn mạnh của kinh tế nhà nước chính là rào cản đối với sự thịnh vượng chung.
Những lập luận trên đã cố tình lờ đi quy luật vận hành khách quan của nền kinh tế hiện đại và đặc thù của tiến trình phát triển tại Việt Nam. Thực tiễn lịch sử kinh tế thế giới đã chứng minh, tự do thị trường không đồng nghĩa với việc triệt tiêu sự can thiệp của nhà nước. Bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 cho thấy, ngay cả các cường quốc tư bản như Mỹ hay châu Âu cũng buộc phải sử dụng nguồn ngân sách khổng lồ của nhà nước để giải cứu các tập đoàn tài chính, ngăn chặn sự sụp đổ dây chuyền của toàn hệ thống. Về mặt bản chất, kinh tế nhà nước không được thiết lập để cạnh tranh thị phần hay tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần ở những ngành nghề mà khu vực tư nhân đang vận hành hiệu quả. Khu vực này đảm nhận vai trò chủ thể tạo lập các điều kiện tiền đề và hệ thống hạ tầng kỹ thuật then chốt cho toàn bộ nền kinh tế. Sự hiện diện của kinh tế nhà nước tập trung chủ yếu vào các ngành hạ tầng kỹ thuật trọng yếu như năng lượng, giao thông trục chính, viễn thông và công nghiệp quốc phòng.
Thực tiễn đã chứng minh tính đúng đắn của định hướng này qua những con số biết nói: Khu vực kinh tế nhà nước luôn gánh vác hơn 1/4 tổng vốn đầu tư toàn xã hội; cụ thể năm 2022 đạt 25,8%, năm 2023 tăng lên 28,2% và sơ bộ năm 2024 đạt 27,6%(1). Nguồn vốn khổng lồ này được tập trung vào các siêu dự án quốc gia như mạng lưới đường bộ cao tốc Bắc - Nam và hệ thống cảng biển quốc tế. Đây là những lĩnh vực có suất đầu tư cực lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài - những yếu tố mà khu vực tư nhân, vốn chịu áp lực về thanh khoản và lợi nhuận ngắn hạn, thường không đủ nguồn lực hoặc không có động lực để dấn thân. Chính từ sự phân vai mang tính chiến lược này, Văn kiện Đại hội XIV đã xác lập một lập trường thống nhất: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt”(2).
Kinh tế nhà nước không gây bất bình đẳng mà là lực lượng tạo lập môi trường phát triển thông qua việc đầu tư vào các công đoạn rủi ro nhất của chuỗi giá trị quốc gia. Việc hoàn thiện hệ thống hạ tầng trọng yếu - với hơn 3.000 km cao tốc và phủ sóng viễn thông 99,8% dân cư tính đến năm 2025 - đã trực tiếp tiết giảm chi phí logistic và rủi ro cho toàn nền kinh tế. Sự lớn mạnh của khu vực này cung cấp nền tảng vật chất đồng bộ để tư nhân tối ưu hóa năng suất và năng lực sáng tạo, bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc về sự chiếm dụng không gian phát triển. Đây chính là những minh chứng không ai có thể chối cãi để đập tan luận điệu nham hiểm và làm rõ hơn bản chất nguy hiểm của mưu đồ đòi xóa bỏ kinh tế nhà nước. Nếu rơi vào bẫy tư nhân hóa cực đoan, nền kinh tế sẽ lập tức mất đi công cụ bảo vệ vĩ mô và khả năng phòng ngừa khủng hoảng. Hệ lụy tất yếu là quốc gia đánh mất quyền điều tiết chiến lược, dễ bị các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia thao túng, đe dọa trực tiếp đến độc lập, tự chủ và an ninh kinh tế.
Song song với việc nhận diện luận điệu về sự bất bình đẳng, cần tập trung nhận diện và bác bỏ các thủ đoạn thổi phồng sự kém hiệu quả nhằm hạ thấp uy tín của khu vực kinh tế công. Khi không thể phủ nhận được vai trò tạo lập môi trường phát triển của kinh tế nhà nước, các thế lực thù địch lại chuyển hướng tấn công vào khía cạnh vận hành thực tế. Họ triệt để lợi dụng những hạn chế cục bộ hoặc sai phạm trong quản lý tại một số đơn vị công để thực hiện phương pháp khái quát hóa sai lệch, nhằm bẻ lái dư luận sang luận điệu về sự kém hiệu quả và tình trạng lãng phí nguồn lực quốc gia. Tuy nhiên, đây là cách tiếp cận phiến diện, cố tình lấy hiện tượng để phủ nhận bản chất và lờ đi những đóng góp rất lớn của khu vực này vào nền kinh tế.
Công bằng nhìn nhận, sự hoạt động kém hiệu quả tại một số doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn trước là có thật và được Đảng ta thẳng thắn phê phán khi đánh giá thực tiễn 40 năm đổi mới: “kinh tế nhà nước ở một số lĩnh vực hiệu quả thấp”(3). Văn kiện cũng chỉ rõ khuyết điểm trong khâu quản trị nguồn lực chủ yếu xuất phát từ tình trạng một bộ phận cán bộ thiếu tu dưỡng đạo đức, lợi dụng những kẽ hở của chính sách và pháp luật để trục lợi cá nhân, cố ý làm trái dẫn đến thất thoát nghiêm trọng tài sản quốc gia. Cần khẳng định, những sai phạm này bắt nguồn từ lỗ hổng trong hệ thống quản trị tại từng đơn vị cụ thể, chứ không phải lỗi hệ thống của mô hình kinh tế nhà nước.
Thực tiễn giai đoạn 2024 - 2025 đã cho thấy kết quả thực chứng đối lập hoàn toàn với luận điệu về sự thâm hụt giá trị nguồn lực. Riêng khối doanh nghiệp nhà nước tiếp tục khẳng định vị thế trụ cột, duy trì đóng góp tỷ trọng lớn đạt 21% GDP (năm 2022, 2023) và 20% GDP (năm 2025)(4). Nguồn thu ngân sách từ hệ thống này vẫn giữ vững nhịp độ. Các tập đoàn lớn như Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông quân đội và Tập đoàn Điện lực Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh chiến lược mà còn đóng góp hàng trăm nghìn tỷ đồng vào ngân sách, tạo nguồn lực tài chính để thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Nếu chỉ dùng chỉ số lợi nhuận tài chính đơn thuần để đánh giá hiệu quả của kinh tế nhà nước là một sai lầm về phương pháp luận. Hiệu quả thực chất phải được đo lường bằng giá trị tổng thể quốc gia. Khi doanh nghiệp nhà nước chấp nhận thực hiện điều chỉnh mục tiêu lợi nhuận để bình ổn giá xăng dầu, điện năng hay cung cấp dịch vụ viễn thông đến các vùng biên giới, hải đảo, thì đó chính là hiệu quả xã hội cao nhất. Nếu không có vai trò bảo trợ vĩ mô này, áp lực từ chi phí đẩy của thị trường sẽ gây ra tình trạng lạm phát hệ thống và thiệt hại kinh tế cho toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp tư nhân cùng người dân với quy mô lớn hơn gấp nhiều lần.
Để triệt tiêu tận gốc các tác nhân gây lãng phí, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã xác lập lộ trình quản trị mới: “Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng công nghệ tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế”(5). Như vậy, những hạn chế về mặt quản trị thực chất đang được quyết liệt chấn chỉnh, không phải là căn cứ để phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Sự hồi sinh của các dự án trọng điểm và đóng góp ngân sách ổn định chính là minh chứng đanh thép nhất bác bỏ các luận điệu cho rằng khu vực này là lực lượng kém hiệu quả hay gây lãng phí nguồn lực quốc gia.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn khẳng định vai trò của kinh tế nhà nước
Luận điệu cho rằng kinh tế nhà nước kìm hãm thị trường thực chất xuất phát từ cái nhìn tách rời, đối lập khiên cưỡng. Thực tế, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam không phải phép cộng cơ học mà là một chỉnh thể thống nhất. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò điều tiết và kiến tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống.
Thứ nhất, kinh tế nhà nước thiết lập nền tảng hạ tầng chiến lược cho kỷ nguyên mới.
Sự cần thiết của kinh tế nhà nước bắt nguồn từ yêu cầu khách quan nhằm khắc phục những hạn chế nội tại của cơ chế thị trường. Thị trường tự thân không thể điều tiết tối ưu đối với các lĩnh vực cung cấp phúc lợi công cộng thiết yếu hoặc các dự án hạ tầng kỹ thuật mang tính rủi ro hệ thống. Do đó, sự hiện diện của kinh tế nhà nước tại các ngành nền tảng hoàn toàn không mang mục đích cạnh tranh lợi ích thương mại, mà thể hiện trách nhiệm kiến thiết quốc gia. Khu vực này đảm nhận vai trò lực lượng tiên phong, kiến tạo các tiền đề vật chất đồng bộ nhằm dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thực tiễn được minh chứng sinh động qua các công trình hạ tầng mang tầm vóc quốc gia: tính đến đầu năm 2026, khu vực kinh tế nhà nước đã chủ trì xây dựng hệ thống cảng biển quốc tế có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải trên 200.000 tấn và triển khai siêu dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành - những hạng mục đòi hỏi nguồn lực vật chất vượt xa khả năng huy động của từng cá thể doanh nghiệp đơn lẻ. Làm rõ tư duy chiến lược này, Văn kiện Đại hội XIV đã định hướng tập trung phát triển các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả và đủ năng lực cạnh tranh quốc tế. Lực lượng này được giao trọng trách làm trụ cột, tiên phong đột phá vào các lĩnh vực huyết mạch như kết cấu hạ tầng, năng lượng, viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng và các ngành công nghiệp nền tảng.
Sự phối hợp giữa vai trò lực lượng nòng cốt và chủ thể định hướng cho thấy kinh tế nhà nước giữ chức năng khai phá. Khi Nhà nước thực hiện các khoản đầu tư mang tính dẫn dắt vào hệ thống hạ tầng kỹ thuật trọng yếu, chính là lúc Nhà nước đang giảm thiểu rủi ro đầu vào cho toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp. Điều này thể hiện rõ qua việc tổng vốn đầu tư của các tập đoàn nhà nước giai đoạn 2021-2025 không chỉ tập trung vào hạ tầng vật lý mà còn ưu tiên hạ tầng dữ liệu và trung tâm điện toán đám mây quy mô lớn, tạo nền tảng cho kinh tế số chiếm 25-30% GDP quốc gia. Cụ thể hóa lộ trình này, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã nhấn mạnh yêu cầu: “Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới”(6).
Việc xác định kinh tế nhà nước tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm phản ánh một bản chất kinh tế sâu sắc: Nhà nước thực hiện chức năng tại những phạm vi mà cơ chế thị trường chưa thể tiếp cận hoặc chưa bảo đảm được sự ổn định vận hành. Kinh tế nhà nước chính là lực lượng tạo lập môi trường phát triển, thiết lập nền tảng để khu vực tư nhân có thể đầu tư vào các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao. Nếu thiếu đi vai trò kiến tạo nền tảng này, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng manh mún, thiếu liên kết và mất đi khả năng tự chủ trước sự chi phối của các tập đoàn xuyên quốc gia.
Thứ hai, kinh tế nhà nước là công cụ bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ quyền kinh tế quốc gia.
Từ vai trò tạo lập hạ tầng kỹ thuật, kinh tế nhà nước chuyển hóa một cách khách quan thành công cụ điều tiết vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển không chệch khỏi mục tiêu phục vụ lợi ích nhân dân và giữ vững độc lập, tự chủ. Yếu tố này cấu thành bản sắc riêng biệt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với các thể chế tự do truyền thống. Trong khi khu vực tư nhân ưu tiên tối đa hóa lợi nhuận, kinh tế nhà nước lại giữ chức năng cân bằng giữa tăng trưởng và an sinh xã hội, đồng thời là cơ chế phòng vệ chiến lược bảo vệ nền kinh tế trước các cú sốc và áp lực địa chính trị từ bên ngoài.
Sức mạnh điều tiết của kinh tế nhà nước không nằm ở những khẩu hiệu lý thuyết, mà được kết tinh bằng một thực lực tài chính đồ sộ. Thực tiễn cho thấy, với khối tài sản lên tới hơn 5,6 triệu tỷ đồng, khu vực kinh tế nhà nước đang đóng vai trò là trụ cột bảo đảm sự ổn định của toàn nền kinh tế. Dù chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn về số lượng trong tổng thể doanh nghiệp, khu vực này lại giữ vị trí nòng cốt khi đóng góp hơn 29% GDP và gánh vác khoảng 28% tổng thu ngân sách quốc gia. Sự đối lập giữa quy mô số lượng và giá trị đóng góp này chính là minh chứng sắc bén nhất bác bỏ mọi luận điệu quy kết doanh nghiệp nhà nước là lực lượng yếu kém hay gây cản trở thị trường.
Đứng vững trên nền tảng nguồn lực đó, Nhà nước khẳng định vai trò làm chủ các lĩnh vực huyết mạch. Tính đến năm 2026, toàn bộ hệ thống truyền tải điện 500kV và các trục năng lượng quốc gia đều do các doanh nghiệp nhà nước quản lý, vận hành như những thành tố hạ tầng thiết yếu cho cả hoạt động dân sinh lẫn sản xuất. Với định hướng tổng công suất nguồn điện toàn hệ thống đạt trên 150.000 MW vào năm 2030, việc kinh tế nhà nước nắm quyền chi phối các nguồn phát trọng yếu chính là lời khẳng định đanh thép: quốc gia sẽ không rơi vào thế bị động, lệ thuộc trước sự biến động giá cả hay những đứt gãy nguồn cung từ thị trường năng lượng toàn cầu.
Bên cạnh đó, kinh tế nhà nước còn khẳng định vai trò không thể thay thế trong lĩnh vực xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng. Thực tiễn giai đoạn 2024 - 2025 đã chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của khu vực doanh nghiệp quốc phòng nhà nước khi làm chủ công nghệ lõi trong sản xuất nhiều loại vũ khí, khí tài hiện đại, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao và tính chất lưỡng dụng sâu sắc. Các tập đoàn quốc phòng không chỉ đảm bảo trang bị kỹ thuật, nâng cao năng lực sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng vũ trang mà còn đóng vai trò dẫn dắt trong xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao, khẳng định năng lực tự lực, tự cường của dân tộc. Nhấn mạnh sứ mệnh đó, Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Công nghiệp quốc phòng, an ninh được đầu tư phát triển, có đột phá, bảo đảm tính lưỡng dụng, hiện đại”(7).
Khả năng thực thi định hướng xã hội còn được cụ thể hóa bằng việc cung ứng các dịch vụ thiết yếu tại những địa bàn chiến lược, biên giới, hải đảo - nơi mà chỉ số sinh lời thương mại thấp không bảo đảm động lực đầu tư cho khu vực tư nhân. Thể chế hóa trách nhiệm này, Nghị quyết số 79-NQ/TW chỉ rõ: “bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội”(8).
Kinh tế nhà nước chính là nền tảng bảo đảm chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia toàn diện. Mọi luận điệu đòi xóa bỏ vai trò của khu vực này thực chất là mưu đồ tước bỏ công cụ điều tiết vĩ mô và sức mạnh phòng thủ quan trọng nhất, đẩy nền kinh tế và độc lập dân tộc vào trạng thái bị động, lệ thuộc.
3. Một số đề xuất phát huy vai trò kinh tế nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Nhằm chủ động phản bác các luận điệu xuyên tạc, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng trên mặt trận kinh tế phải gắn liền với việc khẳng định năng lực thực chất của kinh tế nhà nước thông qua hiệu quả quản trị và tính minh bạch. Do đó việc triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp trọng tâm từ đổi mới tư duy đến cơ chế vận hành là yêu cầu cấp bách trong tình hình mới:
Một là, đẩy mạnh cơ cấu lại và hiện đại hóa hệ thống quản trị doanh nghiệp nhà nước.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quyết liệt chỉ đạo công tác tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, Đại hội XIV và Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng thẳng thắn nhìn nhận thực trạng: tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn còn chậm; năng lực quản trị tại một số đơn vị chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ; việc tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước và chủ sở hữu vốn có nơi còn lúng túng. Đây chính là những điểm yếu mà các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc để quy kết kinh tế nhà nước là lực lượng trì trệ.
Để khắc phục triệt để, giải pháp then chốt là hiện đại hóa hệ thống quản trị, xây dựng môi trường pháp lý để doanh nghiệp vận hành linh hoạt, tự chủ. Nghị quyết số 79-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV đều thống nhất định hướng phải quyết liệt đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, trọng tâm cốt lõi là nâng cao hiệu quả hoạt động thực chất, ứng dụng sâu rộng các nền tảng công nghệ tiên tiến và từng bước chuyển đổi mô hình quản trị tiệm cận với hệ thống chuẩn mực quốc tế.
Sự phối hợp giữa hai nội dung này cho thấy hướng đi đột phá: Nhà nước không hành chính hóa hoạt động kinh doanh mà tạo lập cơ chế để doanh nghiệp tự vận hành bằng năng lực nội sinh. Hiệu quả của tư duy quản trị hiện đại đã được minh chứng rõ nét: tính đến hết quý I/2026, khu vực doanh nghiệp nhà nước tiếp tục nắm giữ khoảng 70% tổng tài sản và chiếm tỷ trọng chi phối trong các ngành then chốt. Đặc biệt, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam năm 2025 đã thiết lập kỷ lục với doanh thu vượt mốc 1.000 nghìn tỷ đồng, đóng góp quyết định vào ngân sách và bảo đảm các chỉ số an toàn vĩ mô.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hiện đại hóa không chỉ là đổi mới mô hình tổ chức mà phải là cuộc chuyển đổi số toàn diện. Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và quản trị hiện đại vào sản xuất kinh doanh sẽ là minh chứng mạnh mẽ nhất về một khu vực kinh tế năng động. Khi doanh nghiệp nhà nước tiên phong trong chuyển đổi số, mọi định kiến về sự xơ cứng, bảo thủ do các thế lực thù địch thêu dệt sẽ tự động bị đập tan.
Việc hiện đại hóa quản trị không chỉ thúc đẩy tăng trưởng tài chính bền vững mà còn là bằng chứng thực tiễn khẳng định: khi được vận hành dựa trên quản trị số và tư duy khoa học, kinh tế nhà nước hoàn toàn đạt hiệu suất tối ưu. Đây là đòn phản công đanh thép bẻ gãy mọi luận điệu phủ nhận vai trò chủ đạo của khu vực này trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hai là, tăng cường giáo dục lý luận và định hướng tư tưởng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên phương diện tư tưởng, thực trạng hiện nay cho thấy một bộ phận cán bộ và Nhân dân vẫn còn nhận thức chưa đầy đủ về bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thiếu hụt về mặt lý luận này dẫn đến trạng thái dao động trước các luồng thông tin xuyên tạc, dễ rơi vào tư duy tư bản cực đoan hoặc hoài nghi về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Việc giáo dục lý luận chính trị đôi khi còn mang tính hình thức, chưa theo kịp những biến chuyển nhanh chóng của thực tiễn kinh tế thế giới.
Giải pháp cấp bách hiện nay là phải xác lập hệ thống nhận thức thống nhất trong toàn xã hội. Công tác giáo dục chính trị cần làm rõ bản chất tương hỗ, bổ trợ lẫn nhau giữa kinh tế nhà nước và các thành phần khác, thay vì nhìn nhận dưới góc độ đối đầu. Việc nhận thức đúng đắn vai trò chủ đạo, bảo đảm ổn định vĩ mô của kinh tế nhà nước theo định hướng của Đảng trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV chính là nền tảng bền vững nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng. Khẳng định yêu cầu này, Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ trọng tâm: “Quán triệt đầy đủ, sâu sắc trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội các quan điểm, chủ trương của Đảng về kinh tế nhà nước”(9).
Công tác tuyên truyền cần đi vào chiều sâu, sử dụng các cứ liệu khoa học để giải thích rõ: kinh tế nhà nước chính là công cụ trọng yếu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trước các rủi ro của cơ chế thị trường thuần túy. Bên cạnh các phương thức kinh điển, mặt trận thông tin cần chủ động vươn rộng và chiếm lĩnh không gian mạng. Việc khai thác tối đa ưu thế của hệ sinh thái truyền thông số chính là vũ khí sắc bén nhất để bẻ gãy kịp thời các luận điệu sai trái. Việc số hóa các cứ liệu khoa học, sử dụng infographic, video ngắn minh họa sinh động về đóng góp của doanh nghiệp nhà nước đối với ngân sách và an sinh xã hội sẽ giúp công chúng (đặc biệt là thanh niên) tiếp nhận thông tin một cách khách quan. Qua đó, trực tiếp hình thành năng lực tự nhận diện và chủ động đấu tranh trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Khi mỗi đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc rằng sự vững mạnh của kinh tế nhà nước gắn liền với chủ quyền quốc gia, các luận điệu xuyên tạc sẽ bị triệt tiêu khỏi đời sống chính trị.
Ba là, tối ưu hóa cơ chế kiểm soát, công khai hóa thông tin và xác định rõ trách nhiệm thực thi.
Thực trạng sai phạm tại một số doanh nghiệp nhà nước giai đoạn trước thường bắt nguồn từ sự thiếu minh bạch thông tin và lỗ hổng trong kiểm soát quyền lực. Điều này tạo dư địa cho lợi ích nhóm, gây thất thoát tài sản quốc gia và làm tổn hại uy tín khu vực kinh tế công. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra cơ chế giám sát còn lỏng lẻo, trách nhiệm giải trình của người đứng đầu chưa cao, dẫn đến sự nghi ngại trong dư luận.
Để bác bỏ luận điệu quy kết kinh tế nhà nước là nơi phát sinh các hành vi trục lợi và thất thoát nguồn lực, giải pháp đột phá là phải thực hiện minh bạch hóa toàn diện dữ liệu hoạt động theo các chuẩn mực quốc tế. Lộ trình đến năm 2030 xác lập mục tiêu 100% các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải công bố thông tin đầy đủ trên nền tảng số quốc gia; đồng thời kiên quyết đưa ít nhất 50% doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán. Việc niêm yết này không chỉ để huy động vốn mà là bước đột phá về quản trị, buộc doanh nghiệp phải đặt mình dưới sự giám sát đa chiều, khắt khe của thị trường và toàn xã hội. Cùng với đó, việc hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước sẽ cho phép theo dõi biến động vốn theo thời gian thực, triệt tiêu hoàn toàn không gian cho các hành vi trục lợi. Thể chế hóa yêu cầu này, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã xác định rõ nhiệm vụ: “Tăng cường công khai, minh bạch, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và đề cao trách nhiệm giải trình…”(10). Đồng thời, Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ và đột xuất; kiên quyết xử lý trì trệ, né tránh, đùn đẩy…”(11).
Khi cơ chế giám sát tường minh và trách nhiệm giải trình được thực thi nghiêm túc thông qua quy trình quản trị số hiện đại, sự tin tưởng của Nhân dân sẽ được củng cố. Đây chính là câu trả lời đanh thép nhất, chứng minh những hạn chế quản lý chỉ là hiện tượng cục bộ đang được quyết liệt xử lý, hoàn toàn không phải là bản chất của mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế phối hợp và liên kết giữa các thành phần kinh tế.
Suốt một giai đoạn dài, mối quan hệ tương tác giữa hệ thống kinh tế công và khu vực tư nhân vẫn thiếu tính gắn kết, chưa hình thành được những chuỗi giá trị đủ tầm cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Doanh nghiệp nhà nước đôi khi hoạt động khép kín, chưa phát huy hết vai trò thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng phát triển. Thực trạng này vô tình tạo ra cảm giác kinh tế nhà nước đang chiếm dụng không gian của tư nhân, tạo cớ cho các thế lực thù địch chia rẽ khối đại đoàn kết các thành phần kinh tế.
Để khẳng định tính chất dẫn dắt và kiến tạo, giải pháp đột phá là xây dựng các mô hình hợp tác đa phương thực chất, đặc biệt trong các dự án hạ tầng chiến lược quốc gia. Kinh tế nhà nước phải đóng vai trò là chủ thể tạo lập thị trường, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia sâu vào các công đoạn sản xuất kỹ thuật cao. Cụ thể, theo định hướng tại Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nhà nước tập trung thúc đẩy các tập đoàn lớn thực hiện vai trò hạt nhân để phấn đấu đưa tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP vào năm 2030, đồng thời hình thành ít nhất 5 - 10 chuỗi liên kết ngành xuyên suốt giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong các lĩnh vực công nghiệp nền tảng. Mối liên kết này được hiện thực hóa nhằm kiến tạo một hệ sinh thái kinh tế quốc gia tự chủ. Bám sát định hướng đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW chủ trương thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước chủ động rót vốn và tạo lập mạng lưới hợp tác sâu rộng với các thành phần kinh tế khác dọc theo chuỗi giá trị ngành hàng.
Mối quan hệ cộng sinh này là minh chứng sinh động nhất phản bác mọi luận điệu cho rằng kinh tế nhà nước kìm hãm tư nhân. Khi kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò nòng cốt, kéo theo sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế sẽ được nâng cao vượt bậc. Đây thực sự là nền móng kiên cố nhất để đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình, khẳng định thắng lợi những đích đến chiến lược mà Đảng ta đã xác lập.
Trải qua 40 năm đổi mới, thực tiễn sinh động của nền kinh tế Việt Nam đã chứng minh rằng kinh tế nhà nước không phải là lực lượng đối lập với cơ chế thị trường, mà trái lại, là nhân tố bảo đảm cho thị trường vận hành đúng quỹ đạo và mục tiêu quốc gia. Với vai trò chủ thể thiết lập nền tảng hạ tầng kỹ thuật huyết mạch và là cơ chế phòng vệ chiến lược trước các biến động địa chính trị, kinh tế nhà nước đã khẳng định vị thế là lực lượng vật chất không thể thay thế trong việc giữ vững chủ quyền và độc lập kinh tế.
Việc nhận diện và phản bác các luận điệu xuyên tạc về khu vực kinh tế này trong giai đoạn hiện nay không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ một thành phần kinh tế, mà chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lợi ích cốt lõi của Nhân dân. Những hạn chế đang được quyết liệt chấn chỉnh thông qua tiến trình hiện đại hóa và minh bạch hóa, nhằm tối ưu hóa hiệu suất nguồn lực quốc gia. Kiên định thực hiện thắng lợi Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 79-NQ/TW là con đường tất yếu để xây dựng một nền kinh tế tự lực, tự cường. Đây chính là cơ sở vững chắc để đất nước vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với vai trò nòng cốt dẫn dắt mọi thành phần kinh tế cùng đưa đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng./.
-------------------------------------
Ghi chú:
[1], 3, 4, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr.108, tr.118, tr.108, tr.53.
2, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr.30, tr.40.
5, 6, 8, 9, 10. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, tr.4, tr.3, tr.2, tr.3, tr.3.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo về tình hình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm huy động nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội, H.2024.
3. Bộ Tài chính, Báo cáo công khai tình hình thực hiện ngân sách nhà nước, H.2025.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I, II), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026.
5. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 04/9/2024 về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030.
6. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).
7. https://tapchicongthuong.vn/petrovietnam-thiet-lap-ky-luc-moi-ve-doanh-thu-nam-2025-378173.htm.
Thiếu tá, ThS Huỳnh Ngọc Lương Huyền - Trường Sĩ quan Lục quân 2
Tin tức cùng chuyên mục
Bài viết cùng tác giả