Tiếng Việt
Tiếng Việt Tiếng Anh

Xây dựng văn hóa biển - động lực đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong kỷ nguyên mới

Ngày đăng: 26/08/2026   20:40
Đọc bài viết
Mặc định Cỡ chữ
Tóm tắt: Trên cơ sở làm rõ vị trí, vai trò của văn hóa biển trong xây dựng quốc gia biển mạnh; phân tích giá trị văn hóa biển trong bồi đắp tình yêu quê hương, ý thức chủ quyền, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc và phát huy sức mạnh cộng đồng, bài viết đề xuất đẩy mạnh xây dựng văn hóa biển gắn với phát triển kinh tế biển bền vững, xây dựng con người, củng cố quốc phòng, an ninh, phát huy thế trận lòng dân, qua đó, tạo động lực nội sinh hiện thực hóa mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Bảo vệ chủ quyền biển, đảo; quốc gia biển mạnh; xây dựng văn hóa biển.

Abstract: By clarifying the position and role of maritime culture in building Vietnam into a strong maritime nation, this article analyzes the values of maritime culture in fostering patriotism, strengthening awareness of national sovereignty, promoting responsibility for safeguarding the Fatherland, and harnessing the strength of the community. The article proposes enhancing the development of maritime culture in conjunction with sustainable marine economic development, human development, the strengthening of national defense and security, and the promotion of the people’s security posture. These efforts are expected to generate endogenous momentum for realizing the goal of building Vietnam into a strong maritime nation in the new era.

Keywords: Protection of sovereignty over seas and islands; strong maritime nation; development of maritime culture.

Mở đầu

Biển, đảo Việt Nam gắn liền với chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, phát triển, cửa ngõ giao lưu quốc tế và bộ phận quan trọng cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết số 20-NQ/TW) xác định xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh cần phải phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn. Theo đó, văn hóa biển không chỉ là sự kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành qua lịch sử con người gắn bó, khai thác và bảo vệ biển, mà còn là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quan trọng của quốc gia biển. Đảng ta khẳng định phát triển văn hóa, con người là nền tảng; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho phát triển; khơi dậy khát vọng phát triển, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc(1).

Từ đó, xây dựng văn hóa biển phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn chặt với xây dựng con người Việt Nam, phát triển kinh tế biển xanh, bền vững, bảo vệ môi trường, củng cố thế trận lòng dân, quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thời kỳ mới. Đây là quá trình chuyển hóa các giá trị văn hóa biển thành động lực nội sinh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong kỷ nguyên mới.

1. Văn hóa biển là bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc, giữ vị trí nền tảng trong xây dựng quốc gia biển mạnh

Một là, văn hóa biển là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong quá trình con người gắn bó với biển. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người trong quá trình hoạt động thực tiễn không chỉ cải biến tự nhiên mà còn sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần, làm phong phú đời sống xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh vai trò của hoạt động sản xuất và lao động trong quá trình con người sáng tạo, phát triển chính mình(2). V.I.Lênin đặc biệt coi trọng nhiệm vụ tổ chức, phát triển văn hóa trong xây dựng xã hội mới, xem đó là một nội dung quan trọng của quá trình cải tạo xã hội(3). Kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(4). Vì vậy, văn hóa biển Việt Nam bao gồm hệ giá trị vật chất, tinh thần, lịch sử, xã hội, phong tục, tín ngưỡng, tri thức, kinh nghiệm và phương thức ứng xử được hình thành, lưu truyền, phát triển trong quá trình cộng đồng cư dân gắn bó, khai thác, làm chủ và bảo vệ biển. Đây là một bộ phận hữu cơ của văn hóa dân tộc, phản ánh bản lĩnh, bản sắc và sức sáng tạo của con người Việt Nam hướng ra biển. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển; tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 20-NQ/TW yêu cầu xây dựng văn hóa biển giàu bản sắc; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử, di sản biển, đảo và phát huy vai trò cộng đồng cư dân biển trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc(5).

Hai là, văn hóa biển kết tinh truyền thống yêu nước, bản lĩnh thích ứng và khát vọng chinh phục, làm chủ không gian biển của dân tộc. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, văn hóa không tồn tại biệt lập mà được hình thành, phát triển trong hoạt động thực tiễn của con người, trong quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên và xã hội; khẳng định, con người bằng hoạt động thực tiễn cải biến tự nhiên, đồng thời cải biến chính mình. V.I.Lênin nhấn mạnh rằng: Chúng ta phải biết kế thừa những giá trị văn hóa do nhân loại sáng tạo, làm giàu trí tuệ và phát triển văn hóa dân tộc(6). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, dân ta có truyền thống yêu nước, đó là truyền thống quý báu, truyền thống đó trở thành sức mạnh to lớn khi được tổ chức và phát huy thành hành động cách mạng và trở thành giá trị văn hóa. Văn hóa biển Việt Nam kết tinh lịch sử khai thác, thích ứng với điều kiện tự nhiên, mở mang giao thương, xác lập và thực thi chủ quyền, đồng thời hình thành bản lĩnh kiên cường, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn ra biển lớn. Trong kỷ nguyên mới, những giá trị ấy cần tiếp tục được kế thừa, bồi đắp thành ý thức làm chủ, trách nhiệm bảo vệ chủ quyền và sức mạnh phát triển biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW cụ thể hóa Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về khơi dậy truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, ý chí tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh; xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Ba là, phát huy giá trị văn hóa biển tạo nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng, đời sống xã hội và sự phát triển của con người gắn liền với hoạt động thực tiễn, trong đó, con người vừa cải biến tự nhiên, vừa sáng tạo và hoàn thiện chính mình và phải biết kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa do nhân loại sáng tạo, làm cơ sở xây dựng đời sống văn hóa mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi văn hóa là một mặt trận; “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”(7); văn hóa vì thế có vai trò trực tiếp trong xây dựng con người và phát triển xã hội. Do đó, phát huy văn hóa biển Việt Nam phải chuyển hóa các giá trị yêu nước, đoàn kết, bản lĩnh, sáng tạo, tự lực, tự cường và ý thức làm chủ biển thành động lực tinh thần thúc đẩy phát triển. Đây chính là sự cụ thể hóa quan điểm Đại hội XIV của Đảng về phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển. Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định rõ phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn và xây dựng văn hóa biển, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc(8).

2. Xây dựng văn hóa biển góp phần bồi đắp tình yêu biển, đảo, ý thức chủ quyền và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc

Thứ nhất, xây dựng văn hóa biển góp phần bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước, biển, đảo và niềm tự hào dân tộc sâu sắc. Tình cảm, ý thức và các giá trị tinh thần của con người được hình thành, củng cố trong đời sống xã hội và hoạt động thực tiễn. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, con người trong quá trình sản xuất và hoạt động thực tiễn vừa cải biến tự nhiên, vừa cải biến chính mình; từ đó, phải kế thừa có phê phán những thành tựu văn hóa của nhân loại để xây dựng nền văn hóa mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và truyền thống dân tộc, xem đó là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng; trong bất kỳ điều kiện nào, Người “cũng luôn chủ trương phát triển văn hóa”(9). Từ đó, xây dựng văn hóa biển phải làm cho những giá trị lịch sử, truyền thống đấu tranh, lao động, khai phá, giao thương và bảo vệ biển, đảo thấm sâu vào nhận thức, tình cảm của mỗi người Việt Nam; qua đó, bồi đắp tình yêu biển, đảo, niềm tự hào dân tộc và ý thức gắn bó máu thịt với không gian sinh tồn của Tổ quốc. Đại hội XIV của Đảng xác định khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc, phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Nghị quyết số 20-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh xây dựng văn hóa biển giàu bản sắc, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức làm chủ và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Thứ hai, xây dựng văn hóa biển nâng cao nhận thức, ý thức chủ quyền, trách nhiệm quản lý, khai thác và bảo vệ biển, đảo. Con người trong quá trình hoạt động thực tiễn không chỉ cải biến tự nhiên mà còn cải biến chính mình, hình thành những quan hệ và giá trị xã hội mới, đồng thời, tiếp thu, kế thừa những thành tựu văn hóa mà nhân loại đã tạo ra, biến tri thức và giá trị văn hóa thành sức mạnh để xây dựng xã hội mới. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong mối quan hệ thống nhất với quyền làm chủ của Nhân dân và trách nhiệm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng văn hóa biển phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, quân nhân, ngư dân và Nhân dân nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, giá trị chiến lược của biển, đảo; nắm vững pháp luật, nâng cao ý thức làm chủ, trách nhiệm quản lý, khai thác hợp lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường và chủ quyền biển, đảo; phát huy sức mạnh văn hóa, con người, thế trận lòng dân và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia; phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển gắn với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, xây dựng văn hóa biển khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý chí tự lực, tự cường và hành động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Con người trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử. V.I.Lênin nhấn mạnh vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, qua đó khẳng định sức mạnh xã hội chỉ được phát huy khi con người được tổ chức, giác ngộ và hành động tự giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao tinh thần tự lực, tự cường, khẳng định phải “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(10). Từ đó, xây dựng văn hóa biển phải chuyển hóa truyền thống yêu nước, ý thức chủ quyền, bản lĩnh vượt qua khó khăn và kinh nghiệm ứng xử với biển thành trách nhiệm tự giác của mỗi tổ chức, lực lượng và người dân trong quản lý, khai thác, bảo vệ biển, đảo. Qua đó, hình thành ý chí chủ động phòng ngừa, nhận diện và xử lý từ sớm các nguy cơ, không để bị động, bất ngờ; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trên biển; nâng cao nhận thức, phát huy sức mạnh cộng đồng và bảo đảm quốc phòng, an ninh biển, đảo trong xây dựng quốc gia biển mạnh.

3. Thực tiễn xây dựng văn hóa biển hiện nay đặt ra những yêu cầu mới trong phát triển bền vững đất nước

Một là, xây dựng văn hóa biển đã đạt những kết quả quan trọng, góp phần phát huy giá trị biển và sức mạnh con người Việt Nam. Thực tiễn những năm qua cho thấy, nhận thức của các cấp, các ngành và Nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của biển được nâng lên; công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử, di sản biển, đảo từng bước được quan tâm, gắn với phát triển du lịch, đời sống cộng đồng và bảo vệ chủ quyền. Nghị quyết số 20-NQ/TW khẳng định những kết quả nổi bật sau 08 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định yêu cầu phát huy vai trò cộng đồng cư dân ven biển, hải đảo và ngư dân là chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc từ hướng biển. Những kết quả đó góp phần khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức làm chủ biển, đảo, tinh thần tự lực, tự cường và trách nhiệm cộng đồng; từng bước chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh tinh thần phục vụ phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Đây là sự cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo tại Đại hội XIV của Đảng về khơi dậy truyền thống yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển; gắn phát triển văn hóa với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa(11).

Hai là, những hạn chế trong nhận thức, bảo tồn và phát huy văn hóa biển đang đặt ra nhiều vấn đề cần khắc phục. Bên cạnh những kết quả đạt được, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng ta khẳng định: Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển(12). Nghị quyết số 20-NQ/TW cũng thẳng thắn chỉ rõ: nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa biển ở một số cấp, ngành, địa phương và bộ phận Nhân dân chưa thật sự đầy đủ; việc nhận diện, bảo tồn, tư liệu hóa và phát huy các giá trị văn hóa biển còn thiếu đồng bộ, chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế của biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giá trị văn hóa biển chưa được khai thác, phát huy đầy đủ, đòi hỏi tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức xây dựng văn hóa biển trong giai đoạn mới; việc quản lý, khai thác và làm chủ không gian biển chưa đáp ứng yêu cầu(13). Một số giá trị truyền thống có nguy cơ mai một; sự gắn kết giữa bảo tồn di sản với giáo dục, du lịch, phát triển cộng đồng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo chưa thật chặt chẽ; nguồn lực đầu tư, đội ngũ chuyên môn và ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong bảo tồn văn hóa biển còn hạn chế. Những bất cập đó cho thấy văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh tương xứng với yêu cầu phát triển.

Ba là, yêu cầu mới về xây dựng văn hóa biển phải gắn chặt phát triển bền vững với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trong kỷ nguyên mới, xây dựng văn hóa biển không thể tách rời yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Văn hóa biển phải trở thành nền tảng hình thành nhận thức, tình cảm, trách nhiệm và hành vi ứng xử đúng đắn của con người đối với biển; khuyến khích khai thác hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, gìn giữ di sản và phát triển sinh kế bền vững. Đồng thời, phải làm sâu sắc ý thức chủ quyền, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý, khai thác và bảo vệ biển, đảo. Nghị quyết Đại hội XIV xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển; đồng thời gắn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Nghị quyết số 20-NQ/TW nhấn mạnh phát triển toàn diện văn hóa biển trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm của quốc gia; bảo đảm phát triển bền vững, giữ vững chủ quyền biển, đảo(14). Vì vậy, xây dựng văn hóa biển phải hướng tới hài hòa; phát triển để bảo vệ, bảo vệ để phát triển, tạo nền tảng tinh thần và sức mạnh xã hội cho mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

4. Đẩy mạnh xây dựng văn hóa biển gắn với phát triển kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền và củng cố quốc phòng, an ninh

Thứ nhất, xây dựng văn hóa biển gắn với phát triển kinh tế biển xanh, bền vững, khai thác hiệu quả và sử dụng hợp lý tài nguyên biển. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, lao động là quá trình con người tác động vào tự nhiên, thực hiện sự trao đổi vật chất giữa con người với tự nhiên; do đó, phát triển kinh tế phải gắn với điều kiện tự nhiên và khả năng tái tạo các nguồn lực. Vì thế, cần phải kế thừa, phát triển những giá trị văn hóa của nhân loại, làm cho văn hóa trở thành một bộ phận của sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Xây dựng văn hóa biển phải hình thành trong xã hội ý thức tôn trọng quy luật tự nhiên, trách nhiệm bảo vệ hệ sinh thái, tiết kiệm tài nguyên và ứng xử hài hòa với biển; khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và khai thác các tiềm năng biển theo hướng hiệu quả, lâu dài. Văn kiện Đại hội XIV xác định phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường là những định hướng quan trọng của mô hình phát triển mới. Vì vậy, văn hóa biển phải trở thành nền tảng điều chỉnh nhận thức và hành vi kinh tế, bảo đảm phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống cư dân biển, tạo sinh kế bền vững và góp phần xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Thứ hai, xây dựng văn hóa biển gắn với xây dựng con người biển có tri thức, trách nhiệm, bản lĩnh và năng lực làm chủ biển. Con người trong hoạt động thực tiễn vừa cải biến tự nhiên, vừa phát triển những năng lực của chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng con người, nhấn mạnh nhiệm vụ “trồng người”, đào tạo những con người vừa có phẩm chất, vừa có năng lực phục vụ đất nước. Người khẳng định: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà(15). Vì thế, xây dựng văn hóa biển phải hướng vào hình thành con người biển Việt Nam có tri thức khoa học, hiểu biết pháp luật và chủ quyền; có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, tài nguyên, môi trường biển và Tổ quốc; có bản lĩnh, ý chí tự lực, tự cường, khả năng thích ứng với điều kiện khắc nghiệt và năng lực làm chủ khoa học, công nghệ biển; biến văn hóa thành sức mạnh nội sinh; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Vì vậy, Nghị quyết số 20-NQ/TW tiếp tục đặt yêu cầu nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực và đời sống cư dân biển, tạo nền tảng con người cho quốc gia biển mạnh.

Thứ ba, xây dựng văn hóa biển gắn với củng cố thế trận lòng dân, tăng cường đoàn kết, đồng thuận và sức mạnh cộng đồng ven biển. Lịch sử xã hội là lịch sử hoạt động của con người trong những quan hệ xã hội nhất định; sức mạnh xã hội chỉ được phát huy thông qua sự liên kết và hoạt động thực tiễn của con người. V.I.Lênin nhấn mạnh vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, coi việc tổ chức, tập hợp và phát huy sức mạnh của nhân dân là điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi của cách mạng; Mặt trận dân tộc thống nhất phải tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước. Vì vậy, xây dựng văn hóa biển phải củng cố tình đoàn kết, tương trợ, niềm tin và trách nhiệm cộng đồng của cư dân ven biển, hải đảo và ngư dân; phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong bảo vệ môi trường, phát triển sinh kế, giữ gìn bản sắc và tham gia bảo vệ chủ quyền. Qua đó, tạo sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận về lợi ích, trách nhiệm và hành động, gắn sức mạnh cộng đồng với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân trên biển. Do đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định rõ yêu cầu phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vai trò trung tâm của Nhân dân; gắn chặt thế trận quốc phòng, an ninh trên biển với thế trận lòng dân ở ven biển, hải đảo.

Thứ tư, xây dựng văn hóa biển gắn với giáo dục ý thức chủ quyền, trách nhiệm bảo vệ biển, đảo và lợi ích quốc gia, dân tộc. Con người là chủ thể của hoạt động thực tiễn, chịu sự quy định của những quan hệ xã hội lịch sử cụ thể. V.I.Lênin nhấn mạnh phải nâng cao trình độ văn hóa, giác ngộ và tổ chức quần chúng để biến nhận thức thành hành động xã hội tự giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt độc lập, chủ quyền và lợi ích dân tộc ở vị trí thiêng liêng, gắn với trách nhiệm của toàn dân trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Do đó, xây dựng văn hóa biển phải làm cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, cư dân ven biển, hải đảo và các tầng lớp Nhân dân nhận thức sâu sắc biển, đảo là bộ phận thiêng liêng của Tổ quốc; hình thành ý thức tôn trọng pháp luật, chủ động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia - dân tộc trên biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định biển, đảo gắn liền với chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, đồng thời, yêu cầu phát huy văn hóa biển để khơi dậy ý thức làm chủ và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây cũng là sự cụ thể hóa quan điểm Đại hội XIV của Đảng về bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Thứ năm, xây dựng văn hóa biển gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh, chủ động ứng phó hiệu quả các thách thức trên biển. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra, xây dựng sức mạnh xã hội phải gắn với tổ chức và phát huy năng lực của con người, vì thế, cần phải kế thừa, phát triển những giá trị văn hóa, nâng cao trình độ giác ngộ và năng lực của quần chúng, biến văn hóa thành sức mạnh xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định độc lập, tự do là giá trị thiêng liêng, Người luôn nhấn mạnh phải huy động sức mạnh toàn dân để bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, xây dựng văn hóa biển phải bồi đắp ý thức quốc phòng, an ninh, tinh thần cảnh giác, bản lĩnh và khả năng ứng phó trước các nguy cơ truyền thống, phi truyền thống trên biển; nâng cao trách nhiệm của quân và dân, nhất là cư dân ven biển, hải đảo và ngư dân trong giữ gìn an ninh, trật tự, chủ quyền biển, đảo, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Theo đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW tiếp tục yêu cầu gắn phát triển quốc gia biển mạnh với nâng cao năng lực phòng thủ, bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.

5. Phát huy sức mạnh văn hóa biển tạo động lực nội sinh đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong kỷ nguyên mới

Một là, phát huy giá trị văn hóa biển góp phần khơi dậy khát vọng phát triển, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc trong kỷ nguyên mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần tự lực, tự cường; Người khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(16). Do đó, phát huy văn hóa biển phải khơi dậy trong mỗi người Việt Nam tình yêu biển, niềm tự hào dân tộc, khát vọng vươn ra biển lớn, ý chí làm chủ biển và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo. Đây chính là quá trình chuyển hóa các giá trị lịch sử, truyền thống và bản sắc văn hóa biển thành động lực tinh thần và sức mạnh hành động. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu này bằng mục tiêu xây dựng nền văn hóa biển giàu bản sắc, khơi dậy khát vọng vươn ra biển lớn, tạo nền tảng tinh thần cho Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Hai là, phát huy sức mạnh văn hóa biển gắn với xây dựng con người Việt Nam thời đại mới có tri thức, bản lĩnh và trách nhiệm. V.I.Lênin khẳng định, phải nâng cao trình độ văn hóa, tri thức của Nhân dân, bởi đó là điều kiện quan trọng để xây dựng xã hội mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết(17). Vì thế, phát huy sức mạnh văn hóa biển phải hướng trực tiếp vào xây dựng con người Việt Nam thời đại mới có tri thức khoa học, năng lực số, hiểu biết pháp luật và tri thức biển; có bản lĩnh chính trị, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến và tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc, cộng đồng, môi trường biển. Văn kiện Đại hội XIV xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng; yêu cầu phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển; coi trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài. Theo đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính của quốc gia biển mạnh; phát triển toàn diện văn hóa biển thành nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định phải hình thành con người biển Việt Nam hiện đại - có tri thức, bản lĩnh, trách nhiệm và năng lực làm chủ biển; tạo nền tảng cho mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Ba là, phát huy sức mạnh văn hóa biển, huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế biển bền vững. Phát huy sức mạnh văn hóa biển phải tạo môi trường xã hội khuyến khích sáng tạo, tôn trọng tri thức, đề cao trách nhiệm cộng đồng, huy động hiệu quả nguồn lực Nhà nước, doanh nghiệp, người dân, các nhà khoa học và cộng đồng cư dân biển vào phát triển kinh tế biển. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính; yêu cầu phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, khơi thông và giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển. Theo đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW nhấn mạnh phát huy vai trò của Nhân dân, doanh nghiệp, huy động sức mạnh tổng hợp toàn xã hội; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực biển để nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế biển. Qua đó, văn hóa biển thực sự trở thành nguồn lực nội sinh thúc đẩy sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội và phát triển kinh tế biển xanh, bền vững, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Bốn là, phát huy sức mạnh văn hóa biển góp phần xây dựng thế trận lòng dân, tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền. V.I.Lênin đặc biệt coi trọng việc tổ chức, giác ngộ và phát huy sức mạnh của quần chúng, biến sức mạnh nhân dân thành lực lượng thực tiễn của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi của cách mạng, trong đó Nhân dân là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, phát huy sức mạnh văn hóa biển phải làm cho tình yêu biển, đảo, ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết và trách nhiệm công dân trở thành sức mạnh tự giác của cư dân ven biển, hải đảo, ngư dân và toàn xã hội; qua đó củng cố thế trận lòng dân, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định phát huy văn hóa biển, vai trò của cộng đồng cư dân ven biển, hải đảo; đồng thời yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên biển gắn chặt với thế trận lòng dân. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng nhấn mạnh phát huy sức mạnh con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Năm là, phát huy sức mạnh văn hóa biển tạo động lực nội sinh nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt sức mạnh tinh thần, lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong mối quan hệ thống nhất với nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, xây dựng quốc gia biển mạnh, phát huy văn hóa biển phải chuyển hóa các giá trị yêu nước, bản lĩnh, sáng tạo, đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn ra biển lớn thành động lực nội sinh của phát triển; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ; khơi dậy khát vọng phát triển, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và phát huy thế trận lòng dân; xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược lâu dài; phát triển văn hóa biển giàu bản sắc, cộng đồng cư dân biển giàu mạnh, kinh tế biển hiện đại, khoa học - công nghệ tiên tiến và quốc phòng, an ninh biển, đảo vững chắc. Vì vậy, phát huy sức mạnh văn hóa biển phải trở thành quá trình thống nhất giữa xây dựng con người, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng - an ninh và bảo vệ chủ quyền, qua đó biến sức mạnh tinh thần thành năng lực thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2030, tầm nhìn 2045.

Xây dựng văn hóa biển là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ chiến lược, là giải pháp quan trọng để phát huy tiềm năng, lợi thế biển, củng cố sức mạnh tổng hợp và xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới. Thực tiễn cho thấy, văn hóa biển không chỉ là sự kết tinh những giá trị vật chất, tinh thần được hình thành trong quá trình dân tộc gắn bó, khai thác và bảo vệ biển, mà còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và nền tảng tinh thần thúc đẩy phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho phát triển; khơi dậy truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, ý chí tự lực, tự cường. Cần chuyển mạnh từ nhận thức, bảo tồn sang phát huy giá trị văn hóa biển, gắn xây dựng văn hóa với xây dựng con người biển có tri thức, bản lĩnh, trách nhiệm; phát triển kinh tế biển xanh, bền vững; bảo vệ môi trường; củng cố thế trận lòng dân, quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Xây dựng quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; đồng thời nhấn mạnh phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn, gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Vì vậy, xây dựng văn hóa biển phải trở thành quá trình thống nhất giữa xây dựng con người, phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền, củng cố quốc phòng - an ninh và phát triển bền vững; biến giá trị văn hóa thành sức mạnh vật chất, biến khát vọng thành hành động, tạo động lực nội sinh mạnh mẽ để Việt Nam giàu từ biển, mạnh từ biển, phát triển bền vững từ biển, vững bước hiện thực hóa mục tiêu quốc gia biển mạnh vào năm 2030, tầm nhìn năm 2045./.

----------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

(1) Xem: xaydungchinhsach.chinhphu.vn.

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, H.1995, tr.11-12.

(3), (6) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 2005, tr.361, tr.361 - 362.

(4), (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.458, tr.596.

(5), (8), (11), (13), (14) Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

(7), (9)  Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.XXV.

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.65.

(15) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.528.

(16), (17) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.131, tr.622.

PGS.TS Dương Quang Hiển - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Bài viết cùng tác giả