Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Một số định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030

Ngày đăng: 15/08/2026   10:18
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Giai đoạn 2021-2025, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tạo chuyển biến trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, thực tiễn cũng còn nhiều vấn đề đặt ra, nhất là kết cấu hạ tầng ở những địa bàn đặc biệt khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực, sinh kế và thu nhập của người dân, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, khả năng chống chịu trước thiên tai và biến đổi khí hậu. Bối cảnh phát triển mới, đặc biệt là việc tổ chức lại bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia, đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.

Theo Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội, ba chương trình gồm: Chương trình xây dựng nông thôn mới; Chương trình giảm nghèo bền vững; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được hợp nhất thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được thực hiện trong giai đoạn 2026-2035, trong đó giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030. Cách tiếp cận này tạo cơ sở để tích hợp nguồn lực, khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo trong đầu tư và nâng cao hiệu quả quản trị Chương trình.

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa

Tiếp tục giải quyết những vấn đề căn cốt của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Một trong những yêu cầu xuyên suốt trong giai đoạn 2026-2030 là tiếp tục tập trung nguồn lực giải quyết những điểm nghẽn căn bản đang cản trở quá trình phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Có thể khái quát thành nhóm vấn đề về hạ tầng, nguồn nhân lực, sinh kế và thu nhập, tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, giảm nghèo và khả năng chống chịu trước thiên tai, biến đổi khí hậu. Đây không phải những vấn đề mới, nhưng tính chất và yêu cầu giải quyết trong giai đoạn mới đã có sự thay đổi.

Nếu trong giai đoạn trước, đầu tư hạ tầng và hỗ trợ trực tiếp có vai trò quan trọng trong tạo nền tảng phát triển, thì giai đoạn 2026-2030 cần chuyển mạnh hơn sang cách tiếp cận lấy năng lực tự phát triển của người dân và cộng đồng làm trung tâm. Hạ tầng phải gắn với sinh kế; hỗ trợ sản xuất phải gắn với thị trường; đào tạo phải gắn với nhu cầu việc làm; giảm nghèo phải gắn với tạo sinh kế bền vững; bảo vệ rừng và môi trường phải gắn với tạo thu nhập cho cộng đồng.

Đây cũng là cơ sở để chuyển từ tư duy “hỗ trợ” sang “tạo cơ hội phát triển”, qua đó phát huy tốt hơn nội lực của người dân, cộng đồng và địa phương.

Tinh gọn nội dung, tích hợp nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị

Một điểm mới có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn 2026-2030 là việc tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia trong một cấu trúc tổng thể. Đây là bước đổi mới nhằm hạn chế tình trạng nhiều chương trình cùng hướng tới một địa bàn, một nhóm đối tượng nhưng có cơ chế quản lý, quy trình và nguồn lực khác nhau.

Việc tích hợp không đơn thuần là cộng gộp các nguồn vốn mà cần được thực hiện đồng bộ ở cả khâu xác định mục tiêu, địa bàn ưu tiên, thiết kế chính sách, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát.

Trong lĩnh vực phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc tinh gọn nội dung cần hướng tới một số nhóm nhiệm vụ có tính nền tảng: phát triển kết cấu hạ tầng; phát triển sản xuất và sinh kế; phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù; đồng thời bảo đảm công tác truyền thông, kiểm tra, giám sát và quản lý dữ liệu.

Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị chương trình theo hướng giảm tầng nấc trung gian, hạn chế thủ tục không cần thiết và dành nhiều nguồn lực hơn cho những nhiệm vụ trực tiếp tạo ra kết quả phát triển.

Đẩy mạnh phân cấp, phát huy vai trò chủ động của địa phương

Trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp đang được đổi mới theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, một trong những yêu cầu quan trọng của giai đoạn 2026-2030 là xác lập rõ hơn trách nhiệm và quyền chủ động của địa phương.

Phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” cần được cụ thể hóa bằng cơ chế phân bổ nguồn lực, xây dựng kế hoạch và đánh giá kết quả phù hợp. Trung ương tập trung xác định mục tiêu, tiêu chí, định mức, cơ chế chính sách, hướng dẫn và giám sát; địa phương căn cứ điều kiện thực tế để xác định thứ tự ưu tiên, lựa chọn mô hình và tổ chức thực hiện.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi điều kiện tự nhiên, dân cư, tập quán sản xuất, trình độ phát triển và nhu cầu đầu tư có sự khác biệt lớn giữa các địa bàn.

Phân cấp cũng phải đi đôi với tăng cường trách nhiệm giải trình. Khi địa phương được trao quyền chủ động lớn hơn trong lựa chọn danh mục và tổ chức thực hiện, hệ thống giám sát cần chuyển mạnh từ kiểm soát đầu vào sang theo dõi kết quả đầu ra, tác động và mức độ cải thiện đời sống của người dân.

Phát triển sinh kế theo hướng xanh, bản địa và gắn với chuỗi giá trị

Phát triển sinh kế bền vững cần được xác định là một trong những trụ cột của Chương trình giai đoạn 2026-2030. Trong đó, lợi thế về đất đai, khí hậu, rừng, đa dạng sinh học, văn hóa và tri thức bản địa cần được chuyển hóa thành lợi thế kinh tế.

Các địa phương cần ưu tiên những mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái và văn hóa của từng vùng; phát triển nông, lâm nghiệp bền vững, dược liệu, sản phẩm đặc sản, sản phẩm OCOP, kinh tế dưới tán rừng, du lịch nông thôn, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.

Tuy nhiên, hỗ trợ sản xuất chỉ thực sự tạo ra thay đổi khi được kết nối với thị trường. Vì vậy, cần chuyển từ hỗ trợ theo từng hộ sang thúc đẩy liên kết giữa hộ dân, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và các chủ thể phân phối. Cùng với đó là hỗ trợ tiêu chuẩn hóa, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, thương mại điện tử và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Việc phát triển các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế dựa vào tài nguyên bản địa cũng cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và giữ gìn bản sắc văn hóa.

Đặc biệt, cần quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ, thanh niên, người có uy tín và cộng đồng bản địa trong quản lý, tổ chức sản xuất và phát triển các mô hình kinh tế tại địa phương.

Ưu tiên hạ tầng thiết yếu, tăng khả năng thích ứng với thiên tai

Hạ tầng tiếp tục là điều kiện nền tảng để thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, yêu cầu trong giai đoạn mới không chỉ là tăng số lượng công trình mà phải nâng cao chất lượng, tính kết nối và khả năng chống chịu.

Đầu tư hạ tầng cần ưu tiên các công trình trực tiếp phục vụ đời sống và sản xuất của người dân như giao thông, trường học, cơ sở y tế, điện, nước sinh hoạt, thủy lợi, hạ tầng số và các công trình phục vụ sản xuất.

Đối với những địa bàn thường xuyên xảy ra lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt, hạn hán hoặc các loại hình thiên tai khác, yêu cầu thích ứng phải được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch, thiết kế và đầu tư. Không nên chỉ xử lý hậu quả sau thiên tai mà phải chuyển mạnh sang phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro.

Việc rà soát, xác định các khu vực có nguy cơ cao; xây dựng bản đồ rủi ro; phát triển hệ thống cảnh báo sớm; nâng cao kỹ năng phòng, chống thiên tai cho cộng đồng và chủ động phương án ổn định dân cư cần trở thành một bộ phận của chính sách phát triển vùng.

Đây là vấn đề càng có ý nghĩa trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tính bất định và mức độ cực đoan của một số hiện tượng thời tiết.

Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội

Nếu hạ tầng là nền tảng vật chất thì nguồn nhân lực là yếu tố quyết định khả năng phát triển bền vững của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Giai đoạn 2026-2030 Chính phủ sẽ tiếp tục ưu tiên giáo dục, đào tạo nghề, phát triển kỹ năng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ. Các chính sách đào tạo cần gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động, lợi thế kinh tế của địa phương và định hướng phát triển các ngành nghề mới.

Đối với giáo dục, sẽ quan tâm đầu tư hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; tăng cường hỗ trợ học sinh ở những địa bàn khó khăn, vùng biên giới, vùng có điều kiện đi lại đặc biệt khó khăn.

Đối với y tế, tiếp tục củng cố mạng lưới y tế cơ sở, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân ở vùng sâu, vùng xa.

Song song với nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc cần được coi là một bộ phận của quá trình phát triển. Vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc và chức việc tôn giáo cần tiếp tục được phát huy trong tuyên truyền, vận động nhân dân và gìn giữ các giá trị văn hóa cộng đồng.

Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh

Phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải đặt trong mối quan hệ hài hòa với bảo vệ tài nguyên và môi trường. Đây là khu vực có diện tích rừng lớn, đa dạng sinh học cao, đồng thời giữ vai trò quan trọng đối với an ninh nguồn nước và cân bằng sinh thái.

Do đó, các chính sách phát triển cần lồng ghép yêu cầu quản lý, sử dụng bền vững đất đai, tài nguyên nước, rừng, đa dạng sinh học và cảnh quan tự nhiên. Những vấn đề thiết thực như đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, nước phục vụ sản xuất, xử lý chất thải, nước thải và chất thải chăn nuôi cần tiếp tục được ưu tiên giải quyết.

Cùng với đó, cần phát huy tốt hơn giá trị kinh tế của rừng thông qua bảo vệ và phát triển rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và các mô hình sinh kế dưới tán rừng phù hợp.

Việc nghiên cứu, thí điểm các cơ chế tạo nguồn thu mới từ tài nguyên rừng, trong đó có thị trường tín chỉ carbon, cần được thực hiện trên cơ sở quy định pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Không nên coi đây chỉ là một công cụ tài chính mà cần đặt trong tổng thể mục tiêu bảo vệ rừng và cải thiện sinh kế.

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và tổ chức thực hiện

Một yêu cầu quan trọng khác của giai đoạn 2026-2030 là chuẩn hóa và số hóa dữ liệu phục vụ quản lý vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Thực tế triển khai cho thấy chất lượng dữ liệu có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định đúng địa bàn, đúng đối tượng và đúng nhu cầu hỗ trợ. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về dân cư, điều kiện phát triển, mức độ nghèo, hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế, tài nguyên và các nhóm dân tộc có khó khăn đặc thù.

Việc Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng cơ sở dữ liệu về dân tộc và tôn giáo, đồng thời tổ chức để các địa phương cập nhật dữ liệu, là một bước quan trọng trong tiến trình số hóa công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Trên cơ sở đó, cần từng bước hình thành hệ thống dữ liệu liên thông phục vụ lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, theo dõi giải ngân, giám sát tiến độ và đánh giá kết quả thực hiện Chương trình. Chuyển đổi số vì vậy không chỉ là đầu tư phần mềm hay thiết bị, mà trước hết là đổi mới phương thức quản trị dựa trên dữ liệu.

Tăng cường phối hợp liên ngành, bảo đảm phát triển bền vững

Trong giai đoạn mới, sự phối hợp giữa các cơ quan trung ương và địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc Bộ Dân tộc và Tôn giáo và Bộ Nông nghiệp và Môi trường ký Chương trình phối hợp về phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 cho thấy yêu cầu phối hợp liên ngành đang được cụ thể hóa.

Theo đó, hai Bộ tập trung phối hợp trên các nhóm nhiệm vụ lớn: phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống người dân; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao năng lực phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai; đồng thời tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan.

Cách tiếp cận này cần được mở rộng thành cơ chế phối hợp thường xuyên giữa các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng. Mỗi chính sách, dự án đầu tư cần được xem xét trong mối quan hệ với các chính sách khác, tránh tình trạng đầu tư theo từng ngành, từng lĩnh vực mà thiếu tính liên kết tổng thể.

Để những định hướng nêu trên đi vào cuộc sống, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở quy mô nguồn lực mà còn ở chất lượng thể chế, năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành. Phân cấp phải đi đôi với trách nhiệm giải trình; tích hợp nguồn lực phải đi đôi với xác định rõ mục tiêu; đầu tư hạ tầng phải gắn với sinh kế; phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường; chuyển đổi số phải gắn với nâng cao chất lượng quản trị.

Quan trọng hơn, mọi chính sách và nguồn lực dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội phát triển và củng cố niềm tin của đồng bào vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Khi người dân và cộng đồng thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển, các nguồn lực đầu tư mới có khả năng tạo ra tác động lâu dài và bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035.

2. Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15.

3. Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030.

4. Chương trình phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Dân tộc và Tôn giáo về phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.

Hải Yến

Bài viết cùng tác giả